Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Các dân tộc ở Việt Nam (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt Mường)

09/03/2017


Cơ quan soạn thảo: Viện Dân tộc học

Tác giả :
  • Vương Xuân Tình (chủ biên)

Địa chỉ liên hệ: Viện Dân tộc học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

Năm xuất bản: 2015

Số trang: 764

“Các dân tộc ở Việt Nam (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt Mường)” là một trong bốn tập của bộ sách “Các dân tộc ở Việt Nam”: Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt – Mường; Tập 2: Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Kađai; Tập 3: Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme; Tập 4: Nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao, Hán, Tạng – Miến và Mã Lai – Đa Đảo, do PGS.TS. Vương Xuân Tình, Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam làm chủ biên.

Trong Tổng luận nghiên cứu tộc người và một số vấn đề về dân tộc ở Việt Nam, tác giả đã nêu lên bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước ảnh hưởng đến các dân tộc ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Tình hình trong nước, các chính sách kinh tế thị trường, đất đai và việc xóa bỏ mô hình hợp tác xã kiểu cũ, chính sách phát triển đối với các dân tộc thiểu số đã góp phần nâng cao đời sống của người dân nhất là đối với dân tộc thiểu số. Các cuộc di cư tự do vào Tây Nguyên, nhất là trong những năm 90 của thế kỷ XX đã làm đảo lộn phân bố dân cư, dân tộc và làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc tại chỗ vùng Tây Nguyên. Trên thế giới, việc hình thành trục hành lang kinh tế khu vực Tiểu vùng sông Mekong đã làm gia tăng quan hệ dân tộc xuyên quốc gia. Bên cạnh đó, hoạt động của một số tổ chức phản động, lực lượng ly khai ở nước ngoài cũng ảnh hưởng tới nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Vài nét về nghiên cứu tộc người ở Việt Nam, tác giả đã nêu lên một số yêu cầu và bối cảnh mới trong nghiên cứu về tộc người trong việc nhận diện các tộc người ở Việt Nam hiện nay. Tác giả đã nêu khá đầy đủ các chính sách về dân tộc liên quan tới xóa đói giảm nghèo, giáo dục và đào tạo, y tế, đất đai, đầu tư và các chính sách riêng đối với vùng dân tộc thiểu số; vấn đề quan hệ dân tộc cũng được đề cập, phân tích với những dẫn chứng khoa học.

Người Kinh (Việt) cư trú trên tất cả các tỉnh của đất nước. Tác giả đã phác thảo chân dung của người Kinh ở đồng bằng, trung du, châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, ven biển Trung - Nam Trung Bộ, và Nam Bộ, cũng như người Việt ở miền núi: Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên. Qua đó, nêu lên những điểm tương đồng và khác biệt của người Việt ở các vùng địa lý khác nhau.

Người Mường cư trú trên một vùng đồi núi khá rộng nằm giữa vùng người Việt ở phía Đông và vùng người Thái ở phía Tây, chủ yếu là ở tỉnh Hòa Bình và một số tỉnh khác như Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La cùng với một số tỉnh ở phía Nam. Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống của cộng đồng người Mường, vai trò của kinh tế hộ gia đình đã được khẳng định. Vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn đã phát triển khá toàn diện, phát huy hiệu quả các nguồn lực như đất đai, lao động… từng bước gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân, đời sống người Mường được cải thiện.

Người Thổ cư trú ở vùng trung du và miền núi hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, là dân tộc có dân số đứng thứ 21 trong 54 dân tộc ở Việt Nam với nhiều nhóm địa phương. Nông nghiệp nương rẫy là chủ yếu, ở vùng thấp có trồng lúa nước. Hiện nay, người Thổ đang đứng trước những khó khăn và thách thức, đặc biệt là sự chênh lệch phát triển giữa các nhóm ở vùng cao với các nhóm ở vùng thấp.

Người Chứt cư trú ở hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh, là một trong những tộc người có dân số ít do sống biệt lập trong một thời gian dài với điều kiện địa lý khắc nghiệt nên có nhiều cách trở so với sự phát triển của xã hội. Bởi vậy, đây là một trong 10 tộc người có trình độ phát triển thấp nhất ở nước ta. Họ là những cư dân nông nghiệp, làm nương rẫy và săn bắn, hái lượm. Nhờ các dự án phát triển kinh tế - xã hội dân tộc miền núi, đời sống của người Chứt đã có những chuyển biến rõ rệt, kinh tế liên bản đã được hình thành, cơ sở hạ tầng từng bước được cải thiện. Mặc dù vậy, người Chứt vẫn đang đứng trước các thách thức về phát triển, như việc nâng cao đời sống kinh tế, giảm tỷ lệ hộ nghèo…

Hy vọng rằng cuốn sách là nguồn tư liệu quý giúp cho các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo, quản lý hiểu sâu hơn về mỗi dân tộc, từ đó có những chính sách dân tộc phù hợp, góp phần nâng cao hơn nữa tinh thần đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu./.

Nguyễn Thu Hà


Các tin đã đưa ngày: