Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Khoanh vùng và phân tích giáo dục nhân quyền và hòa bình ở khu vực Đông Nam Á

TS. Sriprapha Petcharamesree

03/11/2016

Buôn Ma Thuột, ngày 27/12/2014

KHOANH VÙNG VÀ PHÂN TÍCH GIÁO DỤC NHÂN QUYÈN VÀ HÒA BÌNH Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

TS. Sriprapha Petcharamesree[1]

1.       Khơi dậy và nuôi dưỡng nền văn hóa Nhân quyền và Hòa bình thông qua Giáo dục

Nhiều thập kỷ trước khi chính thức xác lập nhân quyền như một tiêu chuẩn quốc tế, mối quan hệ nhân quả cốt yếu giữa giáo dục, phẩm giá con người, hòa bình và tự do cơ bản đã được nhiều nhà lãnh đạo trong khu vực Đông Nam Á đề cập đến.

Vào thế kỷ 19, nhà vua Chulalongkorn (Rama V) bãi bỏ chế độ nô lệ, công nhận sự bình đẳng và nhân phẩm con người trong xã hội Thái Lan. Giáo dục được coi là một công cụ để người dân tối đa hóa quyền tự do và cuối cùng nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống.[2]

Ở thời điểm cao trào của cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của thực dân Tây Ban Nha ở Philippines, Tiến sĩ Jose Rizal, trong bài viết cho tờ báo cách mạng "La Solidaridad", "Sự lười biếng của người Philippines", đã tuyên bố rằng "... Không có giáo dục và tự do ví như đất và mặt trời của loài người, thì sẽ không cỏ cải cách, không có giải pháp nào cho ra kết quả mong muốn. "Do đó, ở thời điểm đó, chất lượng giáo dục đóng vai trò quan trọng mở đường cho sự giải phóng và trao quyền vào tay người dân Philippines.

Một vài năm sau cái chết của Tiến sĩ Rizal, ở Đông Ấn thuộc Hà Lan, một người phụ nữ trẻ người Java tên là Kartini, đã đấu tranh cho sự cần thiết phải giáo dục cho người phụ nữ để phát triển xã hội. Trong bức thư gửi Bộ Tư Pháp Hà Lan của bà với tiêu đề "Hãy mang lại giáo dục cho người dân Java!", Kartini giải thích rằng "... sự nghiệp giáo dục và phát triển của Người dân Java có thể không bao giờ tiến bộ đầy đủ, nếu phụ nữ bị loại trừ ... một yếu tố quan trọng nâng cao tinh thần người dân chính là sự phát triển của người phụ nữ Java "[3]

Nhà vua Chulalongkom, Tiến sĩ Rizal và Kartini là một vài trong số rất nhiều người đã giúp người dân nhận thức được giá trị của giáo dục trong việc thực hiện và cảm nhận nhân phẩm và các quyền tự do của họ. Điều này chứng minh rằng ý thức về tầm quan trọng của việc giáo dục về nhân quyền và hòa bình cũng như sự liên kết giữa giáo dục và việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và hòa bình trong khu vực Đông Nam Á trở lại đúng con đường tất cả các nước khác trên thế giới đã từng làm sáng tỏ vấn đề này .

Cam kết toàn cầu cam kết về Giảo dục Nhân quyền và Hòa bình

Năm 1948, khi một số nước Đông Nam Á, cũng như hầu hết các nước trên thế giới, đang trong giai đoạn phi thực dân hóa và phục hồi sau sự tàn phá của Chiến tranh thế giới II, các nhà lãnh đạo chính trị, cố vấn khoa học, các nhà hoạt động vì tự do và hòa bình đã nhóm kết lại để phát triển một văn kiện nhằm loại bỏ những thiệt hại tiềm ẩn chống lại nhân loại. Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế (ƯDHR) đã phản ánh đầy đủ bản chất của một cộng đồng quốc tế, đáp ứng, thúc đẩy và bảo vệ "phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng và bất khả xâm phạm của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại." (Lời nói đầu, Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 ). Hơn nữa, tuyên ngộn đã công nhận vai trò quan trọng của giáo dục trong việc "phát triển đày đủ nhân cách, và việc tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và tự do cơ bản." (Điều 26.2, ƯDHR, 1948). Điều này đòi hỏi một mối quan hệ khăng khít giữa việc quyết tâm thực hiện quyền giáo dục và việc được hưởng đày đủ các quyền con người và tự do cơ bản.

