Tóm tắt: Tinh thần dân chủ trong Nho giáo không phải là điều dễ tìm, đặc biệt khi học thuyết này làm bệ đỡ cho hệ tư tưởng của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền phương Đông. Tuy nhiên, xét trên một số phương diện tư tưởng của nó như dân bản, thân dân, biện pháp thực hiện an dân và đề cao dân bản, chúng ta có thể khẳng định trong Nho giáo đã có những manh nha của tư tưởng dân chủ. Có thể nói, Nho giáo ở Việt Nam do tiếp biến với các yếu tố bản địa, ở một số trường hợp điển hình của đời sống chính trị - xã hội, đã thể hiện tinh thần dân chủ đáng được quan tâm. Đó cũng là mục đích của bài viết nhằm làm rõ tinh thần dân chủ trong lịch sử Nho giáo Việt Nam.
1. Mở đầu
Vấn đề dân chủ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đã được một số
học giả trình bày, phân tích trong những năm qua. Một trong những người đầu
tiên khái quát về vấn đề này là Phan Huy Lê với quan điểm cho rằng, những tư
tưởng và hình thức dân chủ nhất định được gọi là dân chủ nông dân với đỉnh phát
triển cao nhất là chủ nghĩa bình quân, dân chủ công xã; rằng, loại hình dân chủ
này mặc dù có những tác dụng tích cực trong quá khứ, song lại có hại cho nền
dân chủ hiện nay [Xem: 7]. Có người bàn đến dân chủ làng xã từ các định chế
không bắt buộc và quyền lực thực tế dựa trên luật tục [Xem: 9]. Nhìn chung, đa
số các nhà nghiên cứu đều thừa nhận dân chủ thời phong kiến ở Việt Nam có tính
chất của dân chủ làng xã. Cơ cấu xã hội làng xã Việt Nam, các nho sĩ ở thôn quê
và hệ thống hương ước có vai trò quan trọng trong việc duy trì những yếu tố dân
chủ ở nông thôn, đồng thời làm điểm gắn kết để đối chọi lại các mệnh lệnh độc
đoán từ phía triều đình trung ương. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu
thêm tinh thần dân chủ từ góc độ lý tưởng chính trị, quan niệm trị nước an dân
của một số vị vua cũng như nhà nho trong lịch sử Việt Nam.
2. Dân bản
Lấy dân làm gốc (dân bản) là quan niệm chính trị nền tảng của
Nho giáo. Khái niệm “dân bản” bắt nguồn trong Kinh Thư: “Dân vi bang bản, bản
cố bang ninh” (Dân là gốc rễ của nước, gốc vững chắc thì nước mới yên ổn). Mạnh
Tử phát triển tư tưởng này, coi dân là quan trọng nhất, nước đứng thứ hai, còn
vua là nhẹ nhất (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Quan niệm dân bản
- dân là chủ thể của xã hội, của đất nước - luôn mâu thuẫn với chế độ quân chủ,
vì vậy các triều đại phong kiến Việt Nam luôn tìm cách giải quyết mối quan hệ
giữa dân bản và chế độ chính trị vương quyền. Quan niệm dân bản truyền thống có
giá trị nhất định đối với việc xây dựng nền dân chủ hiện nay(1), song vấn đề
đặt ra là có thể chuyển hoá trực tiếp từ dân bản lên dân chủ được không, hay
nói cách khác, dân bản có phải là mầm mống của dân chủ không?
Quan niệm dân bản cũng gắn liền với quan niệm thiên mệnh. Vua là
thiên tử - con trời – vì vậy làm mọi việc phải theo ý trời. Mà ý dân là ý trời,
nên có thể suy ra rằng vua phải nghe và hành động theo ý nguyện của người dân.
Vào mùa xuân năm 1010, vua Lý Thái Tổ (974 –1028) tự tay viết Chiếu dời đô và
ban hành để chuyển kinh đô của nước Đại Việt từ Hoa Lư (thuộc tỉnh Ninh Bình
ngày nay) ra thành Đại La (Hà Nội ngày nay). Ngay từ những dòng đầu tiên của
Chiếu dời đô, vai trò ý nguyện của nhân dân đã được nêu lên như một yêu cầu tất
yếu cho công việc quan trọng này. Mở đầu bản chiếu, Lý Thái Tổ viết: “Xưa nhà
Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời
đô. Há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện di dời. Làm như thế
cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên
kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước
lâu dài, phong tục giàu thịnh”. (Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu
thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự
thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn
thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường,
phong tục phú phụ). Khi vua hỏi “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi
ở, các khanh nghĩ thế nào?” (Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư,
khanh đẳng như hà?) thì bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài
lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng
được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo”[6, tr.80-81].(1)Ở
đây chúng ta thấy “dân chí” và “thiên mệnh” gắn chặt với nhau, ý chí của dân
cũng quan trọng ngang với ý chí của trời, từ đó có thể suy diễn vai trò của dân
không kém gì của trời. Mặt khác, như chúng ta đều biết, dân chủ và độc đoán là
hoàn toàn đối lập với nhau. Lý Thái Tổ là hoàng đế, nhưng đứng trước quyết định
hệ trọng liên quan tới vận mệnh của đất nước, của nhân dân, ông không hề tỏ ra
độc đoán chuyên quyền, mà hỏi các cận thần của mình rằng: “Các khanh nghĩ thế
nào?”. Giả sử khi đó có ý kiến can gián, chắc chắn Lý Thái Tổ sẽ cân nhắc, vì
như ông đã quán triệt việc dời đô không phải là tùy tiện.
Trong lịch sử bảo vệ độc lập của Việt Nam có kỳ tích ba lần đánh
thắng quân Nguyên Mông. Thắng lợi quân sự của phía Đại Việt gắn liền với tên
tuổi của Trần Hưng Đạo (? - 1300). Năm 1288, ngay sau khi cuộc kháng chiến
chống giặc xâm lược Nguyên Mông toàn thắng lần thứ ba, Trần Hưng Đạo
đã nói với các bậc hoàng tộc trong vương triều Trần về sức
mạnh “chúng chí thành thành” (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước)
và tổng kết nguyên nhân thắng lợi như một triết lý mang tính dân chủ: “Vua tôi
đồng lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức”. Đặc biệt, khi được vua Trần
hỏi về kế giữ nước, Trần Hưng Đạo đã nói rằng: “Trên dưới một dạ, lòng dân
không lìa,…”, “khoan thư sức dân làm kế gốc rễ bền, ấy là thượng sách giữ nước”
[3, tr.79]. Vận nước gắn chặt với ý dân. Thắng lợi là do ý dân, còn thất bại
cũng là do không được lòng dân. Hồ Quý Ly (1336 – 1407) - một vị vua đã thực
hiện nhiều cải cách quan trọng, nhưng do không được lòng dân nên ông đã thất
bại trong cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lăng của nhà Minh. Năm 1405, “Hán
Thương chiều truyền An phủ sứ các lộ về triều, cùng với các quan ở kinh họp bàn
nên đánh hay nên hòa. Có người khuyên nên đánh, chớ để làm mối lo cho ngày sau
(...). Tả tướng quốc Trừng nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo
thôi”” [3, tr.211]. Bàn về vấn đề này, sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Mệnh trời là ở
lòng dân. Câu nói của Trừng hiểu được điều cốt yếu đó. Không thể vì cớ là họ Hồ
mà bỏ câu nói của Trừng” [3, tr.211].
Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, đây là quan niệm phổ
biến của giới nho sĩ. Trong bài thơ “Quan hải” (Đóng cửa bể) nổi tiếng của
Nguyễn Trãi (1380 - 1442) có những câu thấm thía mà nhiều người còn nhớ:
“Phúc chu thủy tín dân do thủy,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên”[6, tr.201].
(Lật thuyền mới rõ dân như nước,
Cậy hiểm khôn xoay mệnh ở trời.
Họa phúc gây mầm không một chốc,
Anh hùng để hận mấy trăm đời).
3. Thân dân, đề cao dân trí
Niềm tin của dân là cơ sở cho sự ổn định chính trị, ổn định quốc
gia. Lý Thái Tổ đạt được quyền lực và đưa triều đại đến thịnh trị là do được
lòng dân. Sư Vạn Hạnh (938 – 1025) nhìn thấy điểm này từ rất sớm, ông nói với
Lý Công Uẩn: “Họ Nguyễn (tức nhà Lý) lại không có ai khoan hòa, nhơn hậu
và trung thứ như ông, nên rất được lòng dân. Nay tuổi của tôi đã hơn 70
rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh trị mà lấy làm giận” [1, tr.35].
Dân tin là nền tảng cho đất nước ổn định và phát triển.
Yêu dân phải xuất phát từ đạo đức chứ không phải là một thủ đoạn
chính trị. Các nhà nho quan niệm sở dĩ yêu dân vì vua là cha mẹ dân. Quan niệm
này cũng thường được các triều đại sử dụng xuyên suốt trong lịch sử phong kiến
Việt Nam. Trần Minh Tông (1300 - 1357) nói với Trần Khắc Chung (?–1330) về lý
do tự mình dẫn quân đi đánh Ngưu Hống: “Trẫm là cha mẹ dân, nếu sinh dân
mắc vào cảnh lầm than thì phải cứu gấp, chả lẽ đi so đo khó dễ lợi
hại hay sao?” [3, tr.116]. Lê Thánh Tông (1442 – 1497) cũng viết: “Trẫm là
kẻ không có đức, làm chủ muôn dân. Muốn cho mọi người đều giàu đủ, yên
vui để tiến tới thịnh trị. Năm ngoái, từ mùa thu đến mùa đông, trời
mãi không mưa, người mất hy vọng được mùa, dân lo khó khăn đói kém.
Trẫm là cha mẹ dân, chỉ biết đau xót trong lòng. Nếu không ban ơn rộng
khoan tha thì sao thấy huệ thực tới dân được” [3, tr.446].
Vua là người trên thì chịu trách nhiệm với trời, dưới thì giúp
đỡ yêu thương dân chúng. Lý Anh Tông đã có một quan niệm đặc biệt khi gắn yêu
dân với một đức hạnh vào bậc quan trọng nhất trong hệ thống quy phạm luân lý
Nho giáo – đạo Hiếu. Khi trả lời hoàng hậu về việc có bổ nhiệm lại thái tử hay
không, ông hoài nghi việc một người không có hiếu mà lại thương dân được. Sử
viết: “Mùa thu, tháng 7 nhà vua se mình. Hoàng hậu xin vua lập lại Bải
quốc Vương làm Thái tử. Vua nói: ‘Làm người con mà không biết kính
trọng đấng song thân (cha mẹ) của nó thì làm ông vua lại biết yêu dân hay
sao?’” [1, tr.78].
Yêu dân không chỉ là bổn phận của vua, mà còn là bổn phận của
quan lại. Năm 1434, năm đầu tiên sau khi kế nghiệp Lê Thái Tổ Lê Lợi (1385
-1433), Lê Thái Tông (1423 - 1442) đã ra lệnh chỉ cho văn võ đại thần và
các quan lớn nhỏ trong ngoài: “Đạo làm tôi cốt yếu có hai điều. Trên thì
yêu vua, dưới thì yêu dân” [3, tr.310]. Có thể nói, yêu dân là một trong
những đức hạnh quan trọng nhất trong hệ thống quy phạm luân lý của vua và quan.
Trong lịch sử Việt Nam, khi khởi nghiệp thì các vị vua thường
chú trọng đến dân, cần dân và làm cho dân tin. Và cũng chính vì có sự tin tưởng
của dân thì nghiệp lớn mới thành được. Sự thành công của Lê Lợi trong cuộc
kháng chiến chống quân Minh đưa ông từ một thảo dân đến ngôi vị chí tôn – hoàng
đế - là minh chứng cho sức mạnh của nhân dân khi họ tin tưởng vào người lãnh
đạo.
4. An dân là mục đích của chính trị
Đọc các cuốn sử Việt Nam chúng ta có thể phát hiện một trong
những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá một vị vua là có thực hiện được mục
đích an dân hay không. An dân có nghĩa là dân được no ấm, hoà bình, ổn định,
không lo lắng, được phát huy cá nhân mình và thực hiện các nghĩa vụ, bổn phận
với cộng đồng và xã hội. Quan niệm này xuất phát ngay từ buổi đầu giai đoạn tự
chủ của dân tộc. Khi đánh giá về Lý Công Uẩn thuở nhỏ, sư Vạn Hạnh đã đưa ra
một nhận xét về tiêu chí này. Sư viết: “Lúc nhỏ, vua thông minh, tính khí khôi
hoạt rộng rãi. Tới học ở chùa Lục Tổ thiền sư Vạn Hạnh thấy cho là
khác lạ, nói: “Đây là người phi thường, sau này đến lúc cường tráng
tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ” [1, tr.34].
