Không gian khuyến học trong bối cảnh đương đại nhìn từ trường hợp Đền Chu Văn An (Thành phố Hải Phòng)
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Đền Chu Văn An (Thành phố Hải Phòng) - một không gian khuyến học trong bối cảnh đương đại” của ThS. Trần Thị Thu Hà (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, hiếu học và tôn sư trọng đạo là hai giá trị tinh thần cốt lõi, cấu thành nền tảng đạo lý và bản sắc dân tộc. Từ thế kỷ XIII, khi nhà giáo Chu Văn An (1292-1370) trở thành biểu tượng của đạo học và nhân cách mẫu mực, truyền thống ấy đã được định hình bền vững trong ý thức xã hội. Hình ảnh người thầy chính trực, suốt đời vì sự nghiệp giáo dục và đạo làm người đã vượt ra ngoài phạm vi một cá nhân lịch sử để trở thành giá trị biểu trưng của nền văn hóa Việt Nam.

Đền thờ Chu Văn An tại núi Phượng Hoàng, phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng (trước kia là phường Chu Văn An, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương) được xây dựng qua nhiều gia đoạn. Theo tư liệu khảo sát, đền có quy mô lớn nhất trong quần thể di tích núi Phượng Hoàng gồm đền chính, am dạy học, khu mộ thầy và hệ thống nhà bia, giếng Ngọc. Từ năm 1998, di tích được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và đến năm 2019, UNESCO vinh danh danh nhân Chu Văn An như “biểu tượng của đạo lý, chính trực và lòng yêu chuộng tri thức”.

Những nghiên cứu trước đây về Chu Văn An phần lớn tập trung vào phương diện tiểu sử, đạo đức và tư tưởng giáo dục của ông (xem Nguyễn Quang Thắng, 2005). Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những công trình tiếp cận thực hành khuyến học tại đền thờ Chu Văn An như một hiện tượng văn hóa - xã hội đương đại, trong đó di sản không chỉ được thờ phụng mà còn được “học tập hóa” thành công cụ nuôi dưỡng tinh thần hiếu học trong cộng đồng.

Không gian Đền Chu Văn An - Từ di sản đến thực hành khuyến học

Đền Chu Văn An trong không gian văn hóa Việt Nam

Đền Chu Văn An nằm ở chân núi Phượng Hoàng là một trong những trung tâm tín ngưỡng - giáo dục tiêu biểu của miền Bắc Việt Nam. Với cấu trúc “tiền thủy hậu sơn”, đền có cảnh quan thiên nhiên hài hòa, thể hiện triết lý “thiên nhân hợp nhất” với tinh thần gắn kết giữa con người, đạo học và vũ trụ.

Khu di tích đền Chu Văn An hiện có quy mô trên 10 ha, gồm ba hợp phần chính: khu đền thờ, khu mộ thầy và am dạy học (nay gọi là Điện Lưu Quang). Vật liệu chủ đạo của di tích là đá tự nhiên, được sử dụng đồng bộ trong cổng đền, sân bậc, tam quan, mộ thầy và giếng Ngọc, thể hiện quan niệm về sự bền vững và thanh khiết - hai phẩm chất gắn liền với hình tượng người thầy Chu Văn An. Toàn bộ quần thể được bao bọc bởi hệ thống cây cổ thụ lâu năm và Giếng Ngọc (mắt rồng), tạo nên một không gian thiêng đậm dấu ấn Nho học và hiếu học Việt Nam.

Trong ký ức dân gian, Giếng Son là điểm độc đáo của di tích gắn với nét xin chữ Thánh hiền bằng mực son chỉ có ở đền thờ thầy giáo Chu Văn An. TrongDư địa chíPhan Huy Chú đã viết: “Dưới núi Phượng Hoàng có giếng, đáy giếng có son tốt như bùn, phơi khô thành son. Bên núi có hồ gọi là Miết Trì, tục gọi là Đĩa Son. (…). Cuối thời trần, quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn Trinh sau khi treo mũ từ quan, vì mến cảnh núi Chí Linh cũng đến ở đây” (Ban Quản lý di tích Chí Linh, 2023: 75). Tương truyền, thầy Chu Văn An và học trò thường lấy ống nứa múc son dưới đáy giếng chế thành một loại mực son thượng hạng. Thầy hay lấy mực son này chấm bài cho học trò và khi có người đến xin chữ đều được thầy viết cho một chữ bằng mực son đỏ tươi. Hiện nay, trong lễ khai bút đầu xuân các thầy đồ và các nhà lãnh đạo vẫn dùng mực son viết chữ dâng lên thầy. Và các thầy đồ ở Đền Chu Văn An vẫn giữ truyền thống viết chữ bằng mực son để tặng những người đến xin chữ tại Điện Lưu Quang.

Điểm đến đầu tiên trong quần thể là Điện Lưu Quang - vốn là am dạy học xưa của thầy Chu Văn An. Bên trong điện có ban thờ thầy, đồng thời là nơi các thầy đồ viết chữ Nho và tặng chữ cho học sinh, các thầy cô và những du khách thập phương. Điện được khôi phục theo cấu trúc “Chồng diêm, cổ các” tám mái,  gồm 5 gian 2 dĩ chồng rường, đấu sen. Các trang trí của điện theo motip thời Trần - Lê. Đặc biệt, pho tượng đá cổ của thầy Chu Văn An được tìm thấy năm 1998, trong đợt khai quật phối hợp giữa Bộ Văn hóa  Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và Sở Văn hóa - Thể thao Hải Phòng. Tượng được bảo tồn nguyên trạng, trở thành biểu trưng vật chất của ký ức Nho học Việt Nam.

Kiến trúc tổng thể của khu đền được quy hoạch theo trục “tam quan - sân tế - đền thờ - lăng mộ”, thể hiện quan niệm “học đạo - hành đạo - tôn đạo” của truyền thống Việt. Tam quan ngoại gồm bốn trụ đá chạm khắc phù điêu tinh xảo; tiếp đó là tam quan nội hai tầng, tầng dưới ba cửa, tầng trên lợp ngói đỏ. Qua tam quan là sân hạ, sân rồng (đại lễ) và sân thượng, nối tiếp nhau bằng các bậc thang đá. Giữa các sân là phù điêu đá khắc chữ HỌC bằng quốc ngữ, chữ “Vạn thế sư biểu” bằng Hán tự và hình rồng chầu nhật nguyệt, tượng trưng cho đạo học truyền thế và tinh thần tôn sư trọng đạo.

Khu đền chính được xây theo chữ đinh (丁), gồm ba gian hai chái, kiến trúc truyền thống Bắc Bộ. Gian giữa đặt ban Tam Bảo, phía sau là ban thờ gia tiên của thầy, hai bên thờ sơn thần và môn sinh. Tượng thầy Chu Văn An bằng đồng thếp vàng được đặt trang trọng ở hậu cung, trước tượng là “Thánh nghiên - Thần bút”, trong đó lưu giữ các mảnh khước ghi lại chữ thầy từng viết cho học trò, biểu trưng cho di sản tri thức và đạo lý của bậc Nho sư muôn đời.

Nghi lễkhuyến học ở đền thờ Chu Văn An

Các nghi lễ được tổ chức tại đền Chu Văn An (Hải Phòng) không chỉ mang tính chất tưởng niệm, mà còn là những hình thức thực hành văn hóa nhằm tái hiện và lan tỏa tinh thần hiếu học của dân tộc Việt Nam. Trong đó, Lễ khai bút đầu xuân diễn ra vào mồng 8 tháng Giêng (âm lịch) được xem là trung tâm của hệ thống nghi lễ khuyến học, thu hút hàng nghìn người tham dự gồm lãnh đạo từ cấp tỉnh đến địa phương, giới trí thức, nhà giáo, học sinh, sinh viên và du khách thập phương. Riêng năm 2009, có đoàn cán bộ của Bộ Giáo dục tham gia và được truyền hình trực tiếp trên sóng truyền hình. Đây là nghi lễ tôn vinh tri thức và biểu tượng hóa khát vọng học tập trong thời đại mới.

