Môi trường và ngoại cảnh có ý nghĩa lớn trong sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa, đặc biệt là các nền văn hóa thời kỳ Tiền Sơ sử khi con người còn phụ thuộc nhiều vào môi trường tự nhiên. Những thách thức từ môi trường tự nhiên buộc con người phải tìm cách ứng phó, thích nghi. Sự thích nghi, ứng phó đó tạo nên sự thay đổi về diện mạo văn hóa ở từng cộng đồng người trên từng nền cảnh sinh thái khác nhau.
Hình 1. Đặc điểm cảnh quan khu vực Gò Bông (Nguồn: Google earth)
Từ luận điểm thách
thức và ứng phó, bài viết này khảo cứu lại sự chuyển dịch địa bàn cư trú của
các cư dân văn hóa Phùng Nguyên bằng việc xem xét vị trí và xu thế phân bố của
các di tích trong mối liên hệ lịch đại. Từ đó cố gắng làm rõ sự chuyển biến về
môi trường và tác động của sự chuyển biến đó đối với đời sống các cư dân Tiền -
Sơ sử. Đồng thời thử phục dựng lại môi trường cổ dựa trên các tài liệu của các
nhà nghiên cứu đi trước để kiến giải quá trình thích nghi của các cư dân văn
hóa Phùng Nguyên ở châu thổ sông Hồng.
1. Dữ liệu từ các di
tích khảo cổ
Nguồn tư liệu đầu tiên
cho nghiên cứu này là số liệu từ các di tích khảo cổ, trong đó bao gồm cảnh
quan, niên đại của di tích để từ đó phân tích quá trình chuyển biến về địa bàn
phân bố theo thời gian. Văn hóa Phùng Nguyên là một văn hóa khảo cổ được các
nhà khảo cổ học Việt Nam phát hiện và xác lập, từ khi phát hiện cho đến nay đã
trải qua 60 năm phát hiện và nghiên cứu. Nội hàm của văn hóa Phùng Nguyên về cơ
bản đã được làm rõ. Các nhà nghiên cứu đã xác lập 3 giai đoạn phát triển của
văn hóa Phùng Nguyên đó là giai đoạn Phùng Nguyên sớm, giai đoạn Phùng Nguyên
cổ điển và giai đoạn Phùng Nguyên muộn, nghiên cứu này sử dụng cách phân chia
ba giai đoạn như trên và kế thừa việc phân chia các di tích vào các giai đoạn
phát triển của các nhà nghiên cứu đi trước.
- Các di tích có niên
đại sớm của văn hóa Phùng Nguyên
Các di tích
thuộc giai đoạn Phùng Nguyên sớm phát hiện không nhiều, cho đến nay có một số
di tích được xếp vào giai đoạn sớm của văn hóa Phùng Nguyên bao gồm: Gò Bông,
Đồng Chỗ, Gò Hện, Thành Dền, Xóm Rền (Hán Văn Khẩn 2005).
Di tích Gò Bông, thuộc
xã Thượng Nông, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ, phân bố trên một quả đồi cao lớn,
vị trí phát hiện tầng văn hóa cao hơn so với xung quang khoảng 3 - 8m, điểm cao
nhất từ 13 - 15m, cao hơn so với mực nước biển 21m, xung quanh di tích là một
khu vực phân bố dày đặc các gò đồi cao san sát nhau. Di tích nằm ở khu vực địa
hình chuyển tiếp giữa khu vực đồi gò và đồng bằng. Đây là một di tích có một
tầng văn hóa dày, thuần nhất, di vật đá đặc trưng bởi rìu bôn tứ giác có kích
thước nhỏ, đồ gốm đa dạng phong phú đặc biệt có sự xuất hiện của gốm xốp và các
đồ gốm cao cấp được khảm thêm chất bột trắng ở rãnh hoa văn. Gò Bông có những
đặc điểm sớm hơn cả Xóm Rền và Đồng Chỗ.
Di tích Gò Hện, thuộc
thôn Nhuận Trạch, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, Hà Nội, phân bố trên một quả đồi
cao hơn mặt ruộng xung quanh từ 2 - 5m. Xung quanh Gò Hện là một hệ thống các
gò lớn nhỏ hình bát úp nối tiếp nhau. Các cuộc khai quật và nghiên cứu ở đây
cho thấy Gò Hện là một di tích có một tầng văn hóa, nhưng bị xáo trộn một phần,
trong tầng văn hóa không phát hiện các dạng di tích đặc biệt. Đồ đá đồ gốm đều
mang đặc trưng của văn hóa Phùng Nguyên có nhiều nét tương đồng với Gò Bông.
Hình 2. Đặc điểm cảnh quan khu vực Gò Hện (Nguồn: Google earth)
Di tích Đồng Chỗ, nằm
trên một khu đất cao thuộc xã Phú Phương, huyện Ba Vì, Hà Nội, được nghiên cứu
từ những năm 1971 - 1973, tầng văn hóa thuần nhất, dày khoảng 70cm. Những người
khai quật cho rằng Đồng Chỗ giống Gò Hện. Do đó, Đồng Chỗ được xếp vào giai
đoạn sớm của văn hóa Phùng Nguyên.
Di tích Xóm Rền, thuộc
xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, đây là một di tích đặc biệt quan
trọng trong nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam với địa tầng dày, di vật đặc sắc và
phong phú. Xóm Rền có tầng văn hóa dày trên dưới 2m, là một di tích tiêu biểu
của văn hóa Phùng Nguyên với hai giai đoạn phát triển liên tục là Phùng nguyên
sớm và Phùng Nguyên cổ điển. Trong đó ở giai đoạn sớm của Xóm Rền có sự xuất
hiện của các loại hình đồ gốm cao cấp có chất bột trắng giống với Gò Bông.
