Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Chợ truyền thống Việt Nam qua tư liệu văn bia

24/10/2016


Cơ quan soạn thảo: Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tác giả :
  • PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh (chủ biên)

Địa chỉ liên hệ: Viện Nghiên cứu Hán Nôm; Nhà xuất bản Khoa học xã hội

Năm xuất bản: 2015

Số trang: 717

Chợ là nơi giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội thường xuyên giữa các địa phương để đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt của người dân, đồng thời góp phần củng cố mối liên hệ cộng đồng cư dân của nhiều địa phương trong vùng trong xã hội Việt Nam từ hàng trăm năm nay, và là đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung tìm hiểu chợ làng hay chợ quê. Tuy nhiên, trên thực tế, chợ không những tồn tại ở các làng xã, mà còn ở các phố phường, hay ở các chùa chiền nên khái niệm chợ truyền thống được sử dụng nhằm bao quát cho các loại hình chợ nói trên.

Nội dung cuốn sách được trình bày trong 2 phần: 1) Phần giới thiệu và tuyển dịch 66 văn bia có nội dung về chợ truyền thống ở Việt Nam; 2) Phụ lục ảnh thác bản văn bia, văn bia được tuyển dịch và giới thiệu xếp thứ tự từ 1 đến 66, các ảnh phần phụ lục được đánh số thứ tự tương ứng với phần tuyển dịch. Việc sắp xếp thứ tự này, về cơ bản là xếp theo lịch đại, bia có niên đại sớm xếp trước và bia có niên đại muộn xếp sau. Mỗi văn bia tuyển dịch có 2 phần: Phần chép lại chữ Hán từ nguyên bản và phần dịch nghĩa. Để phục vụ nhu cầu khai thác tư liệu văn bia Hán Nôm ghi chép về chợ truyền thống ở Việt Nam, nhóm biên dịch thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tổ chức sưu tập và biên dịch 92 văn bia, nhưng do khuôn khổ của cuốn sách, nên nhóm tác giả chỉ tuyển chọn và giới thiệu 66 văn bia.

Theo lẽ tự nhiên, trong sinh hoạt đời sống, khi con người có nhu cầu trao đổi hàng hóa, tất yếu sẽ nảy sinh những địa điểm tụ họp để mọi người có điều kiện gặp gỡ giao lưu và trao đổi hàng hóa. Những địa điểm tụ họp đó, có thể to, có thể nhỏ, nhưng phải thỏa mãn yêu cầu là một địa điểm công cộng thuận tiện nhất trong vùng. Cứ thế, trải qua năm tháng, sinh hoạt giao lưu hàng hóa diễn ra và thành lệ, được mọi người gọi là chợ. Tuy nhiên, chợ truyền thống Việt Nam thời cổ trung đại có từ bao giờ thì chưa thể xác định được thời điểm chính xác. Tư liệu văn bia ghi một cách chung chung: Chợ là nơi hội tụ của trăm vật, thánh nhân sáng tạo ra để thỏa nhân tình; chuông là một trong ngũ âm, Phật dùng để truyền pháp. Hai thứ đó không thể để mất được. Thiết nghĩ xã Lê Xá huyện Gia Viễn phủ Trường An xưa là đất Ái Châu nổi tiếng, từ xưa đã lập nên chợ quy mô. Hoặc: Chợ sở dĩ là để buôn bán, lưu thông hàng hóa vậy. Hàng hóa là nơi buôn bán giữa các nghề, nếu như không có chợ thì làm sao có thể lưu thông vàng, bạc, tiền, lụa được. Nếu không có chợ thì việc trao đổi làm sao thuận lợi được. Từ xưa đã có chợ, lo cho dân mà làm ra chợ thường ngày, chợ là nơi trao đổi hàng hóa trong thiên hạ, nó là chỗ có tình người mà lâu bền như trời đất vậy, đến nay dân vẫn còn đội ơn sâu…

Căn cứ vào sử liệu, cuốn sách ghi về chợ ở Việt Nam sớm nhất là An Nam tức sự của Trần Phu (tức Trần Cương Trung), một sứ giả nhà Nguyên đi sứ sang nước ta vào năm 1293 thời Trần, và đã biên soạn sách trong dịp này. An Nam tức sự được chép trong cuốn Bắc thư tải nam sự, lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Chợ ở Việt Nam thời kỳ này được Trần Phu mô tả: “Cứ hai ngày họp một phiên, hàng hóa trăm thứ bày la liệt. Hễ cách năm dặm thì dựng một ngôi nhà 3 gian, bốn mặt đặt chõng để làm nơi họp chợ”.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi, ngày 6 tháng 10 (mùa đông) năm Hồng Đức thứ 8 (1477) có định lệ mở chợ mới: "Ra sắc chỉ rằng: sinh dân các huyện, châu, xã ở các xứ trong nước mỗi ngày một đông, nếu muốn mở thêm chợ mới để tiện mua bán thì quan phủ, huyện, châu phải khám xét thực tế, nếu quả là tiện lợi cho dân thì làm bản tâu lên, cho theo tiện lợi mà họp chợ, không cứ là có ngạch cũ hay không”.

Ý nghĩa của việc lập chợ, mục đích chính là trao đổi hàng hóa, phục vụ nhu cầu đời sống sinh hoạt của nhân dân. Năm 2003, Đỗ Thị Bích Tuyển đã thực hiện luận văn về đề tài Nghiên cứu về hệ thống văn bia chợ ở Việt Narn. Luận văn đã tập trung nghiên cứu các vấn đề: (1) Một số vấn đề chung về văn bia và văn bia chợ Việt Nam. (2) Đặc điểm văn bia chợ (gồm văn bia chợ làng, văn bia chợ Tam bảo; trong đó tìm hiểu về kích thước văn bia chợ, chữ húy trên văn bia chợ, chữ Nôm trên văn bia chợ, thành phần tham gia soạn văn bia chợ). (3) Tình hình phân bố văn bia chợ về không gian và thời gian. (4) Một số vấn đề về chợ làng (gồm địa điểm mở chợ, quy mô chợ làng, mối liên hệ giữa chợ làng với chợ phố phường). (5) Những quy định của chợ làng (gồm quy định phiên chợ, quy định về hàng hóa, quy định việc quản lý và thu thuế, việc giải quyết tranh chấp giữa các chợ làng). (6) Giá trị tư liệu của văn bia với việc phản ánh những hoạt động về kinh tế nông thôn thời phong kiến (gồm phản ánh những hoạt động về kinh tế nông thôn, phản ánh nét văn hóa làng quê qua việc mở chợ). (7) Lập danh mục văn bia chợ với 83 đơn vị, theo 8 yếu tố thư mục và tuyển dịch 10 văn bia.

Ngoài những vấn đề mà tác giả Đỗ Thị Bích Tuyển đã nêu trong luận văn, các tác giả còn bổ sung một số giá trị về lịch sử, tư tưởng Tam giáo, kinh nghiệm xã hội hóa nguồn lực trong xã hội… mà văn bia Hán Nôm về chợ truyền thống Việt Nam ghi chép.

Hy vọng cuốn sách sẽ đem lại một số thông tin hữu ích cho những ai quan tâm muốn tìm hiểu về chợ truyền thống của Việt Nam qua tư liệu văn bia. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả./.

 

Nguyễn Thu Hà


Các tin đã đưa ngày: