Chính sách đối với quan lại của triều Lê - Trịnh và bài học lịch sử đối với công tác cán bộ hiện nay
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, việc xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại luôn giữ vị trí then chốt đối với sự vận hành ổn định của bộ máy nhà nước. Dưới thời Lê -Trịnh (thế kỷ XVII - XVIII), trong bối cảnh tồn tại song song thiết chế chính trị vừa có chính quyền vua Lê vừa có phủ liêu của chúa Trịnh, nhiều chính sách đối với quan lại đã được ban hành và thực thi nhằm tuyển chọn, sử dụng và kiểm soát quan lại, qua đó duy trì kỷ cương hành chính và ổn định xã hội. Những chính sách này, bên cạnh các giá trị tích cực, cũng bộc lộ không ít hạn chế, đã làm sâu sắc thêm những vấn đề nội tại của bộ máy nhà nước đương thời. Trong bối cảnh hiện nay, khi công tác cán bộ được xác định là khâu then chốt của xây dựng hệ thống chính trị, yêu cầu về chuẩn hóa đội ngũ, kiểm soát quyền lực và phòng, chống suy thoái ngày càng trở nên cấp thiết, thì việc nhìn lại chính sách đối với quan lại của triều Lê-Trịnh không chỉ mang ý nghĩa nhận thức lịch sử, mà còn góp phần gợi mở những bài học có giá trị tham chiếu cho công tác cán bộ trong giai đoạn mới. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích các chính sách đối với quan lại thời Lê-Trịnh (chủ yếu là đội ngũ quan văn), từ đó rút ra một số bài học lịch sử phù hợp với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay.

1. Chính sách quan lại của triều Lê -Trịnh
1.1.Tuyển chọn, sử dụng và chế độ đãi ngộ quan lại 
Ở bất cứ triều đại nào, nhu cầu tuyển chọn người hiền tài phục vụ trong bộ máy nhà nước luôn được chính quyền quân chủ quan tâm nhằm lựa chọn những người vừa có năng lực, vừa đức độ để giải quyết những việc đại sự của đất nước. Thế kỷ XVII, XVIII là hai thế kỷ gắn với những biến động xã hội, chính trị phức tạp của các tập đoàn, dòng họ phong kiến, với các phong trào khởi nghĩa nổi dậy của nông dân và tạm dừng ở việc thống nhất đất nước của phong trào Tây Sơn. Đây cũng là thời kỳ sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa với các nước phương Tây diễn ra mạnh mẽ, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã trực tiếp xâm nhập vào nước ta. Điều kiện lịch sử đó đặt ra cho chính quyền Lê-Trịnh phải đề ra những chính sách phù hợp để củng cố quyền lực của mình, một trong những chính sách đó là tuyển chọn được đội ngũ quan chức vừa có đức vừa có tài phục vụ cho bộ máy nhà nước. Vì vậy, vào năm 1682, triều vua Hy Tông có bàn về công việc nội chính của triều đình liên quan đến việc nhận thức và sử dụng người hiền tài của đất nước, đã chỉ rõ: “Chính sự một nước là gắn vào Tể tướng. Mỗi việc chính sự làm hay bỏ quan hệ đến người Tể tướng chính trực hay gian tà... Vậy mong hãy rộng chọn trong đám kẻ sĩ đang làm quan, khiến cho vị Tể tướng phải là người có tài trí, đức hạnh thì bổ nhiệm mới được nguời xứng đáng mà có thể gây được khí dung hòa trong trời đất…” [1]. Các đời chúa Trịnh sau này như Trịnh Cương, Trịnh Giang, Trịnh Doanh là các chúa đều rất coi trọng việc trị quốc phải có người hiền tài. Bởi vậy, khi ban chỉ dụ vào năm 1740, chúa Trịnh Doanh đã khẳng định cần phải có người hiền tài đặc biệt là lựa người hiền qua lối “tiến cử” để không bỏ sót nhân tài, đồng thời chúa đã cho “Thực phong để rộng đường ngôn luận. Người hiền mới tiến, đám quần tiểu đã nảy mầm. Thói cũ khinh lờn pháp luật chưa chừa, tội rông càn xưa kia chưa đổi. Hỡi các thần thứ, nói chớ tiếc lời. Những kẻ nào là đại gian, là tiểu nịnh đều cho được chỉ tên bày tỏ để ta mở rộng kiến văn” [2].
Với đặc thù thể chế “vua Lê - chúa Trịnh”, cơ cấu bộ máy Trung ương của triều Lê -Trịnh vừa kế thừa các chức quan truyền thống, vừa có những điểm khác biệt so với các triều đại trước, nhất là so với quy chế thời Hồng Đức (1470-1497). Trong hai thế kỷ XVII, XVIII, về cơ bản triều Lê -Trịnh vẫn duy trì hầu hết các chức quan cũ, đồng thời bãi bỏ một số vị trí không cần thiết và lập thêm một số ngạch quan mới chỉ tồn tại trong giai đoạn này. Các chức quan mới thuộc Phủ liêu như Tham tụng, Bồi tụng (tương đương Tể tướng), cùng các chức đứng đầu Lục phiên như Tri phiên, Phó Tri phiên, Thiêm tri phiên, Nội sai, Câu kê, Phó Câu kê, Cai tư, Cai hợp, Thủ hợp… đều do chúa Trịnh lựa chọn từ quan lại triều Lê, kiêm nhiệm các chức cũ với phẩm hàm tương ứng. Đáng chú ý, từ năm 1739, chúa Trịnh Giang thiết lập “Giám ban” dành cho hoạn quan, chia thành ba ban với các chức quan chủ yếu gồm: Tổng Thái giám, Đô Thái giám, Thái giám, Thiên Thái giám... Việc xếp đặt các chức quan mới này đã phản ánh sự đa dạng trong cơ cấu đội ngũ quan lại phục vụ bộ máy nhà nước đương thời. Trên nền tảng cơ cấu tổ chức đội ngũ quan lại đó, việc tuyển chọn quan chức được chính quyền Lê - Trịnh thực hiện bằng nhiều phương thức đan xen. 
Trước hết, nhà nước sử dụng đội ngũ quan lại cũ, đặc biệt trong giai đoạn đầu Trung hưng. Một bộ phận trí thức Nho học từng phục vụ nhà Mạc do một phần chán ghét thời cuộc, một phần vì tư tưởng muốn đứng lên chống đối nhà Mạc, hoặc trước nguy cơ nhà Mạc sụp đổ đã rời bỏ vương triều Mạc, quy thuận nhà Lê, và được triều đình Lê - Trịnh thu dụng và giao giữ các chức vụ quan trọng. Chỉ tính riêng số quan lại xuất thân Tiến sĩ, đã có 84/484 Tiến sĩ thời Mạc tiếp tục làm quan cho triều Lê, đảm nhận các chức: Thượng thư, Thị lang, Hàn lâm viện, Ngự sử đài [3] … Chính sách này vừa tận dụng nguồn nhân lực có kinh nghiệm, vừa góp phần ổn định trật tự chính trị sau biến động.
Thứ hai, tuyển dụng quan chức qua giáo dục, khoa cử. Đây là phương thức tuyển dụng quan chức quan trọng nhất của các triều đại quân chủ Việt Nam. Thông qua việc tiếp tục duy trì đều đặn các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình cùng một số khoa thi bổ sung như Đông các, Sĩ vọng, Hoành từ…, triều Lê - Trịnh đã lựa chọn được đông đảo đội ngũ Nho sĩ có trình độ tham gia vào bộ máy nhà nước. Tính riêng các kỳ đại khoa (Chế khoa và thi Hội) thời Lê Trung hưng (1533 -1787), triều Lê - Trịnh đã tổ chức 73 khoa thi, lấy đỗ 781 tiến sĩ, riêng thời kỳ (1595 -1788) tuyển chọn được 748 Tiến sĩ (chia làm ba giáp: Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ: 33 người; Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân: 87 người; Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân: 628 người). Sau khi đỗ đạt, gần như toàn bộ số Tiến sĩ đều được triều đình bổ nhiệm chức quan với 732 người chiếm 97,8%. 
Các tân Tiến sĩ sẽ được trao bổ chức quan, theo đó khi trao chức lần đầu: Trạng nguyên được trao chức Thị giảng, Bảng nhãn chức Thị thư, Thám hoa chức Thị chế, Hoàng giáp chức Hiệu lý, còn đồng Tiến sĩ theo lệ thời Hồng Đức trao cho chức Cấp sự trung, nhưng thể lệ thời Lê Trung hưng trao chức Giám sát đến đời Bảo Thái lại bắt đầu trao chức Cấp sự trung [4]. Người đỗ đạt không chỉ được bổ dụng nhanh chóng mà còn hưởng nhiều ưu đãi đặc biệt, như nhận xét của Lê Quý Đôn, triều đình “đãi ngộ rất hậu, bổ dụng rất cao”. Thậm chí triều đình còn cho miễn thời gian tập sự và trao quyền chưởng ấn chính thức khi bổ nhiệm về địa phương: “Người nào bổ quan ngoài các trấn, thì bổ vào hai Thừa chính hoặc Hiến sát, đều trao cho chưởng ấn chính thức, không phải giữ chức Tá nhị”, việc làm này của triều đình thể hiện nhà nước có nhu cầu rất lớn trong việc bổ nhiệm quan chức phục vụ cho bộ máy nhà nước. Ngoài ra, các đối tượng như Nho sinh trúng thức, Giám sinh cũng được tuyển dụng theo những quy định riêng, bổ sung nguồn nhân lực cho hệ thống quan lại.