Hình 3. Đặc điểm cảnh quan khu vực Xóm Rền (Nguồn: Google earth)
Các di tích khảo cổ
học kể trên về cơ bản có những đặc điểm khá tương đồng về địa tầng, di tích, di
vật để có thể xếp vào giai đoạn sớm của văn hóa Phùng Nguyên. Những đặc điểm đó
là phổ biến các công cụ sản xuất bằng đá có kích thước vừa và nhỏ, chất liệu
phổ biến là đá ngọc, spilit... Đồ gốm có những đặc điểm như có phủ chất bột
trắng, chất liệu gốm mịn, phổ biến hoa văn khắc vạch trên nền thừng, hoa văn
khắc vạch khá phóng khoáng và đôi khi tùy tiện.
Hình 4. Đặc điểm cảnh quan khu vực Phùng Nguyên (Nguồn: Google earth)
Có thể thấy có một đặc điểm chung về môi trường cảnh quan xung quanh các di
tích này là: phân bố trên các khu gò cao, khá gần các con sông lớn, xung
quanh di tích là các đồi gò hình bát úp phân bố liên tiếp, nối liền với nhau,
dưới chân gò là những khoảng đất trũng bằng phẳng. Như vậy, ở giai đoạn sớm,
môi trường sinh thái mà các cư dân phải thích nghi đó là môi trường sinh thái
đồi gò. Các đồi gò gần các sông lớn và khi lũ lên xung quanh thường bị ngập lụt
và các gò nổi lên như một ốc đảo.
- Các di tích thuộc giai đoạn Phùng Nguyên cổ điển
Các di tích giai đoạn này có sự tăng lên về số lượng cũng như mở rộng khu vực phân
bố. Trong số đó, có thể kể đến như Phùng Nguyên, Khu Đường, Gò Đồng Xấu, Xóm
Rền (lớp trên), An Đạo, Gò Chùa, Thọ Sơn, Ô Rô, Đồi Giàm, Đôn Nhân, Đồng Gai...
Dưới đây xin điểm lại một số di tích tiêu biểu cho giai đoạn này.
Di tích Phùng Nguyên, thuộc xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Đây là di
tích được khai quật với diện tích lớn nhất từ trước đến nay của văn hóa Phùng
Nguyên. Tổng diện tích khai quật là hơn 4.000m2. Kết quả khai quật
cho thấy đây là di tích có một tầng văn hóa thuần nhất, tầng văn hóa mỏng. Từ
bề mặt sinh thổ có rất nhiều các hố/lỗ đất đen có kích thước khác nhau phân bố
dày đặc, trong đó có những hố đất đen hình vuông/hình chữ nhật với vách thẳng
đứng ăn sâu xuống sinh thổ. Di tích Phùng Nguyên nằm trên nền phù sa cổ với
thềm phù sa rộng lớn. Xung quanh di tích là những cánh đồng rộng lớn, và các
đồi gò thấp. Bản thân di tích Phùng Nguyên cũng nằm trên hai quả gò thấp có tên
là Gò Ếch và gò Nhà Giã, nhưng cao độ của gò này so với xung quanh là không
đáng kể.
Hình 5. Đặc điểm cảnh quan khu vực Khu Đường (Nguồn: Google earth)
Di tích Khu Đường, thuộc xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, đã được
khai quật nhiều lần, chủ yếu bởi Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (trước đây
là Đại học Tổng hợp Hà Nội). Kết quả khai quật tại Khu Đường cho thấy, đây là
một di tích có một tầng văn hóa mỏng, có nhiều hố đất đen, trong đó có những hố
đất đen hình vuông/chữ nhật có vách thẳng đứng ăn sâu xuống sinh thổ. Về đặc
điểm địa hình, môi trường cảnh quan, Khu Đường khá giống với Phùng Nguyên, là
một di tích nằm trên phù sa cổ, bao quanh bởi cánh đồng rộng lớn.
Di tích Nghĩa Lập,
thuộc xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trên một gò đất
thấp, cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 1 - 1,5m. Là một di tích có một tầng
văn hóa mỏng, sinh thổ có nhiều hố đất đen đa dạng về kích thước và có những hố
đất đen vuông vắn, vách thẳng đứng.
Có thể thấy các di tích được xếp vào giai đoạn Phùng Nguyên cổ điển, ngoài các
di tích tiếp tục phát triển từ giai đoạn sớm thì các di tích mới của giai đoạn
này đã bắt đầu lan rộng theo dòng chảy các con sông và chiếm lĩnh các khu vực
đất đai có địa hình ít đồi núi và thấp hơn, phân bố gần với các con sông hơn ở
giai đoạn trước. Địa hình của các di tích giai đoạn này là đồi gò thấp - đồng
bằng. Các yếu tố mới về đồ gốm, đồ đá được hình thành, đặc biệt là sự xuất hiện
của nha chương - một loại hình di vật đặc sắc của văn hóa Phùng Nguyên.
- Các di tích thuộc
giai đoạn Phùng Nguyên muộn.
Hình 6. Đặc điểm cảnh quan khu vực Lũng Hòa (Nguồn: Google earth)
Số lượng di tích giai
đoạn này được phát hiện khá nhiều, tiêu biểu có thể kể đến như di tích Lũng
Hòa, di tích Đồng Đậu (lớp dưới), Đình Tràng (lớp dưới), Đồi Đồng Dâu (lớp
dưới), Gò Diễn, Gót Rẽ, Chùa Gio, Phượng Hoàng, Bãi Mèn, Đình Chiền, Tiên Hội,
Xuân Kiều… Đến giai đoạn này, về đồ gốm có sự biến đổi so với giai đoạn trước,
loại gốm rất mịn, phong cách trang trí hoa văn phóng khoáng, hoa văn khắc vạch
trên nền thừng gần như mất hẳn; gốm tương đối mịn có hoa văn với bố cục chặt
chẽ, quy chuẩn xuất hiện (Hán Văn Khẩn 2005). Dưới đây xin cung cấp thông tin
về một số di tích tiêu biểu.
Di tích Lũng Hòa,
thuộc xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, là di tích có một tầng văn
hóa mỏng và có nhiều hố đất đen lớn đào sâu xuống sinh thổ. Những đặc trưng của
di tích khiến Lũng Hòa được chọn để đặt tên cho giai đoạn muộn của văn hóa
Phùng Nguyên. Ở đây, bên cạnh những đồ gốm đặc trưng cho văn hóa Phùng Nguyên,
đã bắt đầu có những yếu tố mới mà sau này phát triển nở rộ ở văn hóa Đồng Đậu.
Về cảnh quan cư trú, di tích Lũng Hòa nằm trên một gò thấp, diện tích bề mặt gò
lớn, nằm ngay bên cạnh sông Phan, rất thích hợp cho việc canh tác nông nghiệp
lúa nước.
Hình 7. Đặc điểm cảnh quan khu vực Đồng Đậu - Gò Chùa Biện Sơn (Nguồn: Google earth)
Di tích Đồng Đậu có nhiều lớp văn hóa, trong đó có lớp sớm mang đặc trưng kế
thừa từ văn hóa Phùng Nguyên và có những đặc điểm tương đồng với di tích Lũng
Hòa, do đó các nhà nghiên cứu xếp lớp này của di tích Đồng Đậu vào văn hóa
Phùng Nguyên muộn, tương đương với Lũng Hòa. Trong lớp sớm của di chỉ Đồng Đậu
cũng có nhiều hố đất đen vuông vắn, cạnh thẳng đứng được đào sâu xuống sinh
thổ. Về cảnh quan, Đồng Đậu là một khu gò có diện tích lớn, xung quanh có những
gò nhỏ và đồng bằng rộng, ngày nay là những cánh đồng lúa.
Hình 8. Đặc điểm cảnh quan khu vực Đình Tràng (Nguồn: Google earth)
Di tích Đình Tràng,
thuộc xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội. Là di tích có nhiều tầng văn hóa phát
triển liên tục từ Phùng Nguyên cho đến Đông Sơn, trong đó, lớp sớm của di tích
này thuộc giai đoạn Phùng Nguyên muộn. Cùng với Đồng Đậu, Đình Tràng là minh
chứng cho tính phát triển liên tục của các di tích thời đại Kim khí ở châu thổ
Bắc Bộ. Đình Tràng nằm ở khu vực xung quanh là những cánh đồng lúa trũng thấp.
Di tích Văn Điển, nằm trong khu nghĩa trang Văn Điển, thuộc huyện Thanh Trì, Hà
Nội, đây có thể xem là di tích xa nhất của văn hóa Phùng Nguyên về phía
hạ lưu sông Hồng mà khảo cổ học Việt Nam phát hiện được cho đến nay. Cùng với
Triều Khúc, Văn Điển là những di tích phân bố ở khu vực trũng, thấp của Hà Nội.
Về tổng thể, các di tích thuộc giai đoạn Phùng Nguyên muộn có chiều hướng tiến
về phía hạ châu thổ, các di tích phần lớn nằm ở khu vực có đồng bằng rộng lớn
bao quanh.
Phân tích đặc điểm các di tích theo giai đoạn phát triển của văn hóa Phùng
Nguyên có thể tổng quát lại như bảng dưới đây (Bảng 1):
Bảng
1. Đặc điểm di
tích/di vật theo giai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên
|
Giai
đoạn
|
Di
tích
|
Cảnh
quan
|
Di
tích/di vật
|
|
Phùng Nguyên sớm
|
Gò Bông
|
Đồi cao
|
Đồ đá, đồ gốm, rỉ
đồng
|
|
Đồng Chỗ
|
Đồi cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Gò Hện
|
Đồi vừa
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
An Đạo
|
Đồi cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Thành Dền
|
Đồi cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Xóm Rền (Lớp sớm)
|
Đồi cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Phùng Nguyên cổ điển
(Giai đoạn Phùng
Nguyên)
|
Phùng Nguyên
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, nha
chương, hố đất đen
|
|
Khu Đường
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, qua
đá, hố đất đen
|
|
Gò Đồng Sấu
|
Đồi cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Xóm Rền (Lớp muộn)
|
Đồi cao
|
Đồ đá, đồ gốm, nha
chương
|
|
Gò Chùa
|
Đồi vừa
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Thọ Sơn
|
Đồi vừa
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Ô Rô
|
Đồi vừa
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Đồi Giàm
|
Đồi vừa
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Đôn Nhân
|
Đồi thấp
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Đồng Gai
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Nghĩa Lập
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, hố
đất đen
|
|
Phùng Nguyên muộn (Giai đoạn Lũng Hòa)
|
Lũng Hòa
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, qua
đá, hố đất đen
|
|
Gò Hội
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, hố
đất đen
|
|
Đồng Đậu (Lớp sớm)
|
Đồi thấp
|
Đồ đá, đồ gốm, gạo
cháy
|
|
Gò Diễn
|
Đồi cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Gót Rẽ
|
Đồi thấp
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Chùa Gio
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, hố
đất đen
|
|
Phượng Hoàng
|
Núi đá giữa đồng bằng
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Bãi Mèn
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Đình Chiền
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, hố
đất đen
|
|
Tiên Hội
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, hố
đất đen
|
|
Xuân Kiều
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, gạo
cháy
|
|
Đình Tràng (lớp
sớm)
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Gò Cây Táo
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Văn Điển
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm
|
|
Đồng Vông
|
Đồng cao
|
Đồ đá, đồ gốm, gạo
cháy
|
Qua thống kê, phân
tích trên, có thể nhận thấy một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, dù không
toàn bộ nhưng có thể nhận thấy một xu hướng dịch chuyển về địa bàn cư trú và
cảnh quan sinh thái, từ thượng châu thổ dịch dần về phía hạ châu thổ sông Hồng.