Hơn sáu thập kỷ đã đi qua của Tuyên ngôn nhân quyền, Đại hội đồng Liên Họp Quốc đã thông qua một Nghị quyết tăng cường tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo về quyền con người trong việc đề cao và duy trì nhân cách và tự do con người. Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc về giáo dục và đào tạo nhân quyền khẳng định: "... giáo dục và đào tạo cho nhân quyền là điều cần thiết để thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ quốc tế tất cả các quyền con người và tự do cơ bản, phù hợp với các nguyên tắc của tính quốc tế, tính không thể phổ quát, không thể chia cắt và sự phụ thuộc lẫn nhau của các quyền con người "(Điều 1: UNDHRET, 2012)..

Trong những năm qua, nhân quyền cũng như hòa bình [và xung đột] đã ngày càng trở nên quan trọng đối với lĩnh vực giáo dục. Điều này đã được chứng minh bởi số lượng ngày càng tăng của các sáng kiến được thực hiện ở cấp liên chính phủ, chẳng hạn như sự ủng hộ của "Tuyên ngôn và Phối hợp Khung hoạt động giáo dục vì Hòa bình, Nhân quyền và Dân chủ" do Đại hội đồng UNESCO đưa ra vào năm 1995, hoặc tuyên bố của Liên Hợp Quốc 1995 - 2004 về 'Thập kỷ Giáo dục quyền con người", tiếp theo là việc thông qua "Chương trình thế giới về giáo dục Nhân quyền", giai đoạn đầu tiên 2005-2009 tập trung vào giáo dục tiểu học và trung học. Giai đoạn hai của Chương trình Thế giới về Nhân quyền Giáo dục (2010-2014) đã được Hội đồng nhân quyền thông qua với Nghị quyết 15/11 (30 tháng 9 2010), trọng tâm là giáo dục nhân quyền ở bậc đại học, và chương trình giáo dục và đào tạo nhân quyền cho giáo viên và các nhà giáo, cán bộ công chức, viên chức thực thi pháp luật và quân nhân. Kết quả là, không chỉ có những nỗ lực tăng cường sự quan tâm tới mối quan hệ chặt chẽ giữa hòa bình (giáo dục) và các quyền con người (giáo dục), mà còn tạo những bước tiến vững chắc giúp giáo dục nhân quyền được tổ chức ở tất cả các cấp học, để tăng cường tôn trọng phẩm giá con người và tự do căn bản.

Một hệ thống giáo dục trên cơ sở nhân quyền và hòa bình tái dựng lại cách thức người dân học về tính chân thực - cần phải có sự tham gia, trải nghiệm và thực thi. Triết gia người Brazil, Paolo Freire, đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục như một tác nhân của sự thay đổi. Ông tiến một bước xa hơn bằng cách nhấn mạnh rằng giáo dục sẽ giúp định hình cá nhân trong tìm hiểu thực tế con người đó và đóng góp tích cực cho xã hội. Với tinh thần này, kiến thức luôn luôn được học sinh và giáo viên đúc kết một cách vững bền. Xa hơn, giáo trình và phương pháp giảng dạy phải được gắn kết trên mặt lý thuyết và thực hành từ ban đầu. (Freire In Yadava).

Câu chuyện đương đại về Nhân quyền và Hòa bình ở Đông Nam Á

Trong những thập kỷ gần đây, khu vực Đông Nam Á đã chứng kiến sự phát triển năng động (và sự thoái trào) của chế độ chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội. Việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và hòa bình đã có một hành trình đầy thử thách nhằm tác động tới cuộc sống ở khu vực Đông Nam Á. 40 năm sau khi ASEAN ra đời, Nhà nước các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã chính thức cam kết về nhân quyền và hòa bình. Hiến chương ASEAN, được thông qua vào năm 2007, tuyên bố rằng một trong những mục đích của các nhà nước thành viên là "tăng cường dân chủ, đẩy mạnh quản trị tốt và các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và tự do cơ bản.” (Art. lắ7 , ASEAN Charter).