Thứ ba, bên cạnh khoa cử, triều đình còn áp dụng chế độ nhiệm tử (tập ấm) nhằm duy trì tính kế thừa trong tầng lớp cầm quyền, đồng thời thể hiện chính sách đãi ngộ đối với công thần, quan lại có công lao. Từ năm 1619 đến 1722, nhiều chỉ, dụ liên quan đến chế độ này được ban hành (vào các năm 1619, 1664, 1666, 1667, 1722), về sau, triều đình phải điều chỉnh để hạn chế tình trạng lạm dụng và giả mạo. Theo quy định của triều Lê -Trịnh, khi mới bổ dụng chức quan, con của các công thần trung hưng và quan chức có phẩm trật, được giữ những chức vụ có hàm Bát phẩm. Căn cứ vào thành tích khảo khóa theo định kỳ mà thăng lên chức cao hơn, có phẩm hàm cao hơn, thường được tăng lên 1 bậc.
Thứ tư, phương thức tiến cử và bảo cử, cho phép tuyển chọn và sử dụng nhân tài ngoài con đường thi cử, gồm cả những người chưa đỗ đạt hoặc đang ở ẩn. Trong đó, tiến cử là hình thức lấy người có tài đức hơn hẳn mà không cứ thân phận; còn bảo cử thì lấy người danh vọng rạng rệt mà phải theo tư cách. Hai lối này giống nhau nhưng thể thức thì có khác biệt. Với sự coi trọng đó, triều đình đã nhiều lần ra chỉ, dụ yêu cầu các quan phải tiến cử người tài, coi đó là trách nhiệm, nghĩa vụ: “Tiến cử người mình biết, những người có học vấn, đức hạnh, thuật cai trị, có thể làm được chức Thú lệnh thì quan nhị phẩm tiến cử bốn người, quan tam phẩm đến ngũ phẩm tiến cử ba người quan từ lục phẩm đến bát phẩm tiến cử hai người, kể tên từng người dâng lên, giao cho Lại bổ thuyên chuyển nhậm chức. Ai tiến cử người giỏi thì được xét khen thưởng, nếu thấy người nào không xứng với lời mình tiến cử, bậy bạ tham ô thì cho trình bày trước, khỏi phải tội lây, nếu che giấu không tâu trình lên thì tội cùng như kẻ đó” [5]. Nhà nước quy định tương đối chặt chẽ về tiêu chuẩn và trách nhiệm của người tiến cử, đồng thời từng bước điều chỉnh để nâng cao chất lượng lựa chọn. Tuy vậy, trong thực tế, các hình thức này đôi khi cũng dẫn đến việc đề bạt chưa thật sự tương xứng với năng lực.
Thứ năm,  phương thức nộp tiền, thóc để bổ dụng hoặc thăng chức. Hình thức nộp tiền, nộp thóc dưới thời Lê - Trịnh để được bổ dụng chức quan bao gồm hai dạng thức: (1) những người chưa có chức quan bỏ tiền hoặc quyên nộp thóc gạo, tiền bạc cho nhà nước sẽ được bổ chức quan; (2) quan lại đương nhiệm muốn thăng lên chức cao hơn thì chỉ cần bỏ ra một số tiền cụ thể. Phương thức nộp tiền, thóc để bổ chức quan được thực hiện lần đầu năm 1721 dưới đời chúa Trịnh Cương: “Năm 1721 lệnh cho quan, dân trong nước quyên nộp thóc trao cho quan chức. Sau đó lại đưa ra lệnh quyên nộp tiền đồng, tiền giấy để trao chức phẩm” [6], nhưng không nêu rõ mức nộp và chức quan được bổ. Đến năm 1736, triều đình quy định cụ thể hơn, theo đó: dân thường nộp 2.800 quan được bổ làm chức Tri phủ, nộp 1.800 quan được bổ làm Tri huyện. Đến năm 1740, mức nộp được rút xuống còn: dâng 2.500 quan thì trao chức Tri phủ ở nha rất nhiều việc, 1.500 quan thì cho chức Tri phủ ở nha nhiều việc; 1.200 quan trao cho chức Tri huyện ở nha rất nhiều việc, 1.000 quan thì cho chức Tri huyện ở nha nhiều việc; 750 quan cho chức Tri huyện, Tri châu ở nha ít việc; 350 quan cho hàm Tri huyện, Tri châu không có thực nhiệm; 250 quan thì cho hàm Bát, Cửu phẩm. Dâng thóc thì cứ 60 bát quan đồng tính giá 1 quan tiền quý [7]. 
Phương thức nộp tiền, gạo, thóc để được bổ chức quan đã có từ trước, nhưng dưới thời Lê -Trịnh trở nên phổ biến hơn, đặc biệt trong bối cảnh tài chính khó khăn và nhu cầu quân sự gia tăng. Ban đầu nhằm huy động nguồn lực cho nhà nước, song về sau đã dẫn đến tình trạng “mua quan bán tước”, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng đội ngũ quan lại.
Nhìn chung, việc tuyển chọn quan chức dưới triều Lê-Trịnh là sự kết hợp nhiều phương thức, cách thức khác nhau, trong đó khoa cử giữ vai trò chủ đạo. Điều này phản ánh nỗ lực của nhà nước trong việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài, đồng thời cũng cho thấy những hạn chế nhất định của cơ chế tuyển dụng trong bối cảnh lịch sử cụ thể.
Về chế độ đãi ngộ: Chính quyền Lê - Trịnh rất chú trọng đến chế độ đãi ngộ nhằm động viên và ràng buộc đội ngũ quan lại. Quyền lợi của họ được thể hiện chủ yếu qua lương bổng và các khoản bổng lộc, bao gồm tuế bổng, thực hộ và lộc điền.
Về cấp lương, triều đình trả lương cho quan chức bao gồm ân tứ dân huệ, tiền gạo và người theo hầu, tùy theo thứ bậc của các quan làm việc trong từng cơ quan cụ thể mà có nhiều ít khác nhau. Theo lệ năm 1736: quan văn đỗ Trạng nguyên thì được lính hầu 55 suất, Bảng nhãn 50, Thám hoa 45, Hoàng giáp mỗi người 40, Tiến sĩ mỗi người 35 suất. Khoa thi Đông các: trúng cách thứ nhất được 30 suất, trúng cách thứ nhì 25 suất, trúng cách thứ 3: 20 suất” [8]. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, do khó khăn về nhân lực, nhà nước chuyển sang cấp ruộng dưỡng liêm thay thế. Mức cấp phân theo phẩm hàm, từ cao xuống thấp, theo đó: liêm điền của quan Nhất phẩm là 50 mẫu, giảm dần xuống đến Bát phẩm, mỗi phẩm giảm đi 5 mẫu [9].
Đội ngũ quan lại còn được hưởng nhiều bổng lộc kinh tế như cấp đất ở, vườn tược và ruộng lộc. Nhà nước quy định cụ thể mức cấp đất theo phẩm trật, đồng thời cho phép quan chức được hưởng các loại ruộng: ruộng thế nghiệp (là loại hình ruộng đất cấp cho vương hầu và các quan to, đời mình và đời con cháu được hưởng); huệ lộc (lộc cấp cho quan hưu trí); ruộng tự sự (ruộng thờ cúng các quan to đã chết). Ngoài ra, quan lại còn được miễn hoặc giảm thuế ruộng tư trong hạn mức nhất định.
Không chỉ trong thời gian đương chức, khi về trí sĩ hoặc qua đời, quan lại vẫn được hưởng nhiều ân điển như ban thưởng, ghi công, cấp dưỡng, truy tặng chức tước. Những người có công lao lớn còn được tôn vinh, thậm chí được thờ tự. Khi Lại bộ Thượng thư Chưởng lục bộ sự kiêm Quốc Tử giám Tế tửu, Hàn lâm viện Thị độc, chưởng Hàn lâm viện sự, Thái phó Tuyền quận công Nguyễn Duy Thì chết, được tặng Thái tể, ban thụy hiệu là Hành Độ. Không chỉ bản thân, mà con cháu quan lại cũng được hưởng chế độ ưu đãi như miễn sưu dịch, tập ấm và tạo điều kiện học tập, tiến thân. Nhìn chung, chế độ đãi ngộ dưới triều Lê - Trịnh tương đối toàn diện, vừa đảm bảo đời sống vật chất, vừa đề cao danh dự và vị thế xã hội của quan lại. Điều này góp phần củng cố tính ổn định của bộ máy nhà nước, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng tính đặc quyền của tầng lớp quan chức trong xã hội đương thời.
1.2. Chế độ khảo khóa và thăng giáng quan lại 
Chế độ khảo khóa dưới thời Lê - Trịnh giữ vai trò rất quan trọng trong việc kiểm tra, đánh giá năng lực, nhân phẩm và sử dụng quan lại, làm căn cứ trực tiếp cho thăng thưởng hay giáng chức. Tinh thần đó được thể hiện rõ trong chỉ dụ năm 1674 của chúa Trịnh Tạc, nhấn mạnh yêu cầu “Dùng người làm quan thì nên liều lượng tài năng, khảo sát công trạng, khiến cho các quan lại đều xứng đáng với chức vụ. Tìm kiếm người hiền tài thì nên xem xét ở lời nói, ở việc làm, thử thách bằng cách giao cho làm chính sự, khiến người hiền tài đều muốn đứng ở trong triều đình. Dùng người làm tướng thì nên giá ngự bằng ân và oai, khiến cho các tướng đều vui vẻ để mình dùng” [10]. Từ chỉ dụ này cho thấy nguyên tắc dùng người được đặt trên sự kết hợp giữa năng lực, đức hạnh và cơ chế ràng buộc bằng cả ân lẫn uy.
Để thực thi, triều đình từng bước thể chế hóa chế độ khảo khóa với hệ thống quy định tương đối cụ thể. Từ năm 1631 đến 1771 đã ban hành 17 sắc lệnh liên quan, quy định đối tượng, niên hạn, tiêu chí phân loại và định mức thưởng phạt. Quan lại sau khi bổ dụng phải trải qua thời gian tập sự ba năm, rồi chịu các kỳ khảo định kỳ và thông khảo tổng hợp. Tuy nhiên, niên hạn không hoàn toàn thống nhất, có thể tiến hành hằng năm, ba năm hoặc chín năm một lần, tùy từng thời điểm.
Việc đánh giá quan lại dựa trên các tiêu chí chủ yếu như năng lực xử lý công việc, phẩm hạnh và hiệu quả trị dân, qua đó phân loại thành ba bậc: thượng, trung, hạ. Trên cơ sở đó, triều đình ban hành và áp dụng cơ chế thưởng phạt khá rõ ràng. Theo quy định năm 1707, quan lại nhiều lần đạt bậc thượng sẽ được thăng chức và ban thưởng; ngược lại, người xếp loại thấp bị giáng chức, điều chuyển hoặc bãi nhiệm [11]. 
Thực tế đầu thời trung hưng cho thấy việc khảo xét được tiến hành khá nghiêm túc, người có thành tích được trọng dụng, kẻ kém bị loại bỏ, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý: “Việc khảo xét thành tích các quan trong kinh ngoài trấn làm rất nghiêm. Ai có thành tích cao về chính sự tất được thăng trật, được điều trấn nhậm ở những nơi nhiều việc và phức tạp. Ai vào hạng kém thì bị truất giáng, không ai có thể lọt được” [12].
Bên cạnh khảo khóa định kỳ, triều đình còn áp dụng các biện pháp kiểm tra bổ sung như khảo hạch trực tiếp hoặc cử quan đi kinh lược địa phương, qua đó tăng cường giám sát hoạt động của bộ máy. Trên nền tảng đó, một hệ thống kỷ luật quan chức tương đối nghiêm khắc cũng được thiết lập. Tùy theo mức độ vi phạm, các hình thức xử phạt được áp dụng từ biếm chức, giáng cấp, bãi chức đến đuổi về làm dân và trong trường hợp nghiêm trọng có thể xử tử. Thậm chí có trường hợp, người quan đó đã chết nhưng triều đình vẫn xử phạt bằng cách đánh vào xác để làm nhục như trường hợp của Đinh Văn Thản. Năm 1761, Đốc lĩnh Đinh Văn Thản hãm quân ở chỗ nước độc nên nhiều người chết, nhiều lần bị quở, buồn bực mà chết, triều đình sai truy đoạt chức tước và đánh vào xác để làm nhục.
1.3. Chính sách bảo vệ “đại thần”
Bên cạnh việc tuyển chọn, bổ nhiệm và đãi ngộ quan lại, triều Lê - Trịnh còn đặc biệt chú trọng đến chính sách bảo vệ các đại thần - một khâu quan trọng trong nghệ thuật dụng nhân. Chính sách này không chỉ nhằm giữ gìn uy tín và vị thế của đội ngũ quan chức cấp cao, mà còn góp phần tạo dựng môi trường chính trị ổn định, hạn chế sự xúc phạm danh dự và xâm hại đến tính mạng của người làm quan.
Trước hết, triều đình coi trọng việc lắng nghe và khuyến khích lời nói thẳng. Các chúa Trịnh nhiều lần ban dụ “cầu trực ngôn”; đến thời chúa Trịnh Sâm còn cho mở rộng cầu lời nói thẳng tới mọi tầng lớp người dân trong xã hội, nhằm: “Nay muốn mở rộng tầm nghe, thu lấy nhiều lời nói thẳng để sửa chữa những chỗ ta không kịp nghĩ đến. Thần dân trong ngoài hãy đều nói hết ý kiến. Những điều quan hệ đến chính sự của triều đình, việc biên giới, tình hình u uẩn của dân, cho làm thư phong kín dâng lên, đều nói cho hết, không nên kiêng tránh. Nói mà dùng được, thì ta liệu tính thi hành, không tiếc khen thưởng” [13]. Trước đó, dưới thời Trịnh Doanh, triều đình đặt ống đồng (năm 1742) để thu nhận ý kiến bí mật của quan viên; hoặc vào năm 1747 nhà chúa cho đặt chuông mõ tại phủ đường để người dân kêu oan, tiến cử hoặc trình bày việc hệ trọng. Đặc biệt vào những dịp thời tiết bất thường như hạn hán, lũ lụt, tật bệnh, trộm cướp... triều đình rất coi trọng hình thức dâng thư kín để tâu trình sự việc. Những biện pháp này đã góp phần tạo điều kiện để quan lại và các thành phần cư dân trong xã hội tham gia phản ánh thực trạng, góp phần điều chỉnh chính sách. Nhiều kiến nghị xác đáng của các đại thần như Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Hãng, Đặng Đình Tướng, Lê Quý Đôn đã được tiếp thu và vận dụng trong quản lý nhà nước.
Cùng với đó, triều đình ban hành các quy định nhằm bảo vệ danh dự và uy quyền của đại thần, như cấm phao tin, báng bổ chính sự, hoặc chỉ trích quan lại một cách tùy tiện. Những hành vi vượt quá khuôn phép đều bị xử lý nghiêm, qua đó củng cố trật tự chính trị và uy tín của bộ máy cầm quyền. Chẳng hạn chỉ dụ năm năm Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712) nêu rõ: “Cấm dân gian làm truyền văn lệnh chỉ giả mạo, càn rỡ đặt lời phao đồn và viết giấy rải, dán dọc đường phỉ báng chính sự đương thời, bài xích, dị nghị các nhà chức trách” [14].
