Bản sắc tộc người trong xã hội đa văn hóa: nhìn từ nghệ thuật trình diễn
Trích: Tham luận “Nghệ thuật trình diễn của tộc người thiểu số: Bản sắc và sự tương tác trong xã hội đa văn hóa”, Hội thảo khoa học quốc tế “Khoa học xã hội, nhân văn và giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số”, tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 27-28/11/2025.

Trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, bản sắc tộc người được hiểu là những phẩm chất văn hóa hình thành trong quá khứ, thích nghi với điều kiện sống của một tộc người trong suốt quá trình lịch sử tồn tại và phát triển cho đến hiện tại, vẫn được họ bảo lưu, tiếp tục sáng tạo, bồi đắp, mang đặc trưng riêng có của tộc người đó. Cái gọi là “bản sắc” chỉ có ý nghĩa khi đặt vào các mối liên hệ giữa các chủ thể văn hóa với nhau: giữa cá nhân với cộng đồng, giữa cộng đồng với cộng đồng, hay giữa cộng đồng với nhà nước, và giữa các quốc gia. Người Việt Nam có câu “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, tức là công nhận mỗi người có bản tính riêng thiên bẩm, như thế, “bản sắc” còn có thể được đặt ra trong sự tương tác giữa các cá nhân. Bản tính riêng của một người chi phối nhất định đến hành vi, cách ứng xử của người đó với gia đình, người thân, hàng xóm láng giềng hoặc những người khác, ở những nơi khác nhau mà anh ta có dịp tiếp xúc và trong suốt cuộc đời của anh ta. Nếu văn hóa thể hiện qua hành vi và cách ứng xử của con người thì mỗi người có cách biểu hiện văn hóa riêng, có thể gọi là bản sắc của người đó.

Nhưng con người, trong quá trình trưởng thành, luôn gắn với một cộng đồng gia đình, xóm làng. Con người cá thể hấp thụ một cách tự nhiên truyền thống văn hóa cúa gia đình và cộng đồng. Cho đến trưởng thành, bản sắc của một người được kiến tạo và bồi đắp từ văn hóa cộng đồng tộc người, nơi anh ta sinh ra và lớn lên. Ở Việt Nam, truyền thống văn hóa luôn đề cao cộng đồng, đến mức hiện nay ở nhiều vùng quê người ta vẫn coi hình phạt lớn nhất trong cuộc đời một cá nhân là bị cộng đồng tẩy chay. Nhìn chung, ở Việt Nam, ngay cả khi đã qua hàng thế kỷ tiếp nhận văn hóa Phương Tây và trong bối cảnh giao lưu văn hóa toàn cầu hiện nay, văn hóa cá nhân hay bản sắc cá nhân vẫn luôn gắn chặt với văn hóa cộng đồng hay bản sắc cộng đồng. Đó là truyền thống văn hóa đã ăn sâu vào tư duy, tình cảm của người Việt Nam. Khi bản đến “bản sắc” người Việt Nam hiểu là bàn đến bản sắc văn hóa tộc người, bản sắc văn hóa vùng miền hoặc rộng hơn, bản sắc văn hóa quốc gia.

Trong điều kiện tương tác trực tiếp, việc thể hiện bản sắc giữa những nhóm người có sự khác biệt văn hóa diễn ra một cách gần như là lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, trong trường hợp ngôn ngữ khác biệt, phi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp thường thấy. Một trong số các kiểu giao tiếp phi ngôn ngữ là dùng nghệ thuật trình diễn - một lĩnh vực nghệ thuật, trong đó, các hình thức nghệ thuật chỉ hiện ra khi có hành vi thể hiện trực tiếp của con người. Thế mạnh của việc sử dụng nghệ thuật trình diễn ở chỗ có thể giúp những người tham gia tương tác tiếp nhận văn hóa của nhau nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo tính chân thực. Mục đích giao tiếp hay tương tác trong xã hội đa văn hóa là để hiểu biết lẫn nhau, mở rộng tri thức về nền văn hóa của nhau. Thay vì mất nhiều thời gian học ngôn ngữ khác, người tương tác chỉ cần quan sát nghệ thuật trình diễn là có thể cảm nhận được một khía cạnh bản sắc tộc người đáng để biết nhất ở phía đối tác. Bởi vì nghệ thuật trình diễn thể hiện tập trung những nét đẹp, tư duy thẩm mỹ độc đáo, đại diện cho bản sắc văn hóa tộc người.