Các nhà viết sử xưa lấy lợi ích của dân làm tiêu chí đánh giá sự
nghiệp của vua, chẳng hạn Lê Văn Hưu đã viết về Lý Thánh Tông (1023 – 1072):
“Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương
kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng
liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng
gọi là bậc vua tốt. Song nhọc sức dân xây tháp Báo Thiên, phí của dân làm
cung Dâm Đàm, đó là chỗ kém” [3, tr.282].
Quan niệm về dân, yên dân thể hiện rất rõ trong tư tưởng của
Nguyễn Trãi. Mở đầu Đại cáo bình Ngô, ông viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên
dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. (Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an
dân, Điếu phạt chi sư mạc tiên khử bạo) [3, tr.282]. Ở đây, Nguyễn Trãi đã gắn
trực tiếp nhân nghĩa với an dân; nếu phải dùng đến sự chinh phạt thì trước hết
phải coi đó là việc trừ bạo cho dân.
5. Phương pháp thực hiện chủ trương dân bản
Thứ nhất, đối với triều đình.
Tu thân là yêu cầu bắt buộc đối với vua và quan lại trong hệ thống
chính trị “nhân chính” Nho giáo. Ngoài yếu tố đạo đức là yêu cầu nội tại, là
điều kiện cần thì còn phải có yếu tố cơ chế tiếp nhận ý kiến phản biện của
người dân đối với triều đình. Cơ chế này trong lịch sử Việt Nam không thật sự
mạnh và hiệu quả, song không phải là không có. Thời nhà Lý, nhiều vị vua đã sử
dụng cách thức công khai để người dân bày tỏ nỗi oan ức của mình. Ngay từ thời
Lý Thái Tông, vào năm 1029, vua đã cho dựng chuông để ai kiện tụng oan ức thì
đánh lên. Đến thời Lê Thánh Tông, ông còn chủ động cử người đi khắp các vùng
miền để nắm dân tình, biết dân ý để thay đổi chính sách. Sử chép: “Đinh Hợi,
[Quang Thuận] năm thứ 8 [1467],… Sai lục bộ, lục tự, lục khoa lựa chọn
lại viên của mình, người nào biết chữ, có hạnh kiểm, mỗi bộ, tự,
khoa lấy 2 người để bổ sung việc đi thăm hỏi, điều tra nỗi đau khổ
của dân và điều hay dở của chính sự” [3, tr.453].
Chúa Trịnh Tráng (1577 – 1657), người nắm thực quyền cai trị
Đàng Ngoài từ năm 1623 đến 1657, được không ít người ca ngợi, không chỉ vì tài
năng của ông trong việc phù Lê diệt Mạc mà còn tạo bước chuyển căn bản giữa hai
cuộc xung đột Nam - Bắc triều và Trịnh - Nguyễn, cũng như củng cố địa vị cai
trị của chế độ "vua Lê chúa Trịnh". Sở dĩ có những thành công như vậy
vì bản thân các chính sách của ông đều cố gắng nhằm thoả mãn ý nguyện của dân,
tạo sự yên ổn trong vùng cai trị của vua Lê chúa Trịnh. Sử cũ cũng ghi chép lại
ý kiến của các sử thần như sau: “Chúa [Trịnh Tráng] tính trời hiếu thảo,
thân ái mọi người, rộng lòng khoan thứ; khi mới cầm quyền, tuổi đã 47.
Bình xong nội nạn, hòa hợp nhân dân, trong nước yên ổn, tín nhiệm nho
thần, giảng cầu chính trị, chấn cử kỷ cương, mọi việc đều giao cho
triều đường công luận, chúa cung kính khiêm nhường, cẩn thận giữ gìn
pháp độ, ba lần đánh Thuận Hóa, chỉ dùng văn cáo để mở bảo, không muốn
dụng binh đến cùng, lặn lội ở nơi xa” [4, tr.323]. Muốn để yên dân thì
mọi ý kiến đều phải được thảo luận rộng rãi nơi triều đình, “rộng đường công
luận”. Đây cũng chính là quy luật lịch sử, có lo cho đời sống nhân dân, giữ cho
dân tin thì nước mới mạnh, triều đình mới yên ổn.