Trong nghi lễ, các thầy đồ mặc áo dài, khăn xếp, hành lễ trang nghiêm trước bàn thờ thầy Chu Văn An, rồi khai bút bằng mực son trên nền giấy vàng với những chữ mang ý nghĩa đạo đức và học thuật nhưNhẫn, Tâm, Đức, Học, Minh, Liêm, Chính...Mỗi chữ viết là một lời chúc, một thông điệp nhân sinh gửi đến người xin chữ về học tập, tu dưỡng, và sống chính trực. Một thầy đồ cao niên thường ngồi viết chữ ở Linh Quang Điện chia sẻ:“Đền thầy không chỉ để cầu đỗ đạt, mà để dạy con người sống trong tinh thần tự học, tự lập, và lấy khí tiết làm gốc. Mỗi nét bút là một tâm nguyện hướng về Thánh hiền”. Hành động xin - cho chữ ở đây vừa mang tính nghi lễ, vừa là sự chuyển giao biểu tượng tri thức, nơi người viết và người nhận cùng tham dự vào quá trình thiêng hóa việc học.

Bên cạnh Lễ khai bút, các nghi lễ tưởng niệm thầy Chu Văn An (ngày 26 tháng 11 âm lịch), Lễ tri ân Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11) và Lễ dâng hương vào dịp đầu xuân, trước khi thi là những dịp để các nhà trường, hội khuyến học và cộng đồng nhà giáo trở về nguồn cội tri ân, đọc văn tế và tôn vinh các điển hình tiên tiến trong sự nghiệp giáo dục. Trong các buổi lễ này, học sinh, sinh viên và thầy cô giáo xếp hàng ngay ngắn trước ban thờ, cùng lắng nghe bài diễn văn khai mạc do lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương đọc (nay là Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng), nội dung nhấn mạnh công đức và tấm gương thanh liêm, chính trực của Chu Văn An - “người thầy của muôn đời”.

Trong chuỗi hoạt động thường niên, Lễ hội về nguồn (24-26 tháng 11 âm lịch) là sự kiện lớn nhất, gắn với ngày giỗ của thầy Chu Văn An. Lễ hội kéo dài ba ngày với các nghi thức cổ truyền như Lễ Cáo yết, Lễ Mộc dục, Lễ tạ mộ trên đỉnh núi Phượng Hoàng, cùng các hoạt động văn nghệ, ngâm thơ, hội trại học sinh - sinh viên, tạo nên không gian vừa trang nghiêm vừa sinh động. Đặc biệt, Lễ trao Giải thưởng Chu Văn An do ngành giáo dục tổ chức trong khuôn khổ lễ hội, thể hiện sự kế thừa giữa đạo học truyền thống và chính sách khuyến học hiện đại.

Đầu xuân, Lễ khai bút trên núi Phượng Hoàng diễn ra trong không khí linh thiêng. Hai thầy đồ Nho mặc áo dài, khăn đóng, khai bút chữ Hán, sau đó chín đại biểu viết chữ Việt bằng mực son. Mỗi năm, Ban Tổ chức chọn những chữ mang ý nghĩa học đạo và hành đạo, như“Chính học thuần hành”hoặc“Trí, Tuệ, Minh, Tâm, Đức, Phúc, Thành, Đạt, Vinh”. Những chữ ấy được rước lên điện thờ, dâng trình thầy Chu Văn An để “xin ngài linh ứng”, rồi mang về treo ở nơi trang trọng như biểu tượng của sự khởi đầu trí tuệ.