Xã hội đa văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam

Người Việt Nam giải thích sự xuất hiện của con người qua “Sự tích con Rồng cháu Tiên”, kể chuyện Âu Cơ (chim/tiên trên rừng) lấy Lạc Long Quân (rồng dưới nước/biển), sinh một bọc trăm trứng, nở ra trăm người con, đó là tổ tiên của người Việt. Truyền thuyết cho thấy, từ xa xưa, đất Việt đã đa tộc người, hàm ý các tộc người cùng ở trên đất Việt thì đều chung cội nguồn, đều là anh em. Không chỉ coi các tộc người bản địa là anh em, trong tiến trình lịch sử người Việt Nam còn sẵn sàng tiếp nhận, dung nạp các tộc người từ miền đất khác di cư đến. Từ khoảng thế kỷ XVI cho đến cuối thế kỷ XIX, có những tộc người từ Nam Trung Quốc di cư sang. Chẳng hạn như người Mông, di cư đến Việt Nam với nhiều đợt, rải rác cách quãng từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Họ phải di cư vì luôn bị người Hán, sau đó là người Mãn Thanh truy sát do không chấp nhận đồng hóa, không chịu khuất phục [i]. Ngày nay, người Mông ở Việt Nam chung sống bình đẳng, có đủ các quyền và nghĩa vụ như tất cả các dân tộc anh em khác. Nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa, xã hội đa văn hóa ở Việt Nam rất khác với xã hội đa văn hóa ở Hoa Kỳ, Canada, những nơi mà sự tôn trọng sự đa dạng văn hóa chỉ được nhà nước thừa nhận và được luật hóa dựa trên học thuyết chính trị mang tên “đa văn hóa” từ nửa sau thế kỷ XX, bắt nguồn từ những vấn đề bất ổn, xung đột sắc tộc trong quốc gia. Đó là sự thừa nhận của người da trắng, vốn không phải dân bản địa, với cư dân bản địa và người da đen (Nicolas Journet, 2011).

Ở Việt Nam, câu chuyện đa văn hóa cùng sống trong xã hội là hiển nhiên từ hàng thiên niên kỷ trước cho đến nay. Ngay cả trong thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, kết quả là những người phương Bắc (Trung Hoa) thống trị không thể đạt được mục đích đồng hóa các dân tộc Việt mà ngược lại, họ bị bản địa hóa, đa số trở thành người Việt, chấp nhận xã hội đa văn hóa bản địa, số ít người Hoa cố gắng bảo tồn gốc văn hóa Trung Hoa trở thành một dân tộc thiểu số trong số 53 dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay. Ngày nay, Việt Nam có 54 dân tộc. Theo tỷ lệ dân số, chỉ có một dân tộc đa số (người Kinh), còn lại là các dân tộc thiểu số [ii]. Không kể đa số hay thiểu số, mỗi dân tộc có truyền thống văn hóa lâu đời và luôn có ý thức gìn giữ tiếp nối bản sắc như một cách khẳng định sự hiện diện trong tương tác, giao tiếp với các tộc người khác trong cùng quốc gia. Ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi tộc người ở Việt Nam, nhìn chung, không gây mâu thuẫn sắc tộc mà ngược lại, như một sự cộng hưởng cho sự thấu hiểu lẫn nhau, góp phần xây dựng khối đoàn kết các dân tộc. Điều này đã được minh chứng qua lịch sử hàng ngàn năm chống ngoại xâm của người Việt Nam, các tộc người đã chung sức cùng nhau vượt qua khó khăn gian khổ, chiến đấu giành độc lập cho Tổ quốc.