Tuy nhiên, chính sách này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Trong một số trường hợp, việc khuyến khích tố giác bí mật có thể làm nảy sinh tình trạng nghi kỵ, công kích lẫn nhau trong nội bộ quan lại; đồng thời, không phải mọi ý kiến thẳng thắn đều được tiếp nhận đầy đủ. Dẫu vậy, xét tổng thể, chính sách bảo vệ đại thần dưới thời Lê - Trịnh vẫn phản ánh rõ ý thức coi trọng hiền tài và nỗ lực duy trì kỷ cương trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
2. Một số nhận xét về các chính sách quan lại và bài học kinh nghiệm cho công tác cán bộ hiện nay
2.1. Một số nhận xét
Từ việc tìm hiểu các chính sách đối với quan lại dưới triều Lê - Trịnh, có thể thấy các chính sách đối với quan lại của triều Lê - Trịnh đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, duy trì và vận hành bộ máy nhà nước trong một giai đoạn lịch sử nhiều biến động.
Trước hết, việc vận dụng đa dạng các phương thức tuyển chọn, trong đó khoa cử giữ vai trò nòng cốt đã giúp triều Lê - Trịnh xây dựng được đội ngũ quan lại khá đông đảo, có nền tảng Nho học, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội. Bên cạnh đó, các hình thức bổ trợ như tiến cử, nhiệm tử hay sử dụng quan lại của triều Mạc cũng tạo ra sự linh hoạt nhất định trong việc lựa chọn nhân sự, đặc biệt phù hợp với điều kiện chính trị phức tạp của thời kỳ trung hưng.
Những ưu đãi của chính quyền Lê - Trịnh đối với đội ngũ quan lại, nhất là trong việc bổ dụng chức quan, thực thi các chế độ đãi ngộ đã tạo thêm động lực để họ hoàn thành nhiệm vụ được giao trong việc giúp nhà vua “trị nước, chăm dân”. Thực tiễn cho thấy đã xuất hiện nhiều vị quan trung thành, giàu nghĩa khí và giữ gìn phẩm chất liêm khiết, luôn hướng tới lý tưởng “kinh bang tế thế”, “trị quốc”, “bình thiên hạ” theo khuôn mẫu Nho gia. Nhiều vị quan bằng tài năng của mình đã có những đóng góp quan trọng vào việc củng cố bộ máy chính quyền cũng như xây dựng “nền công nghiệp” của vua Lê chúa Trịnh, có đóng góp trên nhiều lĩnh vực chính trị, giáo dục, văn học, sử học, triết học, tư tưởng, quân sự mà tên tuổi của họ còn được lưu trong sử sách như Vũ Thạnh, Nguyễn Đình Trụ, Phạm Công Trứ (1602 -1675), Nguyễn Quý Đức (1648 - 1720), Bùi Sĩ Tiêm (1690 - 1733), Nguyễn Bá Lân (1701 -1786), Lê Quý Đôn (1726 -1784), Bùi Huy Bích (1744 -1818), Ngô Thì Sĩ (1726 -1780), Ngô Thì Nhậm (1746 -1803) cùng nhiều nhân vật tiêu biểu khác. 
Bên cạnh đó, các quy định về khảo khóa, đánh giá năng lực của quan lại đã góp phần ràng buộc trách nhiệm, thúc đẩy việc thực thi nhiệm vụ, đồng thời từng bước hình thành cơ chế đánh giá quan lại dựa trên năng lực và hiệu quả. Chính sách bảo vệ đại thần và khuyến khích lời nói thẳng cũng tạo điều kiện nhất định để tiếp nhận ý kiến phản biện, qua đó điều chỉnh chính sự và củng cố ổn định triều chính.