Trong khu vực Đông Nam Á đương đại, tầm quan trọng của giáo dục nhân quyền và giáo dục hòa bình đã được lồng ghép trong Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN 2009-2015, do các nhà lãnh đạo ASEAN chuẩn bị và thông qua trong năm 2009. Chỉ ra rằng chiến lược, chương trình và hành động khác nhau sẽ được thực hiện và kết hợp vào 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN (Văn hóa - Xã hội, Chính trị-An ninh, Kinh tế). Trong điểm A.1.5 của trụ cột chính trị và an ninh, thúc đẩy giáo dục nhân quyền và nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền con người đã được nhấn mạnh. Hơn nữa, trong thời điểm A.I.9., Kế hoạch đã xác định việc thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực như là một trong những yếu tố quan trọng bao gồm, các hành động khác, việc thúc đẩy mạng lưới giữa các trường trong khu vực để phát triển giáo dục hòa bình trong họ chương trình đào tạo tương ứng.

Tháng 10/2009, tất cả 10 thành viên ASEAN đã thông qua 'Tuyên bố Cha-Am Hua Hin về Tăng cường Hợp tác giáo dục nhằm xây dựng một Cộng đồng ASEAN quan tâm và chia sẻ” thể hiện cam kết đặt trọng tâm nhiều hơn vào các nguyên tắc dân chủ, tôn trọng nhân quyền và các giá trị hòa bình ở sách giáo khoa; Do đó, cụm từ “trường học” nên được hiểu bao gồm các cấp bậc khác nhau của hệ thống giáo dục, bao gồm cả giáo dục đại học.

Tháng 11/ 2012, ASEAN tái khẳng định cam kết về nhân quyền và hòa bình thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (AHRD). Quyền được học tập được nhấn mạnh là quyền con người căn bản. Hơn nữa, nó được xem như một công cụ cho phép "phát triển đầy đủ nhân cách con người và ý thức về nhân phẩm. Giáo dục sẽ tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và tự do cơ bản tại các nước thành viên ASEAN”. Tuyên bố này đã lặp lại triệt để lý thuyết Freire về một hệ thống giáo dục tự do, tiến bộ} và duy trì phẩm giá con người và chất lượng cuộc sống.

Nhiều văn kiện đã được hoàn thành, tuy vậy vẫn còn nhiều việc phải làm. Để chuẩn bị nền tảng cho sự phát triển của một hệ thống giáo dục quyền con người, hòa bình và xung đột rộng hơn trong khu vực, Viện nghiên cứu Nhân quyền và Hòa bình (IHRP) thuộc Đại học Mahidol và Mạng lưới AUN-HRE đã khởi xương việc nghiên cứu sơ bộ về "việc Khoanh vùng và phân tích giáo dục nhân quyền và hòa bình & xung đột ở khu vực Đông Nam Á” với mục đích xây dựng một cơ sở dữ liệu vững chắc bằng cách đánh giá và phân tích các khóa học/chương trình hiện có nghiên cứu về nhân quyền, hòa bình và xung đột đang được nhiều tổ chức giáo dục đại học ở khu vực Đông Nam Á tiến hành.

Với một danh sách dài các nhiệm vụ, việc đầu tiên là xác định các tổ chức và chương trình cung cấp (và có thể có khả năng cung cấp) giáo dục và đào tạo quyền con người và hòa bình trong khu vực. Thông qua đó, thiết lập dữ liệu cơ bản để phát triển các biện pháp can thiệp có mục tiêu ở cấp địa phương, quốc gia và khu vực. Tháng 4/2012, một nhóm các hội viên học viện, nhà nghiên cứu và các học giả về quyền con người và hòa bình đã phát triển một dự án mang tính đột phá tháo gỡ những vướng mắc trong việc khoanh vùng và phân tích giáo dục nhân quyền và hòa bình trong khu vực Đông Nam Á