Ở Việt Nam, cụm từ “bản sắc dân tộc” được ghi nhận trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản khóa VIII (16/7/1998) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Nghị quyết khẳng định “Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Đây là một định hướng quan trọng mang tính chiến lược cho phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Kể từ đó, từ “bản sắc” được dùng khá phổ biến trong cả văn bản hành chính, bài báo, bài nghiên cứu và cả trong giao tiếp đời thường. Chẳng hạn trong bữa nhậu thân mật, sau khi cạn chén rượu, ở Bắc Giang người ta bắt tay nhau và gọi đó là “bản sắc Bắc Giang”. Hoặc khi tường thuật bóng đá trên hệ thống truyền thông quốc gia, người tường thuật cũng thích dùng từ “bản sắc” để chỉ phong cách chơi của một đội bóng. Chẳng hạn khi đội bóng của họ chơi dở, người tường thuật nói rằng đội bóng đã “đánh mất bản sắc”; ngược lại trong trường hợp chơi tốt, anh ta nói đội bóng đã thể hiện đúng “bản sắc” của mình.

Nghệ thuật trình diễn và bản sắc dân tộc thiểu số

Nghệ thuật trình diễn được các dân tộc thiểu số Việt Nam sử dụng trong nhiều trường hợp: tiếp khách, lễ cưới, đón tết, lễ hội, và cả đám tang khá phổ biến ở nhiều tộc người [iii]. Bên cạnh đó, ở một số tộc người vẫn lưu giữ phong tục hát giao tiếp, hát giao duyên nam nữ, như người Mường, người Ê Đê, người Giáy, người Mông… và còn những tộc khác nữa nằm ngoài hiểu biết của chúng tôi. Gắn chặt với văn hóa, và như là văn hóa, nghệ thuật trình diễn của các dân tộc thiểu số Việt Nam mang những phẩm chất đặc trưng, có thể coi là bản sắc văn hóa tiêu biểu cho nền văn hóa truyền thống Việt Nam, một “nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.

Nhìn chung, có thể xác định rằng nghệ thuật trình diễn của các tộc người thiểu số Việt Nam mang những đặc điểm sau: tính nguyên hợp, tính thực dụng, tính độc đáo, tính địa phương, tính đại diện.

Đầu tiên, khi đề cập đến tính nguyên hợp, cần phải nhận thức rằng ở tất cả các tộc người thiểu số, nghệ thuật trình diễn đều là sự phối hợp các yếu tố biểu diễn (hát, âm nhạc, múa, sự kiện) không thể chia tách. Chẳng hạn, người Mông trình diễn khèn để tiễn biệt người chết trong đám tang phải có trống, người thổi khền vừa thổi vừa múa cùng tiếng trống và di chuyển quanh trống, người đánh trống phải hiểu tiếng khèn để đánh đúng kiểu và đúng thời điểm hòa hợp với nhau; hơn nữa, người Mông chỉ được dùng trống khi có đám tang. Như vậy, trường hợp này không thể tách sự trình diễn các yếu tố riêng: múa, âm nhạc, nghi lễ. Một ví dụ khác, trường hợp nghi lễ cấp sắc của người Dao (nghi lễ bắt buộc phải có trong tín ngưỡng vòng đời của họ) được thực hiện bằng nghệ thuật trình diễn, trong đó yếu tố nổi bật là múa. Tùy theo mục đích và nội dung của từng lễ thức mà người Dao múa như thế nào và theo đội hình nào, những người thực hành các điệu múa, trên tay thường cầm chuông, lắc rung theo nhịp, bên cạnh đó không thể thiếu ban nhạc gồm kèn dăm búp và trống, chiêng. Như thế, trường hợp này cũng không thể tách múa, nhạc, nghi lễ ra khỏi tổng thể lễ cấp sắc của người Dao. Còn rất nhiều ví dụ tương tự về tính nguyên hợp ở rất nhiều tộc người khác. Tính nguyên hợp chính là đặc điểm chung, nổi trội của nghệ thuật trình diễn của các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Nói về tính thực dụng, nghệ thuật trình diễn tộc người thiểu số luôn xuất hiện với mục đích cụ thể, giải quyết một vấn đề cụ thể trong cuộc sống của chủ thể trình diễn. Rất hiếm thấy (nếu như không muốn nói là không có) sự trình diễn để thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, thưởng thức nghệ thuật như các nghệ thuật biểu diễn đại chúng hay kinh viện bác học mà ta thường gặp trong đời sống đương đại. Nghệ thuật trình diễn của các tộc người chỉ xuất hiện khi có sự kiện giao tiếp, sinh hoạt mang tính phong tục; xuất hiện để giải quyết vấn đề tín ngưỡng của cá nhân hoặc của cộng đồng. Ngay cả việc hát đối đáp, giao tiếp giữa hai bên nam nữ, không phải là để thỏa mãn nhu cầu nghe hát mà là để thể hiện, giãi bày tâm tình hai bên, hoặc để thi tài chữ nghĩa, phân định thắng thua giữa hai nhóm người… Việc trình diễn nghệ thuật trong sinh hoạt đời thường có thể diễn ra bất cứ lúc nào và ở đâu, trong không gian trình diễn mà họ lựa chọn, không phân định rạch ròi người trình diễn với người xem trong không gian đó, tức là không cần sân khấu riêng dành cho người diễn; và bất cứ ai có khả năng trình diễn cũng có thể tham gia. Trong trường hợp tín ngưỡng, do mục đích trình diễn nghệ thuật khác với trong sinh hoạt đời thường, người thực hành trình diễn phải có phẩm chất riêng và phải tuân thủ những thủ tục, nghi thức nhất định.

