Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến tầm nhìn Đại hội XIV của Đảng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là giá trị cốt lõi, đóng vai trò nền tảng trong hệ thống di sản tư tưởng của Người. Không chỉ kết tinh trí tuệ và bản lĩnh của vị lãnh tụ cách mạng, hệ thống quan điểm đó còn là động lực tinh thần, triết lý nhân sinh và phương thức hành động mang tính quy luật. Đây chính là cội nguồn sức mạnh quy tụ lòng dân, giúp dân tộc Việt Nam vượt qua những thử thách nghiệt ngã để giành và giữ vững độc lập, tự do. Trong bối cảnh hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, soi chiếu đường lối chiến lược của Đảng, khẳng định sức sống trường tồn đối với tiến trình phát triển dân tộc. Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo di sản đó, quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV đã nâng tầm khối đại đoàn kết toàn dân tộc thành nguồn lực nội sinh quyết định. Đây không chỉ là động lực chủ yếu để củng cố đồng thuận xã hội mà còn là tiền đề then chốt đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong bối cảnh hiện đại.
1.Tư tưởng của Hồ Chí
Minh về xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc
Cơ sở hình thành
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc là hệ thống quan điểm lý luận
mang tính chiến lược, được hình thành từ sự kết tinh biện chứng giữa truyền thống
lịch sử, văn hóa dân tộc, tinh hoa trí tuệ nhân loại và lý luận khoa học của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây không chỉ là sự kế thừa đơn thuần, mà là quá trình
chọn lọc, cải biến và nâng cao các giá trị sẵn có thành một hệ tư tưởng cách
mạng mang tính chiến lược, giữ vai trò nền tảng trong việc bảo vệ và phát triển
đường lối của Đảng. Cơ sở hình thành tư tưởng này được xác lập qua các tiền đề
luận cứ khoa học sau:
Thứ nhất, kế thừa và nâng tầm giá trị truyền thống yêu nước, tinh thần cố
kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam
Trước hết, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống yêu
nước, tinh thần cố kết cộng đồng và ý thức đoàn kết bền chặt của dân tộc Việt
Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Từ thời đại Hùng Vương đến các cuộc kháng chiến
chống ngoại xâm, đoàn kết luôn là nhân tố quyết định giúp dân tộc vượt qua
những thử thách sinh tử. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc quy luật lịch sử đó, Hồ
Chí Minh đã khái quát và nâng truyền thống đoàn kết thành một quan điểm chiến
lược có ý nghĩa chỉ đạo lâu dài đối với cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân trong lịch sử
Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin, đặc biệt là quan điểm: “Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử”. Người đã hiện thực hóa lý luận này vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam – một
xã hội thuộc địa nửa phong kiến với cơ cấu giai tầng đặc thù. Qua đó, Người
khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là phương sách tập hợp lực lượng
tạm thời, mà là động lực nội sinh quyết định sự thành bại của cách mạng. Đây
chính là phương thức khoa học để chuyển hóa sức mạnh tiềm tàng của nhân dân
thành sức mạnh vật chất hiện thực, thúc đẩy tiến trình giải phóng dân tộc và phát
triển xã hội.
Thứ ba, sự đúc kết và hoàn thiện từ thực tiễn sinh động của cách mạng Việt
Nam và thế giới
Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành và hoàn
thiện trong thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam và thế giới. Những bài
học thành công và hạn chế của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã giúp
Người nhận thức rõ vai trò then chốt của việc tập hợp lực lượng toàn dân. Đồng
thời, ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã củng cố cơ sở lý luận
và thực tiễn cho quan điểm về xây dựng khối liên minh rộng rãi giữa các giai
cấp, tầng lớp trong xã hội.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống dân tộc, lý luận cách mạng khoa học và
thực tiễn đấu tranh đã tạo nên tính đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại
đoàn kết toàn dân tộc. Đây là hệ tư tưởng có chiều sâu lịch sử, giá trị lý luận
bền vững và ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng và định hướng sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong
các giai đoạn lịch sử.
Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc
Với nhãn quan chính trị và tinh thần nhân văn sâu sắc, suốt cuộc đời hoạt động
cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, bổ sung và hoàn thiện
hệ thống quan điểm toàn diện về đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư tưởng đó được Hồ
Chí Minh kiên trì truyền bá trong toàn Đảng, hệ thống chính quyền và các tầng
lớp nhân dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trở thành nền tảng
tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vị trí,
vai trò đặc biệt quan trọng của việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
thể hiện tập trung ở một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, đại đoàn kết là chiến lược sống còn, quyết định thành bại của cách
mạng
Tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết không chỉ là một giá trị đạo đức hay khẩu hiệu
vận động, mà là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách
mạng. Người cho rằng, muốn đưa cách mạng đến thành công phải có lực lượng đủ
mạnh; muốn có lực lượng đủ mạnh thì phải quy tụ được toàn dân thành một khối
thống nhất. Thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng điển hình cho
sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc: mặc dù có những điều kiện quốc tế
thuận lợi, song yếu tố quyết định thắng lợi vẫn là sức mạnh đoàn kết của toàn
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Từ thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Sử dạy cho ta bài học
này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do.
Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” . Và, Hồ Chí
Minh khuyên rằng: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: “Đồng tình, đồng sức, đồng lòng,
đồng minh” . Đây chính là con đường đưa dân tộc ta đi tới thắng lợi, độc lập,
tự do.
Thứ hai, đại đoàn kết là mục tiêu, động lực và nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc không đơn thuần là một biện pháp tổ
chức lực lượng cách mạng, mà là vấn đề mang tầm đường lối chiến lược, xuyên
suốt toàn bộ tiến trình cách mạng. Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu,
nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân
tộc. Người khẳng định, đại đoàn kết trước hết và trên hết là nhiệm vụ của
quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Đảng giữ vai trò lãnh đạo, có sứ
mệnh thức tỉnh, tổ chức, tập hợp nhân dân thành một lực lượng thống nhất, tạo
nên sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do cho nhân
dân và hạnh phúc cho con người. Vì vậy, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
vừa là điểm xuất phát, vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối, chủ trương của
Đảng. Hồ Chí Minh khẳng định, mục đích của Đảng Lao động Việt Nam bao gồm tám
chữ “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc” .
Thứ ba, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm “dân” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm
tất cả người con đất Việt, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, tín
ngưỡng hay không tín ngưỡng, giới tính, độ tuổi, giàu nghèo hay nguồn gốc xã
hội. Nói đến đại đoàn kết toàn dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp mọi người dân
vào một khối trong cuộc đấu tranh chung.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đồng thời nhấn mạnh rằng, đại đoàn kết phải dựa trên nền
tảng vững chắc là liên minh công nhân – nông dân và các tầng lớp lao động. Trên
nền tảng đó, Người chủ trương mở rộng đoàn kết với mọi lực lượng, kể cả những
người trước đây có lập trường khác, miễn là họ thực sự tán thành mục tiêu hòa
bình, thống nhất, độc lập và dân chủ. Hồ Chí Minh cho rằng: “Đại đoàn kết tức
là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công
nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác… Bất kỳ ai mà thật thà tán thành
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống
chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” . Quan điểm này thể
hiện rõ tư duy bao dung, linh hoạt nhưng kiên định nguyên tắc của Hồ Chí Minh
trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tư, mặt trận Dân tộc Thống nhất là hình thức tổ chức thiết chế của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (tiền thân là Hội Phản đế Đồng minh) được
thành lập vào ngày 18/11/1930 và đã trải quan nhiều tên gọi khác nhau, đến tháng
02/1977 đổi tên thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây là tổ chức quan trọng tập
hợp các lực lượng dân tộc đoàn kết lại với nhau. Nguyên tắc hoạt động của Mặt
trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam là: lấy liên minh công – nông – trí thức làm
nền tảng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam; lấy nguyên
tắc hiệp thương dân chủ và lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng
cố, không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc; đoàn kết lâu dài, chặt chẽ,
đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Phương châm
đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh được thể hiện cô
đọng qua nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” – đề cao những điểm tương đồng, tôn
trọng khác biệt, qua đó tạo lập sự thống nhất trong đa dạng. Tinh thần ấy gắn
liền với thái độ khoan dung, độ lượng, “khoan hồng đại độ” , trở thành cơ sở tư