Báo cáo này mô tả sự tổng hợp dự án nghiên cứu khu vực trong 14 tháng thực hiện tại 11 quốc gia Đông Nam Á. Nó sẽ bắt đầu với thông tin về các mục tiêu, mục đích, và phương pháp luận nghiên cứu; tiếp theo là thảo luận về tổng quan về hệ thống giáo dục đại học. Kết quả từ các nghiên cứu cấp quốc gia kết hợp với một số quan sát và phân tích của nhóm nghiên cứu khu vực sẽ được công bố. Việc tổng hợp này cũng cố gắng xác định triển vọng và thách thức mà các cán bộ nghiên cứu, các nhà hàn lâm và các tổ chức khoa học phải đối mặt. Nó cũng sẽ chia sẻ thông tin về sự hợp tác khu vực hiện tại để tìm cách tăng cường và đảm bảo chất lượng giáo dục quyền con người và hòa bình trong khu vực Đông Nam Á. Nhóm nghiên cứu sau đó sẽ đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường hơn nữa giáo dục các quyền con người và hòa bình trong khu vực

2.       Dự án và tính phù hợp của nó

Dự án mang tên "Khoanh vùng và Phân tích về nghiên cứu Nhân quyền và Hòa bình & xung đột trong khu vực Đông Nam Á" đã được bắt đầu vào đầu năm 2012 với quan điểm Đông Nam Á tôn trọng và duy trì quyền con người và giá trị hòa bình thông qua giáo dục. Điều này đã được phản ánh trong mục đích của nghiên cứu này nhằm khoanh vùng và phân tích các chương trình và các khóa học hiện có về quyền con người, hòa bình và xung đột ở bậc giáo dục đại học trong khu vực. Trong tinh thần hòa hợp, nghiên cứu không giới hạn phạm vi chỉ ở các trường đại học được bao quát trong mười quốc gia ASEAN, mà còn mở rộng đến quốc gia là những quốc gia trẻ nhất trên thế giới (và là một thành viên tiềm năng ASEAN-State), Timor-Leste.

Mục đích và tầm quan trọng của Nghiên cứu

Dự án này phục vụ như bước đầu quan trọng trong việc đạt được quan điểm lồng ghép các quyền con người và các giá trị hòa bình vào chương trình giáo dục trong khu vực Đông Nam Á. Mục đích chính của nó là để thiết lập cơ sở dữ liệu về tình trạng nghiên cứu nhân quyền, hòa bình và xung đột trong khu vực Đông Nam Á. Với mục đích này, nghiên cứu đã kiểm tra các khóa học và các chương trình về nhân quyền và hòa bình & cuộc xung đột đang được giảng dạy trong các trường đại học tại 11 quốc gia Đông Nam Á. Các nỗ lực phân tích các đề cương và giáo trình môn học tồn tại trong khu vực được thực hiện. Bất cứ nơi nào có thể, tài liệu được những người hướng dẫn sử dụng trong giảng dạy các môn học cùng đều được tập hợp và kiểm tra. Trong quá trình nghiên cứu, các buổi hội thảo đã được các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dục có liên quan cùng các nhà hoạch định chính sách tổ chức để cung cấp tài liệu, tăng tính nhạy cảm, cũng như tán thành cho những vấn đề thuộc giáo dục quyền con người và hòa bình trong các chính sách quốc gia cũng như việc thi hành đúng các quyền đó. Điều quan trọng nhất mà báo cáo này nhằm mục đích để tạo ra nền tảng cho chủ trương và chính sách ảnh hưởng đến sự phát triển của các khóa học / giáo trình nghiên cứu về quyền con người và hòa bình và xung đột trong khu vực.

Nghiên cứu bao gồm sự có mặt của các học giả, nhà nghiên cứu và các học giả mới nổi từ 11 quốc gia Đông Nam Á, cụ thể là, Brunei Darussalam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Timor-Leste và Việt Nam.