Nghệ thuật biểu diễn của các dân tộc thiểu số do cộng đồng dân tộc sáng tạo, lưu truyền từ đời này qua đời khác bằng cách truyền khẩu, hoặc tự nhập tâm qua biểu diễn thường xuyên trong những sinh hoạt văn hóa truyền thống. Tính độc đáo thể hiện ở chỗ, do sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục và những khía cạnh văn hóa khác, mỗi dân tộc có đặc trưng nghệ thuật trình diễn riêng. Cùng có nghệ thuật cồng chiêng [iv], người Ê Đê, người Ba Na, người J’rai (cùng sống trên địa bàn Tây Nguyên) có những cách chơi cồng chiêng khác nhau, tạo nên những bài bản cồng chiêng khác hẳn nhau. Còn có thể lấy rất nhiều ví dụ về tính độc đáo từ nhiều loại nghệ thuật trình diễn khác của các tộc người thiểu số. Chẳng hạn, cùng là nhạc cụ khèn [v], khèn của người Mông, người Thái, và người Ê Đê rất khác nhau về cấu trúc, chất liệu, kiểu dáng, hàng âm, và phương thức trình diễn.

Nghệ thuật trình diễn của các dân tộc thiểu số mang đậm tính địa phương. Trong một dân tộc, ở mỗi vùng khác nhau có biểu hiện của những nghệ thuật biểu diễn khác nhau. Chẳng hạn, âm nhạc và múa của người Thái ở Thanh Hóa có những điểm khác với người Thái ở Sơn La và khác với người Thái ở Lai Châu. Mỗi vùng Thái có nhạc cụ đặc trưng riêng: nhạc cụ đuống [vi] vùng Thanh Hóa, Nghệ An; nhạc cụ  [vii] (sáo dăm đơn) vùng Sơn La; nhạc cụ tính tảu [viii] vùng Lai Châu. Không chỉ thể hiện khác biệt qua những nhạc cụ hay các thể loại nghệ thuật trình diễn đặc trưng, tính địa phương còn bộc lộ ở sự khác biệt ngay trong cùng một thể loại nghệ thuật trình diễn của cùng một tộc người. Chẳng hạn như nghệ thuật trình diễn cồng chiêng Mường, ở Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa, mỗi vùng Mường có sự khác biệt rõ rệt về hệ thống bài bản [ix].

Cuối cùng, không thể không nhắc đến tính đại diện của nghệ thuật trình diễn tộc người. Nghệ thuật trình diễn của các dân tộc thiểu số bao chứa những tinh hoa văn hóa tộc người, từ phong cách, tư duy thẩm mỹ đến tư tưởng triết lý, tín ngưỡng. Những người lưu giữ và biểu diễn nghệ thuật này là những nghệ nhân, những con người tài năng, ưu tú nhất trong cộng đồng dân tộc. Trong một cộng đồng làng xóm, người có khả năng trình diễn nghệ thuật luôn được coi trọng, họ thường đại diện cho cộng đồng trong các sự kiện giao lưu văn hóa với các cộng đồng khác.  

Ý nghĩa của nghệ thuật trình diễn trong bối cảnh đương đại

Nghệ thuật trình diễn là loại nghệ thuật chỉ hiện ra trước người xem trong một thời gian theo quy trình nhất định và trong một không gian xác định. Nghệ thuật trình diễn cần có sự tổ chức nhiều yếu tố (phương tiện biểu, thiết kế chương trình, các thành phần tham gia). Tổ chức được một cuộc trình diễn là không đơn giản. Vì thế, chỉ khi cần thiết để đạt những mục tiêu tương xứng với công sức tổ chức và trình diễn người ta mới thực hiện. Trong quan hệ nội tại, nghệ thuật trình diễn thực hiện nhiệm vụ văn hóa hướng tới mục tiêu gắn kết cộng đồng, duy trì phong tục truyền thống, giao tiếp với thần linh trong niềm tin tín ngưỡng của họ. Tuy nhiên, đối với người ngoài cộng đồng, nghệ thuật trình diễn, nếu được thực hiện sẽ không nhằm những mục tiêu vừa nêu mà mang những ý nghĩa khác nhau:

Người Việt Nam có câu “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”. Trong sự tương tác xã hội, khi có sự khác biệt ngôn ngữ và văn hóa, nghệ thuật trình diễn vừa là phương tiện, vừa là phương pháp “phô ra” những phẩm chất tốt đẹp nhất mà một tộc người có cho người khác biết về họ. Trong nghệ thuật trình diễn, người ta có thể nhận ra sự khéo léo, tư duy thẩm mỹ, và cốt cách tinh thần truyền thống của một tộc người. Bời vậy, nghệ thuật trình diễn thường được lựa chọn như biểu tượng bản sắc, mang tính đại diện bởi sự thuận tiện, thân thiện và hấp dẫn người khác. Thể diện văn hóa của một tộc người trong bất kể mối quan hệ tương tác nào, nhất là đối với các tộc anh em bên cạnh luôn được coi trọng, gìn giữ.

Ở Việt Nam đương đại, kể từ khi đất nước thống nhất, các cuộc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc mang tên “Ngày hội văn hóa dân tộc” trong từng khu vực, vùng miền được Nhà nước cấp kinh phí tổ chức thường xuyên, duy trì theo định kỳ. Các tộc người đều tự nguyện, tự chọn những tiết mục đặc sắc nhất của mình để xây dựng chương trình nghệ thuật trình diễn mang đến ngày hội văn hóa. Kèm theo đó, họ mang đến ngày hội những sản vật địa phương, sản phẩm thủ công và vải thổ cẩm với những hoa văn đặc trưng tộc người, trổ tài làm món ăn truyền thống. Sự tương tác đa văn hóa có tính định hướng này giúp cho nhiều tộc người có cơ hội thể hiện bản sắc văn hóa, quảng bá những sản phẩm văn hóa độc đáo của mình tới các dân tôc anh em.

Anh-tin-bai

Người Jrai và Ba Na biểu diễn các nhạc cụ (tre nứa) dân gian Tây Nguyên tại Liên hoan âm nhạc dân gian quốc tế tháng 7 năm 2015 tại Phần Lan - Tác giả ảnh: Bùi Việt Hoa

Từ góc nhìn tương tác xã hội, sự hiện diện của nghệ thuật trình diễn bao giờ cũng ngầm mang một thông điệp tới những người xung quanh mà người tham gia có thể cảm nhận. Những bản sắc được “phô ra” của một tộc người qua nghệ thuật trình diễn không chỉ để người xem biết họ là ai mà còn mong muốn đem đến cho người xem cảm giác thân thiện chân thành, gần gũi, mốn làm bạn. Sự xuất hiện nghệ thuật trình diễn tạo nên một bối cảnh thanh bình, vui vẻ, hạnh phúc cho toàn bộ không gian và những con người xung quanh tại thời điểm mà bó trình diễn. Nói cách khác, nó mang lại cho tất cả những ai tham gia vào sự tương tác trong xã hội đa văn hóa một cảm giác yên bình và đó là thông điệp hòa bình.