tưởng quan trọng bảo đảm cho Mặt trận thực hiện hiệu quả vai trò là hình thức
tổ chức tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ năm, đại đoàn kết là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng và vì quần
chúng
Hồ Chí Minh từng nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế
giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” ; lực lượng của dân
rất lớn, khả năng của dân thật phi thường. Người dặn dò cán bộ, đảng viên phải
gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời dân thì tài mấy cũng
không làm gì được. Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân. Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết không phải là chủ trương, sách
lược xuất phát từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh đạo mà là nhu cầu, đòi hỏi
khách quan của quần chúng trong cuộc đấu tranh tự giải phóng. Do vậy, xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc là sự nghiệp của quần chúng, vì quần chúng. Lực lượng
lãnh đạo chỉ có sứ mệnh thức tỉnh, hướng dẫn quần chúng chuyển những nhu cầu
khách quan, tự phát về đoàn kết thành nhu cầu tự giác, hiện thực, có tổ chức để
trở thành sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Đây chính là điểm đặc sắc thể hiện tư
duy dân chủ, khoa học và nhân văn sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2. Tầm nhìn Đại hội XIV về đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh phát
triển hiện nay
Tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội XIV của Đảng xác định xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc là chiến lược cốt lõi, lấy mục tiêu: Hòa bình, độc lập,
dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm điểm tương đồng để quy
tụ sức mạnh dân tộc. Quan điểm trọng tâm là khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát
triển, phát huy giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam; đồng thời gắn
kết chặt chẽ đại đoàn kết với thực thi dân chủ, bảo đảm an sinh xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Bước sang nhiệm kỳ Đại hội XIV, đất
nước đứng trước vận hội lịch sử: Kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình
của dân tộc.Đây là giai đoạn đòi hỏi sự phát triển nhanh, bền vững và hội nhập
quốc tế sâu rộng; đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc giải quyết các
vấn đề xã hội nảy sinh từ quá trình vận hành kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp luật xã hội chủ nghĩa. Trong bối
cảnh đó, Đại hội XIV đã đề ra những định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục phát
huy vai trò của Nhân dân, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và củng cố khối đại
đoàn kết toàn dân tộc lên một tầm cao mới. Sự phát triển này không chỉ thể hiện
ở sự hoàn thiện về nhận thức lý luận, mà còn phản ánh bước chuyển quan trọng
trong tư duy, phương thức lãnh đạo và mô hình quản trị quốc gia.
Các điểm mới trọng tâm
bao gồm:
Thứ nhất, xác lập vị thế nhân dân là chủ thể trung tâm, động lực chủ đạo của
tiến trình đổi mới
Đại hội XIV xác định: “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” . Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh về ngôn từ,
mà là bước chuyển quan trọng về tư duy cầm quyền. Quan điểm này hàm ý rằng nhân
dân không chỉ “được phục vụ” mà còn được trao quyền tham gia thực chất; sự phát
triển của đất nước không chỉ do hệ thống chính trị dẫn dắt, mà là quá trình đồng
kiến tạo giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; quyền làm chủ của nhân dân luôn gắn
chặt với trách nhiệm công dân và nghĩa vụ đối với cộng đồng, quốc gia.
Thứ hai, quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”
thành nguyên tắc chi phối toàn bộ hoạt động lãnh đạo, quản lý và đánh giá hiệu
quả cầm quyền
Đại hội XIV nhấn mạnh: Tư tưởng xuyên suốt trong Văn kiện, cũng là nguồn sức
mạnh của cách mạng Việt Nam – “Dân là gốc” . Mọi chủ trương, chính sách phải
hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; đảm bảo quyền
làm chủ của nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào nhân dân. Đảng phải gắn
bó mật thiết với nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân
dân, chịu trách nhiệm về mọi quyết định của mình. Niềm tin của nhân dân đối với
Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của
cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp…Đảng ta không chỉ nhấn mạnh “đúng đường lối”, mà
đặt yêu cầu “đúng và trúng với nhân dân”; hiệu quả cầm quyền không chỉ được đo
bằng tăng trưởng hay ổn định, mà còn bằng niềm tin xã hội và mức độ đồng thuận;
quyền con người, quyền công dân.
Thứ ba, nhận thức mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa: Thống nhất giữa quyền
lợi, kỷ cương và lợi ích quốc gia
Kế thừa Đại hội XIII, Đại hội XIV đặt dân chủ trong chỉnh thể thống nhất với
trật tự, kỷ cương và lợi ích tối cao của dân tộc. Điểm mới căn bản là việc phân
định rõ ranh giới giữa dân chủ thực chất với dân chủ hình thức, giữa phát huy
quyền làm chủ với việc ngăn chặn các hành vi lợi dụng dân chủ gây bất ổn. Pháp
luật về phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân
ngày càng hoàn thiện. Dân chủ được nhìn nhận như một phương thức quản trị xã
hội đòi hỏi tính kỷ luật và thượng tôn pháp luật, bảo đảm sự ổn định chính trị
để phát triển đất nước.