Các mục tiêu đạt được:

Các thành viên trong các nhóm nghiên cứu trong nước và khu vực đã được cam kết để đạt được các mục tiêu sau đây:

•        Đánh giá các chương trình/các khóa học hiện có về quyền con người, hòa bình và xung đột mà đã được thực hiện bởi nhiều tổ chức giáo dục đại học khác nhau trong khu vực Đông Nam Á;

•        Khoanh vùng một cách hệ thống các nguồn lực sẵn có trong khu vực;

•        Xác định khoảng cách giữa những gì đã được cung cấp và những gì là cần thiết trong khu vực nhằm nâng cao văn hóa nhân quyền và hòa bình;

•        Chia sẻ các kết quả nghiên cứu và kiến nghị các chương trình / khóa học khu vực về nhân quyền và hòa bình & xung đột.

Các phương pháp làm việc

Các dự án nghiên cứu mang tính định tính trong tự nhiên. Các nhà nghiên cứu của từng quốc gia đàu tiên đều tiến hành đánh giá thông qua nghiên cứu tài liệu trước khi thực hiện các cuộc điều tra và phỏng vấn. Các nghiên cứu cơ bản thực hiện phương pháp thu thập dữ liệu định tính chủ yếu thuê các cá nhân và có những buổi phỏng vấn chuyên sâu với các sinh viên, cựu sinh viên, giáo viên và bộ máy lãnh đạo nhà trường cũng như các chuyên gia giáo dục, các chuyên gia, và các nhà tư vấn thông qua việc lấy mẫu có chủ đích. Nhà nghiên cứu quốc gia của Philippines đã tiến hành một cuộc khảo sát thăm dò ý kiến và quan điểm toàn diện. Các hình thức tương tự, mặc dù trong một quy mô nhỏ hơn nhiều, cũng đã được tiến hành ở Myanmar. Ngoài ra, hội thảo khu vực đã được tổ chức trong đó đại diện từ các bộ máy nhân quyền của quốc gia ASEAN, các Bộ Giáo dục cũng như các cơ quan có liên quan từ các nước ASEAN và từ các quốc gia thành viên ASEAN, các nhà nghiên cứu và một vài chuyên gia đã tham dự và chia sẻ thông tin và đóng góp ý kiến. Nghiên cứu này dường như mô tả vì những nỗ lực cung cấp "cơ sở dữ liệu". Tuy nhiên, khi được nhìn nhận trong nhiều báo cáo khác nhau, việc đánh giá các khía cạnh khác nhau của giáo dục quyền con người và hòa bình cũng như việc xác định mang tính phân tích về điểm mạnh và điểm yếu của việc giáo dục các quyền con người và hòa bình cùng triển vọng cải thiện về vấn đều hiện có đã được thực hiện.

Thông qua các cuộc thảo luận với lực lượng cán bộ nguồn, các khoa và các chương trình, mà hầu như có nội dung quyền con người, đã được xác định và tìm hiểu. Câu hỏi đã được xây dựng để kiểm tra kiến thức, và ý kiến đối với quyền con người, hòa bình và các vấn đề xung đột. Các câu hỏi nghiên cứu tập trung vào:

1.       Các khóa học, chương trình giảng dạy hoặc giáo trình (văn bản và ghi nhớ)

2.       Giáo viên

3.       Phương pháp giảng dạy và tính năng động trong lóp học

4.       Tài liệu giảng dạy

5.       Tài liệu Đọc và nguồn nghiên cứu

6.       Số lượng và hồ sơ của sinh viên liên quan đến nghiên cứu quyền con người, hòa bình và xung đột

7.       Cuối cùng, những cách có thể để cải thiện hệ thống giáo dục hiện tại

Người ta đã thừa nhận về sau trong bài tổng hợp này rằng giáo dục về nhân quyền và hòa bình đã không thể được thực hành mà không có bất kỳ sự nhạy cảm và ý nghĩa chính trị. Mặc dù mức độ nhạy cảm có thể thay đổi từ nước này sang nước khác, nhưng nó vẫn có tác động rõ rệt tới sự phát triển và thực hiện các khóa học / chương trình. Các cuộc họp khu vực giữa các nhà nghiên cứu đã được tổ chức để cung cấp nơi có tính pháp lý để trao đổi thông tin và quan điểm. Độ nhạy của các đối tượng đã được thảo luận để tìm cách giải quyết một số thách thức chính trị