Một trong những biện pháp hạn chế sự lạm quyền của quan lại
chính là ban bố và thực thi pháp luật. Ngay từ thời nhà Lý, luật pháp (tối
thiểu là hình luật) cũng đã được công khai và thực thi.
Việc kiểm soát quyền lực của quan lại để tránh nhũng lạm dân
cũng đã được đặt ra. Trần Thái Tông (Trần Cảnh (1218 – 1277)) nói: "Nay
bắt đinh tráng đắp thành đất, dùng sức dân đã nặng, mà người thừa hành lại làm
phiền nhiễu thêm mất lòng dân, triều đình tuy có lòng thương yêu, nhưng đối với
dân như thế, tôi e rằng không giữ được điều tín nghĩa. Vậy xin sức rõ cho viên
quan có trách nhiệm nghiêm cấm bọn sai dịch và thời thường xét hỏi, để thi hành
việc thưởng phạt"[8, tr.867].
Nho giáo có một ưu điểm là dùng khoa cử để cung cấp người tài,
quan lại cho triều đình phong kiến. Quan niệm “cử hiền dữ năng” (tiến cử, sử
dụng người có tài, có năng lực) cũng là một quan niệm chính trị - xã hội căn
bản của Nho giáo. Nếu như ở thời nhà Lý, Nho giáo bắt đầu bén rễ thì đến thời
nhà Trần, Nho giáo đã phát triển mạnh mẽ hơn. Lúc đó, đã xuất hiện quan niệm về
những người hiền tài hoặc tầng lớp quan lại nho sĩ, nhu cầu đào tạo và sử dụng
người có tài. Các sử thần khi nhận xét về Chu Văn An (1292–1370) có viết:
“Những nhà nho nước Việt ta được dùng ở đời không phải không nhiều,
nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến công danh, kẻ thì chuyên lo về phú quý, kẻ
lại a dua với đời, kẻ chỉ cốt ăn lộc giữ thân, chưa có ai chịu để
tâm đến đạo đức, suy nghĩ tới việc giúp vua nêu đức tốt, cho dân được
nhờ ơn. Như Tô Hiến Thành đời Lý, Chu Văn Trinh (tức Chu Văn Anh) đời
Trần, có lẽ gần được như thế. Nhưng Hiến Thành gặp được vua (sáng
suốt) cho nên công danh, sự nghiệp được thấy ngay đương thời. Văn
Trinh không gặp vua (anh minh) nên chính học của ông, đời sau mới thấy
được. Hãy lấy Văn Trinh mà nói, thờ vua tất thẳng thắn can ngăn, xuất
xử thì làm theo nghĩa lý, đào tạo nhân tài thì công khanh đều ở cửa ông
mà ra, tiết tháo cao thượng thì thiên tử cũng không thể bắt làm tôi
được. Huống chi tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm,
giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ. Ngàn năm về sau, nghe
phong độ của ông, há không làm cho kẻ điêu ngoa thành liêm chính, người
yếu hèn biết tự lập được hay sao? Nếu không tìm hiểu nguyên cớ, thì ai
biết thụy hiệu của ông xứng đáng với con người của ông. Ông thực đáng
được coi là ông tổ của các nhà nho nước Việt ta mà thờ vào Văn Miếu”
[3, tr.152-153].
Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thành công, Nguyễn Trãi đã thay Lê
Lợi viết “Chiếu cầu hiền tài”: “Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu
đại phu, từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người... nếu có tài văn võ,
có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tùy tài trao chức”. Chế độ cử hiền dữ năng
có nhiều điểm tương tự với chế độ chính quyền do những người thực sự tài năng
nắm giữ (meritocracy).
Hệ thống quan lại ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, cần thường
xuyên xem xét, canh tân hệ thống này, đây là điểm mà các chúa Trịnh rất chú ý.
“Trịnh Doanh muốn khảo xét quan lại, để cho chính trị đổi mới... Nhân đi đến
trấn Sơn Nam, tế vọng thần núi sông, sai dẫn các quan trong hai ti Thừa chính
và Hiến sát vào yết kiến, xét hặc phủ huyện và hiệu quan trong hạt, xem người
hay người dở để định việc truất bãi hoặc cất nhắc. Lại hạ lệnh cho phủ huyện
xét hỏi trong hạt mình: người nào có văn học, đức hạnh, tài năng, nghệ thuật
đáng nơi bổ dụng; người nào là hạng kỳ cựu, lão thành, hiếu hạnh, tiết nghĩa,
đáng được tuyên dương, cùng những việc mở mang mối lợi, trừ bỏ mối hại cho dân,
đều cho phép phủ huyện được trình bày sự thực. Trịnh Doanh thấy Hoàng Ngũ Phúc ở
trấn Sơn Nam, biết cách yên dân, dẹp giặc, bèn cho 4 chữ “phiên tuyên lương
hàn” để khen thưởng một cách đặc biệt [Xem: 8].
Thứ hai, đối với dân.
Ngoài giáo dục thì chính sách dân sinh là vô cùng quan trọng.
Lòng thương yêu người dân trực tiếp và có hiệu quả nhất có lẽ là thông qua các
biện pháp nâng cao đời sống, đáp ứng các yêu cầu bức thiết nhất của người dân.
Thương dân phải xuất phát từ tự thân lòng nhân ái. Sử chép về Lý Thánh Tông như
sau: “Mùa đông, tháng 10 đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng: "Trẫm
ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ
đến người bị tù trong ngục, khổ sở vì gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no
bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội,
trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu, và cấp cơm ăn ngày
hai bữa”” [2, tr.280]. Quan niệm nhân bản này của Lý Thánh Tông bắt nguồn từ
truyền thống văn hoá Việt Nam và còn tiếp tục lâu dài về sau. Nhiều người đã
nhấn mạnh đến tính chất tiến bộ của “Quốc triều hình luật” trong việc bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ - nhóm người thường không được Nho giáo thủ cựu coi trọng
- cụ thể là các quyền ly hôn, quyền thừa kế, quyền sở hữu tài sản, quyền tế lễ,
phụ nữ không bị tử hình… Ngoài phụ nữ, bộ luật này cũng quan tâm, bảo vệ quyền
lợi của các nhóm thiểu số khác, ví dụ như dân tộc ít người, nô tì, người làm
thuê, người tàn tật,v.v..
Đời vua Lê Thánh Tông sở dĩ được coi là thịnh trị bởi dân sinh
ổn định, đời sống ấm no. Có được như vậy là do các đời trước đã chủ trương và
thi hành một số chính sách có lợi cho dân sinh. Bên cạnh các chính sách phát
triển kinh tế, nhiều vị vua trong lịch sử nước ta cũng chú ý đến các chính sách
dân sinh khác, như y tế... Ví dụ, vua Lê Thánh Tông ra “dụ cho quan lưu thủ
là Lê Niệm phát 50 quan tiền kho nhà nước, sai Tế sinh đường mua thuốc,
sai người chữa chạy cho những người mắc bệnh dịch ở các phủ Quốc
Oai, Tam Đới và dụ rằng: ‘Từ nay về sau, phủ nào có bệnh dịch thì cho
phép các quan địa phương đó dùng tiền thuế mua thuốc chữa cho dân’” [2,
tr.447].
Đến đời nhà Trần, quan điểm khoan thư sức dân của Trần Hưng Đạo
trở thành một chiến lược để dựng nước và giữ nước. Ông nói: “Khoan thư sức
dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” [3,
tr.79]. Khoan thư sức dân còn thể hiện ở việc tránh cho dân các việc chiến
tranh càng nhiều càng tốt. Mạc Ngọc Liễn (? - 1594), đại thần nhà Mạc trong
lịch sử Việt Nam, khuyên Mạc Kính Cung (?-1625), vua nhà Mạc hậu kỳ rằng: “Nay
khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta là
dân vô tội mà để phải mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế! Bọn ta nên
tránh ra ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thời, xem khi
nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức
chọi sức, hai con hổ tranh nhau tất có một con bị thương, không được
việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, nên
cẩn thận mà giữ là hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta
mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng
bằng”[4, tr.189].
