Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Mùa Xuân năm 1930, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đó là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam; chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam trong mấy chục năm trước đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[1]. Thực tiễn thắng lợi của nhân dân ta trong quá trình đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 96 năm qua đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
1. Lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối, chỉ trong vòng 15 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930-1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945), để đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và làm chủ cuộc sống của chính mình. Cách mạng tháng Tám đã huy động được nguồn sức mạnh vĩ đại của toàn dân tộc, quyết đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Đó cũng là chiến công vĩ đại, là niềm tự hào của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.
Ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với “giặc đói”, “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”. Hơn lúc nào hết vận mệnh của dân tộc ở thế “Ngàn cân treo sợi tóc”. Trước bối cảnh đó, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra những chủ trương và quyết sách đúng đắn, khôn khéo, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để giữ vững chính quyền non trẻ. Với đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn và sáng suốt, Đảng đã động viên được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, củng cố, giữ vững chính quyền cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế hiểm nghèo và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.
Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ và hy sinh, đánh thắng thực dân Pháp xâm lược với đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đế quốc Mỹ vi phạm trắng trợn Hiệp định, âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Thực tế đó, đòi hỏi Đảng phải lãnh đạo đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Với đường lối đúng đắn và sự sáng tạo, linh hoạt trong chỉ đạo thực tiễn của Đảng, miền Bắc xã hội chủ nghĩa được xây dựng thành hậu phương vững chắc, là điểm tựa tinh thần cho tiền tuyến miền Nam và kiên cường giáng trả các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Cùng với đó, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30-4-1975. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) của Đảng khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[2].
2. Lãnh đạo cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Lịch sử đã minh chứng, tiến lên chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam đã được đề ra từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Đó là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và nhân dân ta - Sự lựa chọn của chính lịch sử. Kế thừa những thành tựu và kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nghiêm khắc nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm trong thực hiện một số chính sách kinh tế - xã hội những năm đầu sau khi nước nhà thống nhất, trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, đã đề ra Đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn lịch sử, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.
Sau Đại hội VI, Đảng đã từng bước hoàn thiện, cụ thể hoá đường lối đổi mới mà nội dung cơ bản, cốt lõi được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện quan trọng của Đảng qua các kỳ Đại hội. Những năm 90 của thế kỷ XX, vượt qua thách thức từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã kiên định, tiếp tục vững bước và sáng tạo trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc điểm của Việt Nam. Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khóa VI đến khóa XIII đã ban hành nhiều nghị quyết về những vấn đề cơ bản, hệ trọng của Đảng và sự phát triển của đất nước. Quốc hội thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật và các đạo luật, tạo cơ sở pháp lý ngày càng đồng bộ và phù hợp cho quá trình đổi mới. Chính phủ cụ thể hoá thành các cơ chế, chính sách và giải pháp cụ thể để quản lý, quản trị, điều hành công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Trong việc xác định, đề ra đường lối đổi mới, Đảng ta luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên lý, quan điểm cơ bản, phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm thực tiễn ở trong nước và quốc tế, xử lý tốt các mối quan hệ cơ bản như: Phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân”; kết hợp chặt chẽ đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; kết hợp có hiệu quả giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh, giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ..., qua đó giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Thực tiễn lịch sử chứng minh, sau 40 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, hình thành cơ đồ, tiềm lực và vị thế mới ngày hôm nay. Diện mạo đất nước đổi thay mạnh mẽ; hạ tầng giao thông, đô thị, nông thôn được đầu tư đồng bộ. Từ nền kinh tế khép kín, lạc hậu, Việt Nam vươn lên đạt nhiều thành tựu quan trọng. GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng trên 100 USD (năm 1986) lên gần 5.000 USD (năm 2025), gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ hơn 40% xuống dưới 15% GDP, trong khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Việt Nam từ một nền kinh tế đóng cửa đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lớn. Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt khoảng 900 tỷ USD, tăng gấp hàng chục lần so với năm 1990[3].
Đặc biệt, từ chỗ thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội là quan điểm xuyên suốt của Đảng. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống 1,93% năm 2024 và còn gần 1% vào năm 2025. Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực không ngừng nâng cao, với gần 99% người trưởng thành biết chữ, số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 20 lần so với thời điểm đầu Đổi mới. Tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,6 tuổi, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế vượt 94%, cho thấy chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Từ một quốc gia từng bị bao vây, cấm vận, Việt Nam ngày nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Những con số ấn tượng ấy khẳng định uy tín và vị thế quốc tế ngày càng nâng cao của Việt Nam, một đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế[4].
Có thể nói, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo tổ chức thực hiện là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: “Kế thừa truyền thống vẻ vang dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng; với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; với ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của dân tộc;… Chúng ta bước vào giai đoạn phát triển mới với hành trang là truyền thống vẻ vang của dân tộc, là thành quả của 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, là 40 năm đổi mới với những bài học quý giá, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân. Chúng ta có đủ cơ sở để tin tưởng: Khi thống nhất cao về tư tưởng; quyết liệt trong hành động; nghiêm minh trong kỷ luật; Nhân dân thật sự là trung tâm, nhất định chúng ta sẽ biến khát vọng thành hiện thực; đưa đất nước tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội”[5].
Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết, chung sức để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIV (Theo: Nhandan.vn; ảnh: Thành Đạt)
Thông qua bài viết “Vững bước dưới cờ Đảng”, đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò lịch sử, bản chất cách mạng và sứ mệnh cầm quyền của Đảng, đồng thời khẳng định niềm tin vững chắc vào sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Gần một thế kỷ ra đời, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta đã thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Chặng đường phía trước sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm của Đảng cầm quyền, với truyền thống anh hùng và tinh thần đoàn kết của cả dân tộc, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi trở ngại, tranh thủ thời cơ, tiếp tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục chung sức đồng lòng, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và sức sáng tạo của con người Việt Nam trong thời đại mới. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, chúng ta vững bước tiến lên, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, quyết tâm xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”[6].
*
* *
Thực tiễn 96 năm qua khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam, để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[7]. Nói cách khác, những thành tựu to lớn, trong đó có cả những kỳ tích mang tầm thời đại của cách mạng Việt Nam trong suốt 96 năm qua luôn được khởi nguồn và gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là tiền đề vững chắc để chúng ta sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr.406.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tập 37, tr.457.
[3] GS.TS Vũ Văn Hiền, Việt Nam 40 năm Đổi mới: Kỳ tích mang tầm thời đại, Nguồn: https://daibieunhandan.vn/viet-nam-40-nam-doi-moi-ky-tich-mang-tam-thoi-dai-10395013.html, truy cập 2-2-2026.
[4] Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín đất nước sau 40 năm đổi mới, Nguồn: https://antv.gov.vn/kinh-te-5/dat-nuoc-sau-40-nam-doi-moi-co-do-tiem-luc-moi-DE51FD506.html, truy cập 2-2-2026.
[5] GS.TS. Tô Lâm, Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguồn: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/bao-cao-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-cong-san-viet-nam, truy cập 2-2-2026.
[6] Tô Lâm, Vững bước dưới cờ Đảng, Nguồn: https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/vung-buoc-duoi-co-dang.html, truy cập 2-2-2026.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr.25.