Các chính trị gia Việt Nam rất hiểu ý nghĩa này của nghệ thuật trình diễn tộc người trong tương tác xã hội đa văn hóa. Trong các chuyến công tác đối ngoại quan trọng, giải quyết các vấn đề quan hệ quốc gia, họ thường bố trí một nhóm nghệ nhân, nghệ sĩ cùng đi trình diễn những tiết mục nghệ thuật vừa để quảng bá bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam, vừa ngầm truyền đi thông điệp thân thiện, chân thành tới các quốc gia đối tác. Chúng tôi cũng từng có dịp cùng các nghệ nhân Mường, Ê Đê, J’rai và Ba Na tham gia liên hoan âm nhạc dân gian quốc tế tại Phần Lan vào các năm 2013, 2014 và 2015. Các buổi trình diễn nghệ thuật mang bản sắc dân tộc được bạn bè quốc tế đón nhận nống nhiệt, được truyền thông rộng rãi trên đài phát thanh và truyền hình quốc gia Phần Lan. Bản thân chúng tôi, là người Việt Nam tham gia liên hoan, cũng giữ mãi ấn tượng tốt đẹp với chương trình nghệ thuật của các dân tộc khác ở nhiều nước tham gia liên hoan. Tất cả những gì đọng lại sau liên hoan nghệ thuật âm nhạc dân gian quốc tế đó là niềm vui, hạnh phúc, và tình thân ái giữa các dân tộc.

Trong bối cảnh hiện đại, quá trình toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch đã làm gia tăng các hình thức tương tác đa văn hóa theo nhiều chiều kích khác nhau, qua đó tác động đáng kể đến nhận thức và thực hành về việc bảo tồn, tái hiện bản sắc văn hóa của các tộc người. Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật trình diễn tộc người ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực văn hóa quan trọng, có khả năng khai thác phục vụ cho mô hình phát triển du lịch cộng đồng, góp phần quảng bá bản sắc văn hóa, kiến tạo hình ảnh và định vị thương hiệu riêng trong thị trường du lịch Việt Nam đang trên đà tăng trưởng. Thực tiễn cho thấy, tại nhiều điểm đến du lịch ở vùng dân tộc thiểu số, du khách thường được đón tiếp bằng các đội văn nghệ du lịch với những tiết mục trình diễn mang đậm dấu ấn bản sắc tộc người. Thành viên của các đội văn nghệ này phần lớn là các nghệ nhân dân gian, vốn xuất thân từ đời sống lao động nông nghiệp miền núi; trong không gian du lịch, họ chuyển hóa vai trò xã hội để trở thành những người trình diễn múa, nhạc và dân ca truyền thống được truyền lưu qua nhiều thế hệ. Quá trình tương tác giữa các chủ thể văn hóa khác nhau trong không gian trình diễn nghệ thuật nhìn chung tạo ra những hiệu ứng xã hội tích cực, góp phần hình thành cảm xúc thân thiện, gần gũi và thiện cảm đối với du khách. Ngay cả trong những trường hợp buổi trình diễn chưa để lại ấn tượng sâu sắc, nó vẫn có khả năng khơi gợi sự quan tâm và nhu cầu tìm hiểu văn hóa của cộng đồng sở tại. Từ đó có thể khẳng định rằng, sự tham gia của nghệ thuật trình diễn tộc người vào hoạt động du lịch đã và đang đóng góp quan trọng vào việc thiết kế sản phẩm du lịch văn hóa cộng đồng, đồng thời tạo dựng bản sắc riêng cho thương hiệu của các điểm đến. Hơn nữa, ở một góc độ nhất định, nhu cầu khôi phục, bảo tồn và tái sáng tạo các hình thức nghệ thuật trình diễn truyền thống cũng là một đòi hỏi nội sinh của chính các cộng đồng dân tộc.

*

*      *

Trong cấu trúc xã hội đa văn hóa của Việt Nam, sự tương tác giữa các cộng đồng tộc người không chỉ là một hiện tượng mang tính lịch sử lâu dài gắn với tiến trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước, mà còn là một động lực quan trọng thúc đẩy sự hình thành và vận động của bản sắc văn hóa quốc gia. Trong tiến trình ấy, các dân tộc thiểu số luôn hiện diện với tư cách là những chủ thể văn hóa tích cực, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật trình diễn, với tư cách là một hình thức biểu đạt văn hóa đặc thù, đã và đang đóng vai trò như một chất xúc tác quan trọng, tạo điều kiện cho sự hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các hệ giá trị văn hóa truyền thống cùng tồn tại trong một không gian xã hội thống nhất của một quốc gia.