Về địa hình, cảnh quan khu vực cư trú, có sự chuyển dần từ đồi gò cao sang đồi
gò thấp - đồng bằng và sau cùng là chiếm lĩnh khu vực đồng bằng.
Thứ hai, có sự tăng
lên về số lượng di tích và mở rộng khu vực phân bố qua các giai đoạn phát
triển. Từ chỉ có số ít các di tích có niên đại sớm phân bố rải rác ở các đồi gò
cao, đến giai đoạn giữa mở rộng ở khu vực trung du thượng châu thổ, đến giai
đoạn muộn đã tiến xuống chiếm lĩnh khu vực đồng bằng trũng thấp.
Thứ ba, có sự xuất
hiện của những yếu tố mới trong nội hàm văn hóa. Bên cạnh những loại hình di
tích/di vật thường thấy thì theo tiến trình phát triển có những biến thái đáng
ghi nhận. Ví như, ở giai đoạn Phùng Nguyên cổ điển xuất hiện nha chương đá (Xóm
Rền, Phùng Nguyên), giai đoạn muộn xuất hiện qua đá (Khu Đường, Lũng Hòa, Vườn
Chuối). Về di tích, các hố đất đen hình vuông, hình chữ nhật có vách thẳng đứng
chủ yếu xuất hiện trong các di tích Phùng Nguyên muộn, và cũng trong giai đoạn
này, có nhiều di tích tìm được cả những hạt gạo cháy. Sự xuất hiện của những
hạt gạo cùng với cảnh quan của di tích cho phép chúng ta suy đoán về sự phát
triển đáng kể của nghề nông trồng lúa nước ở châu thổ sông Hồng.
Hình 9. Phân bố các di tích văn hóa Phùng Nguyên (Nguồn: Google earth)
Chú thích: 1- Xóm Rền, 2-An Đạo, 3-Gò Sành, 4-Gò
Dạ, 5-Gò Ghệ, 6-Gò Thờ, 7-Gò Đồng Sấu, 8-Đồi Giàm, 9-Gò Chùa Cao, 10-Thành Dền
(Cao Xá), 11-Gò Miếu, 12-Phùng Nguyên, 14- Xóm Kiếu, 15-Gót Rẽ, 16- Gò Mả
Nguộn, 17-Khu Đường, 18-Gò Diễn, 19-Gò Chùa (Tĩnh Cương), 21-Gò Chè, 22-Thọ
Sơn, 23- Gò Chùa (Hương Nộn), 24-Hồng Đà, 25-Gò Bông, 26-Ô Rô, 27-Gò Cháy,
29-Gò Hội, 30-Gò Đặng, 31-Gò Sỏi, 32-Đại Đình, 33- Nghĩa Lập, 34-Gò Đuông,
35-Lũng Hòa, 36-Gò Mát, 37-Gò Đồng Củ, 38-Đồng Hương, 39-Ma Cả, 40-Gò Chùa Biện
Sơn, 41-Đồng Đậu, 42-Gò Mả Hòn, 43-Quán Đôi, 44-Đồng (Gò) Gai, 45-Gò Ngành,
46-Tháp Miếu, 47-Núi Xây, 48-Gò Hện, 49-Đồng Chỗ, 50-Đồi Đồng Dâu, 52-Phượng
Hoàng, 53-Kim Ngọc, 54- Vườn Chuối, 55-Chùa Gio, 56-Đàn Xã Tắc, 57-Gò Cây Táo,
58-Văn Điển, 59-Tiên Hội, 60-Bãi Mèn, 61-Đồng Vông, 62-Đình Tràng, 63-Xuân
Kiều, 64-Đình Chiền, 65-Phù Lưu, 66-Bãi Tự, 67-Thùng Lò, 68-Lũng Sơn, 69-Chùa
Lái, 70-Đồng Bạch, 71-Gò Non Sấu.
2. Dữ liệu cổ địa chất
Cùng với những nghiên
cứu khảo cổ học, các nghiên cứu về địa chất cổ đã chỉ ra nhiều bằng chứng quan
trọng trong việc nhận thức quá trình hình thành các vùng đất cổ. Dựa vào những
bằng chứng địa chất học, Hoàng Ngọc Kỷ đã chứng minh có một đợt biển tiến đột
biến, một tai biến địa chất vào giai đoạn cuối của biển tiến Hải Hưng, có niên
đại gần như trùng khớp với niên đại tồn tại của văn hóa Phùng Nguyên. Phát hiện
này căn cứ vào thực vật và đống vỏ hàu lớn có niên đại 5680 đến 5550 năm trước
được phát hiện ở Ba Thê (An Giang) và Quán Hầu ở Văn Lâm (Hưng Yên), đều bị
chôn vùi dưới lớp sét biển và dưới vết mài mòn bởi sóng biển hình chữ V nằm
ngang trên vách đá phát hiện dọc theo bờ biển Việt Nam ở độ cao +3,5m. Bằng
chứng rõ ràng nhất là trong mặt cắt địa tầng địa chất được nghiên cứu vào năm
1977 trong một hố khai thác sét sản xuất gạch ngói ở Gia Lộc, Hải Dương, các
nhà nghiên cứu địa chất đã phát hiện thân cây dừa nước bị chôn vùi tại chỗ còn
nguyên vẹn dưới lớp sét mịn dày ở độ sâu 3m, được xác định tuổi bằng phương
pháp Carbon phóng xạ cho tuổi là 4115 ± 50 năm BP (Hiệu chỉnh là 2876 - 2570
Cal.BC). Đây được coi là niên đại khởi đầu của biển tiến đột biến Holocene
trung - muộn, đây không phải là một đợt biển tiến từ từ mà tiến đột ngột từ -2m
so với ngày nay lên độ cao +3,5m và tồn tại cho đến 3100 ± 80 năm BP (Hiệu
chỉnh là 1529 - 1125 Cal.BC), sau đó biển bắt đầu thoái (niên đại 3100 ± 80 dựa
trên niên đại 14C của vỏ hàu nhỏ được thu thập ở vết tích bị
mài mòn bởi sóng biển hình chữ V nằm ngang ở độ cao +3,5m ở Kiên Giang - được
coi là niên đại muộn nhất của đợt biển tiến này) (Hoàng Ngọc Kỷ 2010: 278 -
285). Dưới tác động của biển tiến đột biến, diện tích của châu thổ Bắc Bộ bị
thu hẹp, trầm tích các dòng sông không đẩy ra xa được, các con sông bị cân bằng
dòng chảy, quá trình stopping diễn ra làm tăng diện tích khu vực ngập nước và
tăng tốc độ thành tạo các trầm tích ở các dòng chảy, vì vậy, con người phải
chọn nơi cư trú là những khu vực đồi cao. Sau khi biển thoái, các khu vực trước
đây vốn ngập nước trở thành những khu vực đất đai màu mỡ, bằng phẳng, tạo ra
điều kiện thuận lợi cho các nhóm cư dân cư trú, lập làng mới. Sau giai đoạn
biển thoái các cư dân văn hóa Phùng Nguyên đã lan tỏa và chiếm lĩnh dần các khu
vực đất đai thấp hơn.
Nghiên cứu của Doãn
Đình Lâm công bố năm 2001, mặc dù không nhắc đến giai đoạn biển tiến đột biến
như nghiên cứu của Hoàng Ngọc Kỷ, nhưng đều nhận định rằng trong phạm vi đồng
bằng Bắc Bộ, biển tiến Flandrian đã đạt mức cao nhất trong khoảng thời gian từ
5.000 - 6.000 năm trước với mức nước dâng lên cực đại đạt từ +5 - +6 m a.d, sau
đó rút xuống từ từ theo hình sin. Sau 6.000 năm trước có những pha biển tiến
biển thoái xen kẽ theo mô hình con lắc đơn tắt dần, đáng chú ý trong giai đoạn
4100 đến 4050 năm trước là giai đoạn nước biển dâng với độ cao ngấn biển là 4,5
- 4,9m tốc độ dâng của nước biển đạt đến 9mm/năm (Doãn Đình Lâm, W.E.Boyd 2001:
86 - 91).
Nghiên cứu của Trần
Đức Thạnh, công bố năm 1991 đã chứng minh ở ven biển Đông Bắc, sau khi đạt mức
cực đại 5-6m vào Holocene giữa, mực nước biển hạ thấp hẳn dưới mức 0 hiện tại
rồi sau đó dâng cao trở lại và đạt mức cực đại 3 - 3,5m vào Holocene muộn (Trần
Đức Thạnh 1991: 48 - 53).
Tanabe và cộng sự khi
nghiên cứu sự tiến hóa của trầm tích Holocene ở châu thổ sông Hồng cũng ghi
nhận mực nước biển dâng cao đến mức 2 - 3m so với hiện tại vào khoảng từ 6.000
- 4.000 năm trước, sau đó nước biển rút dần (Tanabe et al. 2006).
Những nghiên cứu về
địa chất mặc dầu còn đôi chỗ còn chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, nhưng
đều ghi nhận những đợt biển tiến lớn vào sâu trong châu thổ sông Hồng hiện tại,
làm diện tích đồng bằng bị thu hẹp lại. Đặc biệt là trong giai đoạn sớm của văn
hóa Phùng Nguyên có thể tương đương với một giai đoạn biển tiến sâu vào đất
liền, sau đó là các pha biển tiến biển lùi xen kẽ theo mô hình con lắc đơn giảm
dần. Đồng bằng sau biển tiến được hình thành nhưng ở giai đoạn đầu chắc chắn
vẫn chưa thể sinh sống được do còn trũng thụt, lầy lội, các đầm hồ còn nhiều.