Thứ tư, đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng cao thành nguồn lực chiến lược
và “thế trận lòng dân” bền vững
Đại hội XIV phát triển đại đoàn kết thành một nguồn lực nội sinh chiến lược,
gắn liền với bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam. Đại đoàn kết không chỉ là
yêu cầu chính trị mà còn là thành tố quyết định sức mạnh tổng hợp quốc gia
trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và biến động toàn cầu. Đây là nền tảng để
xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa , kết hợp
nhuần nhuyễn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bởi thế trận lòng dân vững
thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hóa giải, đúng như lời
Bác Hồ đã dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu – Khó vạn lần dân liệu cũng
xong” .
Thứ năm, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và và các tổ
chức chính trị - xã hội
Mặt trận và và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động, trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đổi mới thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:
Một là, chuyển từ nội dung, phương thức hoạt động đơn điệu, tuyên tuyền, thuyết
phục là chủ yếu sang nội dung nắm bắt, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng,
nhu cầu của hội viên và chăm lo, bảo vệ lợi ích của hội viên.
Hai là, chuyển dịch mạnh mẽ từ tình trạng hành chính hóa, sang dân chủ hóa các
hoạt động, phát huy tính năng động, chủ động, sáng tạo.
Ba là, nội dung, phương thức hoạt động không ngừng được mở rộng, đa dạng hóa và
linh hoạt .
Thứ sáu, gắn kết đại đoàn kết với xây dựng Nhà nước pháp quyền và quản trị
quốc gia hiện đại
Bước phát triển mang tính bước ngoặt của Đại hội XIV là gắn sức mạnh đại đoàn
kết với yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quyền làm chủ
của nhân dân phải được thể chế hóa bằng cơ chế pháp lý, trách nhiệm giải trình
và kiểm soát quyền lực minh bạch. Đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ bền vững khi
dựa trên nền tảng của công bằng, lẽ phải và sự thượng tôn pháp luật.
Những quan điểm mới của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc đã khẳng định bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và nghệ thuật
lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên mới. Trọng tâm xuyên suốt là xác lập nhân dân
là chủ thể của tiến trình đổi mới; nâng “Dân là gốc”: Thước đo cao nhất của mọi
quyết sách, thành chuẩn mực đo lường năng lực lãnh đạo và hiệu quả quản trị;
đặt dân chủ trong chỉnh thể thống nhất với kỷ cương, trách nhiệm và lợi ích
quốc gia - dân tộc; đồng thời nâng đại đoàn kết toàn dân tộc lên thành nguồn
lực chiến lược gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” bền vững. Trên nền tảng đó,
yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo thành cơ chế,
chính sách và phương thức tổ chức thực hiện đủ mạnh, đủ thực chất, đủ thuyết
phục, để đại đoàn kết toàn dân tộc thực sự trở thành động lực nội sinh quyết
định của phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên
mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, như Bác Hồ đã nhấn mạnh: “Đoàn kết là
sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi” .
Trong kỷ nguyên mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
luôn, sẽ và mãi có giá trị quan trọng, ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc đổi
mới, huy động trí lực và tài lực của toàn dân tộc Việt Nam để thúc đẩy sự phát
triển của đất nước. Để thực hiện tốt hơn nữa việc xây dựng, phát huy sức mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, các phương pháp tuyên truyền, giáo dục về tư
tưởng, đa dạng hóa các tổ chức và hài hòa các mối quan hệ giữa các tầng lớp
nhân dân là những biện pháp hữu hiệu trong xây dựng và phát huy tối đa sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc là
một hệ thống lý luận mở mang tính thời đại, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa
và vận dụng sáng tạo qua các kỳ Đại hội nhằm thích ứng với mọi hoàn cảnh lịch
sử khác nhau. Trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, hệ giá trị này không
chỉ đóng vai trò là nền tảng liên kết các tầng lớp xã hội mà còn là động lực
khơi dậy khát vọng kiến tạo và cống hiến cho Tổ quốc. Việc phát huy sức mạnh
đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm của Đảng không chỉ là bài học về tổ chức,
quản trị mà còn là biểu tượng của bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó chính là cội
nguồn sức mạnh để chúng ta biến những thách thức thời đại thành cơ hội, vững
bước trên con đường đổi mới và phát triển đất nước giàu mạnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIV, tập 1,, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội,
3. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia
Sự thật, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị Quốc
gia Sự thật, Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị Quốc
gia Sự thật, Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị Quốc
gia Sự thật, Hà Nội.
7. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị Quốc
gia Sự thật, Hà Nội.
8. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 14, Nxb. Chính trị Quốc
gia Sự thật, Hà Nội.
9. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật,
Hà Nội
10. Avatar: Bác
Hồ với đồng bào dân tộc thiểu
số, https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/06/01/dai-doan-ket-dan-toc-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-nhin-tu-dai-hoi-xiii-cua-dang/