Chúng tôi cho rằng, trong văn hoá chính trị Nho giáo không có sự
chuyển tiếp trực tiếp từ ý nguyện của dân sang quyền lực chính trị. Bởi vì quan
niệm chính trị Nho giáo truyền thống là sự kết hợp giữa quyền lực của hoàng đế
(do trời trao quyền) với hệ thống quan lại (chủ yếu thông qua khoa cử). Việc
phân chia quyền lực dường như không được đặt ra trong bộ máy chuyên chế. Nho
giáo trở thành ý thức hệ chủ đạo nhằm duy trì quyền lực của vua và hệ thống
quan liêu, vì vậy việc thể hiện và thi hành ý nguyện của dân, suy cho cùng,
cũng chỉ là thủ thuật chính trị vì mục đích nêu trên. Việc coi trọng dân (quan
niệm dân bản, dân vi quý,…) khác về căn bản với quan niệm “quyền lực thuộc về
nhân dân” của chính trị dân chủ ngày nay. Cần nhắc lại rằng quan niệm “lễ bất
hạ thứ nhân, hình bất thượng đại phu”(2) là một quan niệm phổ biến trong chế độ
chính trị ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam thời kỳ phong kiến; do đó, ý nguyện
của dân không được thể chế hoá, dân không có quyền tham dự vào công việc chính
sự.
6. Kết luận
Mặc dù chính trị Nho giáo thiên về bảo vệ địa vị, quyền lợi tối
cao của nhà vua cùng với hệ thống trung ương tập quyền, song trong bản thân
mình, Nho giáo Việt Nam vẫn hàm chứa không ít tinh thần dân chủ, đó là quan
niệm xã tắc phải lấy dân làm gốc, muốn đất nước ổn định phải an dân, yêu dân,
làm cho dân tin tưởng vào triều đình,... Dù những tư tưởng đó xuất phát từ mục
đích chính trị hay từ luân lý hướng thiện của Nho giáo, song có thể thấy, một
số quan niệm dân bản của Nho giáo Việt Nam truyền thống có thể song hành với tư
tưởng dân chủ hiện đại. Nói cách khác, nếu hiểu dân chủ là lý tưởng đạo đức và
nền tảng của dân chủ là luân lý thì những tư tưởng của Nho giáo Việt Nam hàm ý
về việc thăng tiến tri thức, bồi dưỡng đức hạnh, đảm bảo quyền sống của con
người cũng chính là dân chủ. Song, dù sao đi nữa, những tư tưởng này cũng không
đồng nhất với dân chủ, càng không thể lấy đó làm phương thức hay tiêu chuẩn cho
dân chủ ngày nay.(2)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đại Việt sử lược (Khuyết danh) (Nguyễn Gia Tường dịch) (1993),
Nxb Tp. Hồ Chí Minh (bản điện tử).
[2] Đại Việt sử ký toàn thư (2011), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
t.1.
[3] Đại Việt sử ký toàn thư (2011), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
t.2.
[4] Đại Việt sử ký toàn thư (2011), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
t.3.
[5] Lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, t.1.
[6] Nguyễn Trãi (1976), Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[7] Phan Huy Lê (1988), “Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt
Nam”, Tạp chí Tổ quốc, số 4.
[8] Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông
giám cương mục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9] Vũ Trọng Khải (chủ biên) (2004), Phát triển nông thôn Việt
Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
(1) Có
nhiều sự giải thích sai về quan niệm dân bản, trong đó có một số học giả giải
thích dân bản là sự thể hiện của “chính phủ đại chúng”. Tham khảo Hà Ái Quốc,
“Góc nhìn chủ nghĩa cộng đồng mang “tính hiện đại”: “Dân
chủ Nho gia” liệu có thành hiện thực không? – Giải
thích lý luận hiện đại hoá chính trị Trung Quốc của hai học giả Mỹ David L.
Hall và Roger T. Ames”. Theo chúng tôi, sự giải thích này là không phù hợp, vì
thực tế chính trị thời phong kiến không phải là “dĩ dân vi bản” mà có thể gọi
là dĩ quân vi bản, chủ yếu là để phục vụ quyền lợi của vua và giai
cấp thống trị.
(2) Lễ
nghĩa không dành cho đám bình dân, hình phạt không dành cho các quan đại phu. (Lễ
ký. Khúc lễ).