Những giới hạn của nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu đã cố gắng hết sức mình để có được các dữ liệu cập nhật nhất và toàn diện nhất cho báo cáo này. Tuy nhiên, có những trường hợp gây nên khó khăn cho việc đạt được mục tiêu này. Những hạn chế mà tất cả các nhà nghiên cứu, không có bất kỳ ngoại lệ nào gặp phải là:

•        Việc thiếu hệ thống dữ liệu có sẵn về giáo dục quyền con người và hòa bình; Vì đây là nỗ lực đầu tiên để khoanh vùng và phân tích giáo dục nhân quyền và hòa bình & xung đột trong khu vực, nên nó có thể không thể toàn diện như những gì người ta mong muốn. Ví dụ, một số thông tin thu thập được từ các trang web của các tổ chức khoa học và nghiên cứu thường là cơ bản và tương đối không được cập nhật.

•        Hầu hết các khóa học / chương trình đang chạy bằng ngôn ngữ địa phương của mỗi quốc gia, ngoại trừ ở Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Ở những nơi không có sẵn người dân địa phương phục vụ, các nhà nghiên cứu (trong trường họp của Campuchia và Myanmar) phải đối mặt với những khó khăn trong việc đánh giá đề cương bài giảng và các khóa học hiện tại (về thời gian và địa điểm tồn tại). Điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến tính chính xác của việc đánh giá.

•        Ở một số nước như Campuchia, Indonesia, Malaysia, Philippines, và Thái Lan, nơi có một lượng lớn của các tổ chức giáo dục đại học đang hoạt động, việc điều tra toàn hiện tất cả các tổ chức này là điều không thể. Mặc dù một mẫu phương pháp đã được thực hiện, nhưng, kết quả nghiên cứu có nhiều hạn chế.

•        Một lượng nhỏ kinh phí phân bổ cho các dự án nghiên cứu và cản trở các nhà nghiên cứu các nước thực hiện chuyến du lịch chuyên sâu để thu thập dữ liệu. Trong một số trường hợp, cảc nhà nghiên cứu đã phải dựa vào dữ liệu trực tuyến, trong đó, trong nhiều trường họp, không có sẵn trên các trang web của các trường đại học.

Với những hạn chế nêu trên, nhóm nghiên cửu có thể, và sẽ, không dám cho rằng báo cáo này là một báo cáo toàn diện và đầy đủ. Những gì chúng tôi cung cấp chù yếu là mô tả và phân tích các dữ liệu sẵn có.

3.       Hệ thống giáo dục đại học ở Đông Nam Á - Tổng quan

Trường học, bên cạnh gia đình, thường được mong đợi đặt ra khuôn phép cho giới trẻ trở thành thành thành viên tốt của cộng đồng và đất nước. Ở Đông Nam Á, giáo dục đã nhận được sự ưu tiên tối đa của các chính phủ và người dân. Giáo dục được tạo lập ở nhiều mức độ, hình thức và phương pháp- khác nhau với mục tiêu chung phát triển cá nhân tạo ra nhân lực có hiệu quả cho gia đình và công dân chủ động.

Tư tưởng chính trị khác biệt giữa các nước trong khu vực, mặc dù đã tạo ra sự khác biệt trong chính sách/ và những chính sách liên quan đến giáo dục, cũng vẫn không thể duy trì lâu hơn nữa trạng thái cân bằng giữa họ. ’Các tác nhân đồng nhất đầy quyền lực của toàn cầu hóa kinh tế ", và" điều chỉnh cơ cấu là một số trong những yếu tố gây mất tính ổn định trong sự khác biệt của các chính sách cùng hướng tới một mục tiêu. Toàn cầu hóa giáo dục đại học ngày càng tăng vẫn tiếp tục vi phạm biên giới quốc gia - vừa tạo ra những thách thức mới, vừa mở ra triển vọng cho các liên minh mới, thường mang tính khu vực. Xu hướng của sinh viên Đông Nam Á di cư trong khu vực để tham gia giáo dục đại học không còn là một hiện tượng hiếm. Điều này cũng có thể liên quan đến các hiệp định khu vực, mà bây giờ thường có chứa nội dung giáo dục. Ngoài ra, đã có một hiện tượng học sinh ngoài khối Đông Nam Á di cư do nhiều yếu tố kéo theo khác nhau, chẳng hạn như chi phí sinh sống và và các chi phí giáo dục tương đối thấp. Những gì phản ánh sự tồn tại của chương trình và các khóa học chính thuộc các tiêu chuẩn quốc tế, được công nhận và chấp nhận. Nhiều người cũng đã nắm lấy cơ hội học tập tại các trường đại học tốt nhất thế giới có trụ sở tại Đông Nam Á, ví dụ như Đại học Quốc gia Singapore (NƯS). Sự xuất hiện cua các trường đại học tư nhân và các tổ chức giáo dục cũng là một trong những đặc điểm nổi bật của giáo dục đại học ở SEA, ví dụ: Campuchia, Lào, Philippines, và Thái Lan.

Hệ thống giáo dục Đông Nam Á

Trong phần tổng quan chung, hệ thống giáo dục ở khu vực Đông Nam Á là hệ thống 3 cấp- [tiểu học, trung học (cấp 2 và cấp 3) và đại học]. Việc đầu tư lớn và ưu tiên trao cho giáo dục tiểu học và trung học ở khu vực này cũng đã được thảo luận trong các tài liệu về "Asian Miracle — Phép mâu ở Châu A" những năm 1990 và tầm quan trọng của nó đối với tăng trưởng và phát triển. Trừ Brunei Darussalam và Singapore, sự cần thiết phải đầu tư vào giáo dục ở hai cấp độ đầu tiên cao hơn so với đầu tư đối với giáo dục đại học. Mặc dù một số quốc gia cố gắng hết sức để khắc phục tình trạng này, nhưng không dễ dàng để giải quyết vấn đề này. Như trường hợp của Lào, Myanmar và Indonesia, các tổ chức giáo dục đại học vẫn đang có nhu cầu tiếp tục phát triển khoa học, tài chính và kỹ thuật. Trong một số trường họp, Campuchia, Philippines và Timor-Leste, giáo dục 3 cấp là chủ yếu do các nhà đàu tư tư nhân hoặc các tổ chức tôn giáo tiến hành.

Hệ thống giáo dục đại học ở Đông Nam Á

Giáo dục đại học trong khu vực Đông Nam Á được đưa ra ở cả các trường cao đẳng và đại học công lập và tư nhân. Bằng tốt nghiệp trung học là cần thiết để xét tuyển vào giáo dục đại học. Bằng Cử nhân đòi hỏi sinh viên phải mất 3-5 năm học và nghiên cứu giữa khóa. Bằng cấp và chương trình bao phủ các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn, khoa học xã hội, nghệ thuật và kinh doanh. Ở một số nước như Indonesia, Lào, Philippines, và Thái Lan, giáo dục kỹ thuật và dạy nghề được thực hiện như là một thay thế cho giáo dục đại học / đại học chính quy. Bằng MA cũng được cấp bởi các trường đại học trong các lĩnh vực nói trên và yêu cầu sinh viên phải trải qua 1-2 năm học và nghiên cứu. Đối với chương trình tiến sĩ, học viên phải tốn 3-6 năm để hoàn thành toàn bộ khóa, về bản chất, việc thiết kế và phạm vi của chương trình từ một lĩnh vực cụ thể đến các lĩnh vực khác thường khác nhau theo mức độ ngày càng cao.

Dựa trên tìm hiểu, giáo dục đại học bắt buộc và miễn phí như ỉà một quyền gần như không đáng kể ở tất cả các nước Đông Nam Á, ngoại trừ tại Brunei Darussalam nơi giáo dục đại học được nhà nước trợ cấp miễn phí. Tuy nhiên, nó là một phần tất yếu (và xây dựng xã hội) của cuộc sống của mỗi người để đạt được một cuộc sống chất lượng hơn (thông qua việc làm). Để đáp ứng yêu cầu này, gánh nặng tiếp cận giáo dục và các nguồn lực liên quan khác phần lớn đều đặt lên vai học sinh. Hơn nữa, khoảng cách giữa các trường đại học và cao đẳng nằm ở khu vực nông thôn và thành thị nổi cộm về mặt chất lượng và tiếp cận nguồn lực và năng lực đội ngũ giảng viên. Ở một số nước như Indonesia, Lào, và Thái Lan, các trường đại học công lập dường như được coi tốt hơn và cho chất lượng giáo dục tốt hơn.