Trong quan niệm của người dự lễ, việc khai bút ở đền thầy không đơn thuần là cầu may thi cử, mà là một hành động nhập hồn vào truyền thống học tập dân tộc - nơi “ngọn tuệ đăng Phượng Hoàng” soi sáng con đường học vấn và đạo lý. Chính vì vậy, mỗi dịp xuân về, hàng nghìn người lại hành hương về đền, mang theo niềm tin rằng tinh thần của người thầy Chu Văn An vẫn tiếp tục soi rọi vào việc học, việc dạy và việc làm người của hôm nay.

Hằng năm, nhiều trường học các cấp ở nhiều tỉnh thành trong cả nước thường tổ chức cho giáo viên và học sinh đến làm Lễ dâng hương tưởng niệm thầy Chu Văn An tại khu di tích trên núi Phượng Hoàng với nguyện vọng bày tỏ lòng tri ân và cầu mong cho sự nghiệp giáo dục của nhà trường ngày càng phát triển, giáo viên và học sinh đạt nhiều thành tích cao trong giảng dạy và học tập.

Trong không gian linh thiêng, tạo nên cảm giác trang nghiêm và tôn kính. Trên sân lễ, hàng trăm học sinh và thầy cô giáo xếp hàng ngay ngắn thực hiện nghi thức dâng hương đến thầy. Sau khi Ban giám hiệu và một số thầy cô giáo đại diện cho nhà trường dâng hương cho thầy xong. Tất cả những người tham dự cùng cúi đầu lắng nghe cụ thủ nhang của đền đọc văn dâng thầy. Bài văn mở đầu ca ngợi cảnh sắc núi Phượng Hoàng là nơi thầy từng ẩn cư và dạy học, tiếp đến là khẳng định công đức và nhân cách mẫu mực của bậc hiền triết “lấy đạo làm gốc, lấy liêm làm đầu”. Cuối bài là lời nhắn gửi thế hệ trẻ noi gương thầy, “học để làm người, giữ tâm sáng, trọng nghĩa hơn lợi, lấy tri thức làm hành trang lập nghiệp”. Khi lời văn kết thúc, toàn thể người tham dự cùng cúi đầu mặc niệm.

Trong bối cảnh hiện nay, đền Chu Văn An đã vượt ra khỏi vai trò thờ tự để trở thành trung tâm giáo dục cộng đồng. Theo Ban Quản lý Di tích phường Chu Văn An, hằng năm đền phối hợp với Hội Khuyến học, Phòng Giáo dục, các trường học tổ chức chương trình “Học tập và làm theo tấm gương Chu Văn An”, trao học bổng “Vạn thế sư biểu” cho học sinh nghèo hiếu học. Sự lan tỏa này không chỉ tạo ra phong trào học tập rộng khắp, mà còn giúp hình thành văn hóa học tập cộng đồng. UNESCO (2003) gọi đó là di sản học tập, trong đó việc học trở thành một phần của đời sống văn hóa. Dù vậy, thực tế cũng đặt ra nhiều thách thức khi xuất hiện hiện tượng một số du khách đến đền “xin chữ cầu tài”, khiến ý nghĩa khuyến học bị lệch chuẩn. Điều này đòi hỏi công tác quản lý di tích nên chú trọng “giáo dục di sản” - tức là dùng chính hoạt động văn hóa trong đền để giáo dục lại nhận thức cộng đồng.

Thực hành khuyến học và tiếng nói cộng đồng

Từ nghi lễ đến hành vi xã hội

Theo Haviland (2007), nghi lễ là phương tiện duy trì trật tự xã hội và củng cố niềm tin cộng đồng. Ở đền Chu Văn An, những nghi lễ khuyến học như Lễ khai bút đầu xuân, Lễ xin chữ cầu học, Lễ tưởng niệm và tri ân thầy… đã vượt khỏi phạm vi tín ngưỡng để trở thành nghi thức xã hội - giáo dục, nơi tri thức và đạo đức được thiêng hóa, được cộng đồng thực hành như một giá trị văn hóa. Trong các lễ hội này, nhiều nhóm xã hội cùng tham gia - từ chính quyền địa phương, ngành văn hóa - giáo dục, hội khuyến học, ban tế lễ, thầy đồ, nghệ nhân thư pháp, đến học sinh, sinh viên, giáo viên, cựu giáo chức và du khách.