Bên cạnh những tác dụng tích cực, trong chính sách tuyển chọn, một số phương thức như nhiệm tử, tiến cử hay nộp tiền bổ dụng đã dần bị lạm dụng, làm suy giảm chất lượng đội ngũ quan lại. Chính sách sử dụng quan chức của nhà nước đương thời cũng bộc lộ một số hạn chế khi chưa tuyển chọn và bổ dụng đúng người, xử phạt chưa đúng tội còn mang tính vì tình riêng trước bộ phận quan chức không có năng lực, phẩm chất. Đặc biệt, những chính sách ưu tiên, đãi ngộ với những đặc quyền đặc lợi mà nhà nước dành tặng cho tầng lớp quan chức trên con đường hoạn lộ đã trở thành “miếng mồi” vật chất có sức hấp dẫn với nghiệp làm quan hơn là lý tưởng thờ vua giúp nước. Do vậy dẫn đến hiện tượng một bộ phận quan chức tha hóa, biến chất, trở nên nhũng lạm, gian dối trên con đường quan lộ. Một số cậy quyền cậy thế bóc lột người dân như trường hợp của Đô đốc thiêm sự Tần quận công Đặng Tiến Quyền đã cậy thế, ngang ngược cướp đoạt tiền của, hàng hóa của lái buôn và lữ khách, Tham chính Sơn Nam Nguyễn Đăng Long khi đương chức đã bắt bớ, đòi hỏi, sách nhiễu quá lạm, bị sử sách nhận xét là “làm việc tầm thường”… Đặc biệt có một bộ phận đội ngũ quan chức xuất thân từ hoạn quan do thân cận với các chúa, được trao cho quyền hành rất lớn đã lấn át cả uy quyền của chúa Trịnh như trường hợp của Hoạn quan Hoàng Công Phụ (quê xã Quế Trạo, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), do thái độ ươn hèn, nhu nhược của chúa Trịnh Giang (1729 -1740) đã để cho Công Phụ có thể chuyên chính, lộng quyền, tác oai, tác phúc. Thậm chí chúa Trịnh Giang còn cho xây hành cung Quế Trạo tại quê hương của Hoàng Công Phụ để ở và hành lạc [15]. Dẫu vậy, xét trong tổng thể, các chính sách đối với quan lại dưới thời Lê - Trịnh vẫn thể hiện một nỗ lực đáng kể trong việc thể chế hóa công tác dụng nhân, góp phần duy trì trật tự hành chính và ổn định xã hội, đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham chiếu cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong các giai đoạn sau.
2.1. Bài học kinh nghiệm đối với công tác cán bộ hiện nay
Trong tiến trình phát triển của dân tộc, vấn đề lựa chọn và sử dụng con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, luôn giữ vị trí then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả tổ chức và thực thi đường lối. Nhận thức sâu sắc điều đó, V.I. Lênin đã nhiều lần khẳng định rằng muốn cách mạng thành công thì phải đặc biệt coi trọng công tác cán bộ: “Nhiệm vụ tổ chức của chúng ta chính là ở chỗ tìm ra những nhà lãnh đạo và những nhà tổ chức trong quần chúng nhân dân” [16]. Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo những tư tưởng của V.I. Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Hồ Chí Minh, luôn nhất quán khẳng định cán bộ là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với sự thành bại của cách mạng. Nhấn mạnh vị trí đặc biệt đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” [17]. Đồng thời nhấn mạnh rằng chất lượng đội ngũ cán bộ quyết định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của bộ máy và sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người cũng chỉ rõ: “Tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để có thể sử dụng tốt đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là điều kiện cơ bản cho bộ máy tổ chức Đảng và các cơ quan công quyền vận hành tốt, có hiệu quả và ít bệnh tật” [18]. Quan điểm, tư tưởng ấy của Hồ Chí Minh luôn được Đảng ta quán triệt, vận dụng linh hoạt khi tiến hành công tác cán bộ trong suốt nhiều thập kỷ. 
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, một số quan điểm sai trái đã cố tình phủ nhận vai trò của công tác cán bộ, hoặc quy kết những hạn chế mang tính cá biệt thành bản chất của cả hệ thống khi cho rằng việc tuyển chọn, sử dụng cán bộ mang tính hình thức, thiếu cơ sở khoa học. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các luận điệu này thường lợi dụng những sai phạm của một số cán bộ để “quy chụp mọi khuyết điểm… là do công tác cán bộ của Đảng”, hoặc xuyên tạc thành các biểu hiện “đấu đá phe phái”, “lợi ích nhóm” nhằm gây hoài nghi trong xã hội [19]. Những luận điệu này không chỉ phiến diện mà còn nhằm làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực tế cho thấy, ngay từ trong lịch sử, dưới thời Lê - Trịnh, vấn đề tuyển chọn và quản lý quan lại đã được đặt trong khuôn khổ thể chế với những nguyên tắc tương đối rõ ràng như đề cao học vấn, coi trọng phẩm hạnh và thực hiện các cơ chế kiểm soát thông qua khảo khóa. Điều đó khẳng định rằng, bất kỳ nhà nước nào muốn duy trì ổn định và phát triển đều phải đặc biệt chú trọng đến công tác cán bộ. 
Từ góc nhìn đó, những kinh nghiệm trong chính sách đối với quan lại thời Lê - Trịnh không chỉ phản ánh nhận thức của nhà nước quân chủ về vai trò của con người trong bộ máy cai trị, mà còn gợi mở những vấn đề có ý nghĩa tham chiếu đối với công tác cán bộ hiện nay. Trước hết, nguyên tắc kết hợp giữa tài năng và phẩm hạnh trong tuyển chọn quan lại được thể hiện qua chế độ khoa cử và khảo khóa, cho thấy yêu cầu nhất quán về việc đánh giá cán bộ dựa trên cả năng lực và đạo đức. Đây chính là cơ sở để hiện nay, Đảng và nhà nước ta tiếp tục kiên định quan điểm công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, qua đó bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong chính sách tuyển chọn nhân lực vào trong bộ máy nhà nước, luôn chú trọng lựa chọn đội ngũ trí thức được đào tạo bài bản, người có kinh nghiệm vừa giỏi về chuyên môn, vừa có phẩm hạnh.
Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa đãi ngộ và kỷ luật trong chính sách đối với quan lại thời Lê - Trịnh phản ánh nhận thức về việc thiết lập cơ chế vừa khuyến khích, vừa ràng buộc trách nhiệm. Kinh nghiệm này cho thấy, hiệu quả của bộ máy không chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng người, mà còn gắn liền với cơ chế kiểm soát và đánh giá phù hợp. Trong điều kiện hiện nay, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc ngăn ngừa tham nhũng, lợi ích nhóm, giữ vững kỷ cương, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Đồng thời, chính sách khuyến khích lời nói thẳng và bảo vệ đại thần trong lịch sử cũng cho thấy nhận thức về vai trò của phản biện trong quản trị quốc gia. Đây là kinh nghiệm có giá trị trong việc xây dựng môi trường chính trị lành mạnh, nơi cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp, những yếu tố này có thể bị lợi dụng, gây phương hại đến sự ổn định của bộ máy. Vì vậy, việc kết hợp giữa phát huy dân chủ và giữ vững kỷ luật tổ chức trở thành một yêu cầu mang tính nguyên tắc trong công tác cán bộ hiện nay.
Mặt khác, những hạn chế từng tồn tại như lạm dụng việc tiến cử, nhiệm tử hay hiện tượng “mua quan bán tước” cũng cho thấy nguy cơ suy thoái bắt nguồn từ sự thiếu minh bạch và kiểm soát quyền lực. Đây là những kinh nghiệm mang tính cảnh báo, nhấn mạnh yêu cầu phải không ngừng hoàn thiện thể chế, bảo đảm công khai, minh bạch trong tuyển dụng, bổ nhiệm và đánh giá cán bộ.
Như vậy, từ việc tìm hiểu chính sách đối với quan chức dưới triều Lê - Trịnh, có thể khẳng định rằng, dù tồn tại trong xã hội phong kiến cách đây hơn 400 năm, những nỗ lực trong tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ quan lại đã phản ánh nhận thức sâu sắc của nhà nước quân chủ về vai trò then chốt của con người trong bộ máy nhà nước. Những kinh nghiệm lịch sử ấy, khi được tiếp cận một cách khoa học và chọn lọc, vẫn còn nguyên giá trị tham chiếu đối với công tác cán bộ hiện nay. Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn hệ thống chính trị, yêu cầu đặt ra không chỉ là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, mà còn phải kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi biểu hiện xuyên tạc, phủ nhận.
Chính từ sự kết hợp giữa nhận thức lịch sử và yêu cầu thực tiễn, có thể thấy rằng việc kế thừa những giá trị tích cực của quá khứ không chỉ góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách cán bộ, mà còn củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Đây cũng là minh chứng cho sức sống bền vững của truyền thống và bản lĩnh chính trị trong tiến trình phát triển của dân tộc, tạo nền tảng vững chắc để đất nước tiếp tục phát triển ổn định và bền vững trong thời đại mới.
Tài liệu trích dẫn:
1. Đại Việt sử ký tục biên (1676 -1789), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.22-23.
2. Đại Việt sử ký tục biên (1676 -1789), Sđd, tr.172.
3. Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 -1919, Nxb. Văn học, 2006.
4. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.147.
5. Đại Việt sử ký toàn thư (phần tiếp ba tập), Tập 1 Bản kỷ tục biên (1676-1740), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982, tr.34.
6. Đại Việt sử ký tục biên (1676 -1789), Sđd, tr.82.
7. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.684.
8. Đại việt sử ký toàn thư (Phần tiếp - Ba tập), Tập 1 Bản kỷ tục biên (1676-1740), Sđd, tr.222.
9. Đại Việt sử ký tục biên (1676 -1789), Sđd, tr.179.
10. Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.52.
11. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, Tập 1, Quan chức chí, tr.699.
12. Đại việt sử ký toàn thư (Phần tiếp - Ba tập), Tập 1 Bản kỷ tục biên (1676-1740), Sđd, tr.52.
13. Đại Việt sử ký tục biên (1676 -1789); Sđd, tr.422.
14. Đại việt sử ký toàn thư (Phần tiếp - Ba tập), Tập 1 Bản kỷ tục biên (1676-1740), Sđd, tr.94.
15. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.507.
16. Lênin, Toàn tập, tập 35, Nxb. Tiến bộ, Moskva, 1966, tr.333.
17. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.269; tr.240.
18. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, Sđd, tr.240.
19. Phùng Kim Lân, “Cảnh giác với chiêu trò xuyên tạc vai trò cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta”, trên: https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/canh-giac-voi-chieu-tro-xuyen-tac-vai-tro-can-bo-va-cong-tac-can-bo-cua-dang-ta; đăng ngày: đăng ngày 31/12/2018.

Avatar: https://trinhtoc.com/chon-tot-bo-xau-nhung-chinh-sach-tien-bo-thoi-chua-trinh.html.

TS. Trịnh Thị Hà
Nguồn bài viết: Trang Thông tin Viện Sử học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1