Cùng với ngôn ngữ, phong tục và tín ngưỡng, nghệ thuật trình diễn của các dân tộc thiểu số là kết quả của quá trình sáng tạo, tích lũy và truyền lưu văn hóa kéo dài hàng nghìn năm. Nhận thức rõ khả năng lan tỏa và sức hấp dẫn đặc biệt của nghệ thuật trình diễn, các cộng đồng dân tộc thiểu số đã chủ động sử dụng loại hình nghệ thuật này như một phương thức hiệu quả để giới thiệu, truyền tải và khẳng định bản sắc văn hóa của mình trong mối quan hệ với các tộc người khác cũng như với xã hội rộng lớn hơn. Từ đó, có thể khẳng định rằng, đối với các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay, nghệ thuật trình diễn không chỉ là một phương tiện biểu đạt bản sắc, mà còn là một phương thức tương tác văn hóa mang tính nền tảng trong xã hội đa văn hóa đương đại./.


 

[i] F.A. Savina (1924), Lịch sử người Mèo, Xuất bản tại Hồng Kông, Bản trích dịch (chương 1, phần 2 chương 2, chương 3, phần 1 chương 4) của Viện Dân tộc học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam năm 1971, Hà Nội.

[ii] Theo kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở tại thời điểm 01/4/2019, dân số Việt Nam đạt 96.208.984 người, trong đó dân tộc Kinh 82.085.826 người chiếm 85,3%; dân số 53 dân tộc thiểu số (DTTS) gộp chung có 14.119.256 người chiếm 14,7%. Trong số các DTTS, 05 dân tộc có số dân đông nhất, trên 01 triệu người (Tày, Thái, Khmer, Mường, Mông); có 05 dân tộc có số dân ít nhất, dưới 01 nghìn người (Si La, Brâu, Pu Péo, Ơ Đu, Rơ Măm).

[iii] Hiện tại, nhiều tộc người ở Tây Nguyên, người Mường ở Hòa Bình chơi các bài chiêng đón khách, người Giáy, người Thái hát mời nước, mời trầu, mời rượu đón khách; hầu hết các tộc người vẫn đang dùng nghệ thuật trình diễn trong lễ hội vui, trong các nghi lễ tín ngưỡng, đám tang…;

[iv] Một loại nghệ thuật trình diễn, chơi nhạc theo tổ chức nhóm người, mỗi người một chiêng phối hợp với nhau theo quy cách chặt chẽ, tạo thành bài bản âm nhạc,

[v] Một loại nhạc cụ hơi, thổi ra nhiều âm do cấu trúc ghép nhiều ống, mỗi ống được gắn dăm xếp chung vào một bầu hơi, người chơi thổi vào một ống dẫn hơi tới bầu hơi đó.

[vi] Được làm từ thân cây khoét rỗng thành máng, vốn là để giã lúa, được người dân sáng tạo thành nhạc cụ gõ, chơi bằng cách dùng chày phối hợp nhiều người giã, đập, gõ, tạo bài nhạc. Người dân chơi đuống trong các dịp lễ hội mừng lúa mới, đón tết, xua đuổi tà ma…

[vii] Một loại sáo dăm đơn (dăm bằng đồng hoặc dăm tách từ nhay thân sáo), thổi ngang, thanh niên, đàn ông dùng để tâm tình với bạn gái hoặc dung cho một số nghi lễ tín ngưỡng.

[viii] Nhạc cụ dây gảy, có 2 hoặc 3 dây (lên dây quãng 4 hoặc 5), cần đàn dài, không phím; bầu cộng hưởng bằng vỏ quả bầu khô, nhẹ, dung để đệm hát (hoặc vừa đàn vừa hát) đối đáp trong dịp lễ hội, dùng chơi nhạc nghi lễ tín ngưỡng Then.

[ix] Xem Cồng Chiêng Mường - Kiều Trung Sơn, Nxb Văn hóa  - Thông tin & Viện Văn hóa, 2011, tr.191-20

Nguồn bài viết: Viện Nghiên cứu Văn hóa
Kiều Trung Sơn
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1