Hành vi xin - cho chữ là biểu hiện đặc sắc của giao tiếp văn hóa trong không gian này. Một thầy đồ lớn tuổi tại đền chia sẻ: “Mỗi chữ viết ra ở đây là một lời dạy của Thầy Chu Văn An. Xin chữ Tâm là học cách sống trong sáng, xin chữ Học là học sự bền bỉ, xin chữ Nhẫn là học cách yêu thương”. Như vậy, hành vi ấy không chỉ mang tính nghi thức, mà còn là một quá trình đối thoại biểu tượng giữa cá nhân và cộng đồng - nơi người xin chữ thể hiện khát vọng học tập, còn người viết chữ đóng vai trò người truyền đạo lý (Nguyễn Đăng Duy, 2009).

Sau lễ khai bút, tờ chữ son được người tham dự mang về treo ở nơi học tập hoặc làm việc, trở thành “vật thiêng” của tri thức, một biểu tượng nhắc nhớ đạo lý học tập suốt đời. Như Turner (1969) từng nhận xét, nghi lễ không kết thúc trong khoảnh khắc hành lễ, mà kéo dài trong đời sống xã hội như một hình thức tái hiện giá trị tập thể. Bằng cách đó, nghi lễ khuyến học tại đền Chu Văn An đã trở thành một hình thức giáo dục phi chính quy, trong đó con người học không chỉ từ sách vở mà từ trải nghiệm văn hóa, niềm tin và ký ức xã hội.

Từ biểu tượng đến ký ức tập thể

Nếu nghi lễ là hành vi xã hội, thì biểu tượng chính là ngôn ngữ của ký ức tập thể (Assmann, 2011). Tại đền Chu Văn An, hệ thống biểu tượng - từ chữ “HỌC” bằng đá, Giếng Son, Thánh nghiên - Thần bút, đến tượng đồng Thầy Chu Văn An - là những “kho tri thức vật chất” phản chiếu tư tưởng đạo học Việt Nam.

Chữ HỌC khắc nổi trên bậc tam cấp không chỉ mang tính trang trí mà còn là biểu tượng định hướng hành vi - nhắc người hành hương rằng học không chỉ để đỗ đạt mà để làm người hữu ích. Giếng Son, nơi tương truyền Thầy lấy đất chế thành mực mang sắc đỏ tượng trưng cho tâm huyết người dạy và trò học là dòng chảy của tri thức và đạo đức. Trong hậu cung, Thánh nghiên và Thần bút biểu trưng cho sự thiêng liêng của chữ nghĩa, nơi tri thức trở thành “pháp khí” khai mở trí tuệ (Bourdieu, 1986).

Những biểu tượng ấy không tồn tại tĩnh tại mà sống động trong ký ức cộng đồng. Trong mỗi lễ hội, người tham dự không chỉ nhìn thấy vật thể di sản mà còn “đọc” trong đó những thông điệp đạo lý được lưu truyền từ quá khứ. Chính hành vi “đọc” ấy như Geertz (1973) khẳng định là khiến nghi lễ trở thành “văn bản văn hóa”, nơi cộng đồng tự diễn giải chính bản sắc của mình.