Sau khi biển lùi dần, trải qua thời gian các vùng đất ấy trở nên khô ráo và
thuận lợi cho canh tác nông nghiệp. Vì lẽ đó mà chúng ta có thể nhận thấy xu
hướng dịch chuyển dần về hạ châu thổ từ các di tích Phùng Nguyên sớm đến Đồng
Đậu và lan tỏa mạnh mẽ ở giai đoạn Gò Mun và Đông Sơn. Điều đó cũng giúp chúng
ta giải thích sự vắng mặt của các di tích tiền Đông Sơn ở khu vực thuộc hạ châu
thổ sông Hồng như Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình…
3. Dữ liệu cổ sinh
thái
Ở châu thổ sông Hồng
qua tài liệu 2 lỗ khoan VN và GA của nhóm các nhà nghiên cứu Lizh, Saito Y,
Quang Lan Vu, trên cơ sở phân tích và nghiên cứu sự biển đổi của các phổ phấn
hoa theo thời gian các tác giả đã rút ra những biến đổi về khí hậu của châu thổ
sông Hồng trong giai đoạn tồn tại của các văn hóa tiền Đông Sơn (Li.Zhen et al.
2006: 4 - 28). Trong khoảng thời gian 4.530 - 3.340 năm BP, khí hậu lạnh ẩm;
trong khoảng 3.340 - 2.100 năm BP, khí hậu nóng khô; và trong khoảng 2.100 -
1.720 năm BP, khí hậu lạnh ẩm.
Các nhà nghiên cứu khi
nghiên cứu quần động vật và thực vật phát hiện ở di chỉ Đồng Đậu qua tư liệu
các cuộc khai quật năm 1965, 1967, 1968 đã phát hiện ra có sự thay đổi về quần
động, thực vật qua thời gian. Giai đoạn tương đương với Phùng Nguyên muộn về
thực vật có lúa, trám, na, về động vật có voi, lợn rừng, hươu, nai, chó, cá
trắm, một số cá loại cá nhỏ, lợn nhà. Trong đó các động vật hoang chiếm đa số
như lợn rừng, hươu, nai, cá, lợn nhà chiếm tỉ lệ thấp. Sang đến giai đoạn Đồng
Đậu, và đặc biệt là giai đoạn Gò Mun tỉ lệ xương răng lợn nhà và lợn non có sự
tăng lên đáng kể về tỉ lệ. Dựa vào dấu tích động thực vật ở đây các nhà nghiên
cứu cho rằng hàng ngàn năm trước ở khu vực Đồng Đậu là những khu rừng thưa,
những rừng cây bụi xen lẫn xa van và đồi cỏ (Trần Văn Bảo và cộng sự 1970: 133-
139).
Nguyễn Thị Mai Hương
trong khi nghiên cứu các bào tử phấn hoa ở các di tích thời đại Kim khí đã nhận
thấy rằng hệ thực vật ở châu thổ sông Hồng thời đại Kim khí là sự kết hợp giữa
các loại cây cỏ, cây bụi và rừng nguyên sinh, một số di chỉ có điều kiện môi
trường là đầm lầy và chịu ảnh hướng của yếu tố biển (Nguyễn Thị Mai Hương và
cộng sự 2007: 32 - 4).
Phần lớn các nhà
nghiên cứu đều thống nhất rằng trong giai đoạn tiền Đông Sơn, khí hậu miền Bắc
Việt Nam không có sự thay đổi đột ngột, nhưng vẫn luôn có biến đổi dần, sự thay
đổi này có tính chu kỳ lên xuống của nhiệt độ và độ ẩm không khí. Những sự thay
đổi này chắc chắn có ảnh hưởng đến phương thức sống của những cư dân cổ tiền
Đông Sơn ở châu thổ sông Hồng.
4. Nhận xét và thảo
luận
Các di tích văn hóa
Phùng Nguyên theo những dữ liệu hiện tại cho thấy có xu hướng dịch chuyển dần
từ phía thượng châu thổ xuống hạ châu thổ sông Hồng theo thời gian. Sự dịch
chuyển đó gắn liền với sự thay đổi về cảnh quan cư trú, càng về sau càng chiếm
lĩnh các khu vực trũng thấp hơn. Điều đó càng rõ ràng nếu xem xét sự chuyển
dịch về địa bàn cư trú từ văn hóa Phùng Nguyên sang văn hóa Đồng Đậu.
Nguyên nhân và động
lực của quá trình dịch chuyển đó là gì? Đây là một câu hỏi khó trả lời một cách
thỏa đáng trong điều kiện tư liệu hiện nay. Thông qua những bằng chứng về địa
chất, cổ sinh thái học và quan trọng nhất là tư liệu khảo cổ học hiện nay chúng
ta có thể hình dung và giải thích quá trình chuyển biến đó như một giả thuyết
nghiên cứu.
Ở giai đoạn sớm các di
tích văn hóa Phùng Nguyên chỉ tập trung ở các khu vực có đồi gò cao gần các
nguồn nước, sở dĩ như vậy vì khi đó nước biển còn cao, các dòng chảy bị cân
bằng tạo nên các vùng ngập nước rộng lớn. Sau đó từ khoảng 5000 năm trước nước
biển rút dần, các khu vực ngập nước trước kia bắt đầu lộ ra, thêm một khoảng
thời gian nữa những khu vực đó trở nên khô ráo và con người bắt đầu có thể tiếp
cận được. Cùng với sự mở rộng về quy mô dân số và khu vực khai thác thức ăn,
người Phùng Nguyên bắt đầu mở rộng địa bàn cư trú của mình theo quá trình hình
thành của đồng bằng trẻ. Các yếu tố mới về vật chất, tinh thần được hình thành
từ những yếu tố nội sinh, ngoại sinh và quá trình thích nghi với môi trường
sinh thái. Biến động theo chu kỳ của khí hậu có thể cũng dẫn đến các mô thức cư
trú mới, mà các hố đất đen có kích thước lớn với vách được đào thẳng đứng trong
các di tích thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Phùng Nguyên có thể là một dạng
thức để thích nghi với sự thay đổi của khí hậu. Đặc biệt sự xuất hiện các vết
tích các hạt gạo cháy trong một số các di tích Phùng Nguyên muộn có thể là dấu
hiệu xuất hiện nông nghiệp trồng lúa, sau đó được phát triển mạnh mẽ trong văn
hóa Đồng Đậu. Sự xuất hiện của nông nghiệp có thể gắn liền với việc khai phá
các đồng bằng trẻ sau biển tiến. Quá trình dịch chuyển của các di tích Đồng Đậu
cũng có thể diễn ra theo chiều hướng giống với các di tích Phùng Nguyên, nhưng
sự lan tỏa của các di tích Gò Mun lại diễn ra theo một chiều hướng khác, về vấn
đề này xin trở lại ở một chuyên khảo khác.
Đối với các khu vực hạ
châu thổ, hầu như chưa có di tích tiền Đông Sơn nào được phát hiện, các tỉnh
thuộc khu vực này như Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình thay vào đó là vết
tích các bãi triều và các đầm ngập mặn đầy dừa nước và xú vẹt có niên đại tương
đương với các văn hóa tiền Đông Sơn được phát hiện (Hoàng Ngọc Kỷ 2010; Nguyễn
Việt 2010). Như vậy, trong giai đoạn tiền Đông Sơn các khu vực đó vẫn còn nằm
trong vịnh biển. Đó là nguyên nhân của sự vắng mặt các di tích tiền Đông Sơn ở
những khu vực này.
Nhưng từ dữ liệu đó
khiến tác giả bài viết đặt một giả thuyết nghiên cứu khác đó là về nguồn gốc
của văn hóa Phùng Nguyên. Theo Hoàng Ngọc Kỷ, trong lịch sử có một đợt biển
tiến đột biến từ cao độ -2m lên +3,5m vào khoảng 4.000 năm trước và tồn tại cho
đến 3.100 năm trước (Hoàng Ngọc Kỷ 2010). Trước 4000 năm khi mực nước biển còn
thấp hơn mực nước hiện nay -2m, có thể đã từng có các di tích tiền Phùng Nguyên
có thể đã từng tồn tại, nhưng sau đó do biển tiến nên buộc phải di chuyển lên
vùng thượng châu thổ.
Những bằng chứng về
khảo cổ học có thể nằm trong những đặc trưng của nhóm di tích Núi Lê, Núi Hổ
nằm trong khu vực núi sót kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam, nằm ở phía tây
của huyện Vụ Bản, Nam Định. Mặc dù chưa có những cuộc khai quật khảo cổ tại đây
để có thể chứng minh rõ ràng tính chất văn hóa, nhưng kết quả khảo sát đã cho
thấy có những dấu ấn của giai đoạn Gò Bông ở những di tích này, cụ thể như sau:
- Di tích Núi Lê thuộc
xã Tam Thanh, huyện Vụ Bản, được phát hiện năm 1986. Di tích đã bị phá hủy nghiêm
trọng, di vật thu lượm được trong di tích bao gồm cuốc và bôn có vai ngang,
được mài toàn thân, tính chất đồ đá giống với nhóm đồ đá của Gò Mả Đống, Quỳ
Hợp. Đặc biệt về đồ gốm, ở đây có mặt loại gốm xốp màu xám bạc và loại gốm đen
mặt ngoài được miết láng (Bùi Văn Tam 1987: 101; Bùi
Vinh, Đào Quý Cảnh 1989: 32 - 35).
- Di tích Núi Hổ nằm
trên một quả núi cao 52m, cách núi Lê khoảng 3km về phía nam. Đồ đá tồn tại cả
hai loại rìu bôn có vai và rìu bôn tứ giác. Đồ gốm cũng phát hiện các mảnh gốm
xốp; các mảnh gốm mịn, bên ngoài được miết láng và trang trí hoa văn hình chữ
S, các loại hoa văn khắc vạch kết hợp in chấm, khắc vạch trên nền thừng giống
Gò Bông, Đền Đồi (Đặng Công Nga và cộng sự 1988: 42; Bùi Vinh, Đào Quý Cảnh
1989; Nguyễn Quốc Hội 1998: 221).
Như vậy, có thể thấy ở
những ngọn núi sót nổi cao ở hạ châu thổ sông Hồng có tồn tại những di tích có
dấu ấn đậm nét của văn hóa Phùng Nguyên giai đoạn Gò Bông, đồng thời các di
tích này còn mang cả dấu ấn của văn hóa Hạ Long, văn hóa Hoa Lộc. Có thể những
di tích này có mối liên hệ chặt chẽ với các di tích tiền Phùng Nguyên mà giả
thuyết trong bài viết này đặt ra.
Như vậy, ta thấy rằng
dấu ấn của các di tích tiền Phùng Nguyên nằm trong sự liên hệ mơ hồ bởi những
điểm tương đồng nhỏ về vật chất giữa giai đoạn Phùng Nguyên sớm với văn hóa Hạ
Long, Mai Pha. Muộn hơn là sự liên hệ với các di tích Đầu Rằm, Mán Bạc, Cồn
Chân Tiên, Hoa Lộc, Thạch Lạc có thể đến tận An Sơn (Long An). Liệu đã từng tồn
tại các nền văn hóa hậu kỳ Đá mới tiền Phùng Nguyên, tổ tiên trực hệ của Phùng
Nguyên có niên đại tương đương với Mai Pha, Hạ Long ở các vùng rìa của vịnh
biển cổ có mối liên hệ mật thiết với Núi Lê, Núi Hổ, có mối quan hệ giao lưu
với Mai Pha, Hạ Long, Mán Bạc nhưng do tác động của biển tiến, khu vực cư trú
bị ảnh hưởng, chủ nhân của văn hóa đó mới di chuyển về nhiều khu vực khác nhau
tạo ra Phùng Nguyên, Cồn Chân Tiên, để lại dấu ấn trong Hoa Lộc, Thạch Lạc, Đền
Đồi...
Chú thích:
Bài viết này là kết
quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn.
TÀI LIỆU DẪN
BÙI VĂN TAM 1987. Phát
hiện đồ đá và đồ gốm ở hang Núi Lê (Hà Nam Ninh). Trong Những phát hiện
mới về khảo cổ học năm 1986. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 101.
BÙI VINH, ĐÀO QUÝ CẢNH
1989. Thêm những tài liệu mới về Núi Lê, Núi Hổ (Hà Nam Ninh). Trong Những
phát hiện mới về khảo cổ học năm 1988. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội:
32 - 35.
ĐẶNG CÔNG NGA, MAI
CÔNG TRÚC, NGUYỄN XUÂN NĂM 1988, Nhóm di vật Núi Hổ. Trong Những
phát hiện mới về khảo cổ học năm 1987. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội:
42.
DOÃN ĐÌNH LÂM, BOYD
W.E., 2001 Một số dẫn liệu về mực nước biển trong Pleistocen muộn –
Holocen tại vùng Hạ Long và Ninh Bình. Trong Tạp chí các
khoa học về Trái đất: 86-91.
HÁN VĂN KHẨN
2005. Văn hóa Phùng Nguyên. Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.
HOÀNG NGỌC KỶ
2010. Địa chất và môi trường đệ tứ Việt Nam. Nxb. Khoa học Kỹ
thuật, Hà Nội.
NGUYỄN QUỐC HỘI 1998.
Phát hiện thêm một số công cụ Đá mới - Sơ kỳ Kim khí ở Núi Hổ (Vụ Bản, Nam
Định). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1998. Nxb.
Khoa học Xã hội, Hà Nội: 221.
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG,
HARUYAMA SHIGEKO, PHẠM VĂN HẢI 2007. Thực vật thời đại Kim khí ở lưu vực sông
Hồng qua kết quả phân tích bào tử - phấn hoa. Trong Khảo cổ
học, số 3: 32 - 4.
NGUYỄN VIỆT
2010. Hà Nội thời tiền Thăng Long. Nxb. Hà Nội.
SUSUMU TANABE, YOSHIKI
SAITO, QUANG LAN VU, TILL J.J. HANEBUTH, QUANG LAN NGO, AKIHISA KITAMURA 2006.
Holocene evolution of the Song Hong (Red River) delta system, northern Vietnam.
In Sedimentary Geology 187 pp. 29 - 61.
TRẦN ĐỨC THẠNH 1991.
Dẫn liệu về đợt hạ thấp mực biển vào cuối Holocen muộn ở vùng ven bờ Đông Bắc
Việt Nam. Trong Tài nguyên và môi trường biển. Nxb. KHKT, Hà Nội.
TRẦN VĂN BẢO, NGUYỄN
LÂN CƯỜNG, VŨ THẾ LONG 1970. Động vật và thực vật ở Đồng Đậu. Trong Khảo
cổ học, số 7- 8: 133- 139.
ZHEN LI, YOSHIKI
SAITO, EIJI MATSUMOTO, YONGJI WANG, SUSUMU TANABE, QUANG LAN VU 2006. Climate
change and human impact on the Song Hong (Red River) delta, Vietnam, during the
Holocene. Quaternary International, Volume 144, Issue 1: 4 -
28.
RESIDENTIAL SPACIAL RELOCATION OF PHÙNG
NGUYÊN - CULTURE INHABITANTS
HOÀNG VĂN DIỆP
The
environment always plays a great significant role in the formation and
development of a culture, especially a Prehistorical culture when humans were
much dependent on the natural environment. The paper reviews the relocation of
the Phùng Nguyên-culture inhabitants by considering the trend of the location
and distribution of the sites according to their development stages. During the
development process, the Phùng Nguyên-culture inhabitants tended to move from
the upper delta to the lower Red River delta. In terms of topography and
landscapes, there were the gradual relocations from high hillock to low hill -
plain areas and eventually the occupation of the plain area. The number of the
Phùng Nguyên sites also increased through the development stages and there was
appearance of new cultural elements reflecting their adaptation to the new
environment and living conditions. The paleo-ecological and geological data
show the environmental changes in this period and their effects on the lives of
the pre-and protohistorical inhabitants.
From
the evidence of geology and paleontology, especially the archaeological data,
the author refers to some assumptions: the first is the living environment and
the adaption the Phùng Nguyên-culture inhabitants in the Red River Delta; the
second is that the pre- Phùng Nguyên sites might have existed in the Red River
Delta, but the sea-advance might have forced them to be relocated in the upper
delta.