Đền Chu Văn An – Trường học cộng đồng và di sản sống

Từ góc nhìn nhân học, đền Chu Văn An vận hành như một “trường học cộng đồng”, nơi tri thức được học bằng nghi lễ, ký ức và cảm xúc. Ở đây, có thể nhận thấy ba cấp độ của “học”:

1. Học tri thức - qua hành động viết chữ, đọc văn tế, tìm hiểu lịch sử và đạo học của Thầy Chu Văn An.

2. Học đạo đức - qua việc suy ngẫm về các giá trị “Tâm, Nhẫn, Chính, Liêm”.

3. Học cộng đồng - qua việc cùng tham dự, cùng tưởng nhớ, cùng chia sẻ trải nghiệm học tập.

Sự tham gia của nhiều thế hệ: từ học sinh nhỏ tuổi, giáo viên, doanh nhân đến cán bộ khuyến học cho thấy đền Chu Văn An đã trở thành điểm hội tụ của các tầng lớp xã hội, nơi việc học trở thành hành vi văn hóa chung. Như Võ Hồng Hải (2012) nhận định, di sản chỉ thực sự sống khi được cộng đồng tiếp nhận và tái tạo. Tại đền Chu Văn An, quá trình ấy diễn ra liên tục: học sinh, giáo viên, cán bộ hội khuyến học, các dòng họ hiếu học đều góp phần làm cho di sản trở thành nguồn lực tinh thần của xã hội học tập hiện đại. Sự kết hợp giữa di sản - giáo dục - cộng đồng này minh chứng cho nhận định của UNESCO (2003): di sản phi vật thể chỉ có ý nghĩa khi được thực hành, tái sáng tạo và truyền lại cho thế hệ sau. Ở đền Chu Văn An, mỗi lễ hội, mỗi tờ chữ, mỗi lời tri ân đều là một hình thức “học cùng Thầy”.

*

*     *

Nghiên cứu đền Chu Văn An (phường Chu Văn An, Hải Phòng) theo hướng tiếp cận di sản không chỉ như quá khứ, mà như thực hành xã hội hiện tại để thấy rằng di sản không chỉ nằm yên trong bảo tàng, mà còn sống động trong đời sống thường ngày thông qua nghi lễ, hành vi của mỗi con người. Các nghi lễ khuyến học tại đền Chu Văn An: từ lễ khai bút đầu xuân, xin chữ, tưởng niệm thầy,… không chỉ tái hiện ký ức đạo học truyền thống, mà còn góp phần tái cấu trúc không gian học tập cộng đồng trong thời đại mới. Nói cách khác, đền Chu Văn An đã trở thành “ngôi trường của nhân cách”, nơi tri thức và đạo đức, cá nhân và cộng đồng, tín ngưỡng và giáo dục hòa quyện trong một thể thống nhất. Khi nghiên cứu về di sản văn hóa gắn với danh nhân, điều cốt lõi không phải chỉ là bảo tồn hình thức, mà là bảo tồn tinh thần. Tinh thần hiếu học, liêm chính, chính trực và nhân ái của Chu Văn An chính là “nguồn vốn văn hóa” quý giá nhất mà Việt Nam có thể truyền lại cho tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Assmann, J. (2011),Cultural Memory and Early Civilization: Writing, Remembrance, and Political Imagination, Cambridge University Press.

2. Ban Quản lý Di tích Chí Linh (2023),Phượng Hoàng với nhà giáo Chu Văn An và Nữ tiến sĩ đầu tiên, Nxb Hồng Đức.

3. Bourdieu, P. (1986), “The Forms of Capital”, In J. Richardson (Ed.),Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education(pp. 241–258). Greenwood.

4. Clifford, G. (1973),The Interpretation of Cultures. Basic Books.

5. Nguyễn Đăng Duy (2009),Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

6. Geertz, C. (1973),The Interpretation of Cultures, New York: Basic Books.

7. Haviland, W. A. (2007),Cultural Anthropology: The Human Challenge. Wadsworth Publishing.

8. Võ Hồng Hải (2012),Di sản văn hóa dòng họ và vấn đề phát triển nhân tài hiện nay (Qua khảo sát một số dòng họ ở Hà Tĩnh), Luận án Tiến sĩ Văn hóa học. Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

9. Nguyễn Quang Thắng (2005),Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.

10. UNESCO (2003).Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Paris: UNESCO.

Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Văn hóa
Ths. Trần Thị Thu Hà
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1