Mặt khác, những hình ảnh sáng chói của giáo dục đại học ở Đông Nam Á được thể hiện qua các du học học sinh trong khu vực cũng như sự di cư của sinh viên không nằm trong khu vực. Những điều này, thực sự, có nghĩa rằng khu vực Đông Nam Á đã mở rộng đáp ứng các nhu cầu giáo dục và tiêu chuẩn sinh viên từ khắp nơi trên thế giới. Để khám phá sâu hơn vào những gì một trường đại học đưa ra, đặc biệt là những trường thu hút sinh viên từ những nền tảng khác nhau, đây sẽ là một khu vực thú vị nghiên cứu xa hơn.

4.       Khoanh vùng nghiên cứu nhân quyền và Hòa bình ở giáo dục đại học tại Đông Nam Á

Giáo dục quyền con người và òa bình đã được hầu hết các nước trong khu vực công nhận bởi như là một phần không thể thiếu của sự phát triển đầy đủ của một của xã hội hạnh phúc, bền vững và sự ổn định về chính trị và kinh tế. Ví dụ, ở Campuchia và Philippines, các chỉ thị Hiến pháp đối với việc áp dụng các nguyên tắc nhân quyền và hòa bình vào tất cả các cấp học. Tại Philippines, một luật cụ thể đã được ban hành nhằm bắt buộc thực hiện giáo dục nhân quyền ở tất cả các cấp của hệ thống giáo dục. Tại Thái Lan, chính sách hỗ trợ giáo dục nhân quyền và hòa bình được quy định trong các nghị quyết nội các và trọng lượng lớn các văn bản chính sách.

Với quan điểm về các giá trị nhân quyền và văn hóa hòa bình trong khu vực và đặt sự tôn trọng và ưu tiên nhất về giáo dục, điều này có ý nghĩa lớn trong việc tìm hiếu kĩ cách thức các nước Đông Nam Á hướng tới thực thi giáo dục nhân quyền và hòa bình ở giáo trình đại học đại cương trong Khu vực. Nhắc lại một trong những mục tiêu chính của nghiên cứu này, tầm quan trọng trong việc phát triển cơ sở dữ liệu khu vực, nhận ra rằng để hiểu được những khoảng trống và đưa ra các khuyến nghị, không thể tránh khỏi việc khoanh vùng những vấn đề đang tồn tại.

Định vị nghiên cứu nhân quyền và Hòa bỉnh và xung đột ở Đông Nam Á

Mặc dù khu vực đã đạt được sự tiến bộ trong giáo dục đại học, nhưng giáo dục nhân quyền và hòa bình và xung đột vẫn chưa được phổ biến và công nhận rộng rãi. Sự phát triển của các vấn đề này là tương đối mới ở một số nước trong khi cũng có những nước không tồn tại điều này.

Sự tồn tại và phát triển nghiên cứu quyền con người, hòa bình và xung đột trong giáo dục đại học chịu ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử và chính trị của đất nước. Những thay đổi chính trị hoặc chính quyền ở các nước khác nhau trong khu vực này như là một yếu tố thúc đẩy chính đằng sau sự phát triển của giáo dục và nghiên cứu nhân quyền và hòa bình và xung đột trong khu vực. Điều này đã được thể hiện rõ ờ Indonesia, Thái Lan, Timor-Leste và Việt Nam. Cũng đã có một động thái tích cực ở Myanmar đưa nhân quyền và hòa bình vào hệ thống giáo dục rất tốt. Trong khi nhân quyền và hòa bình hầu như đã góp phần gia tăng kiến thức và hiểu biết về dân chủ và dân chủ hóa, có những quốc gia như Lào và Việt Nam đi theo chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Mác - Lênin cũng rất ăn nhập với nhân quyền và hòa bình.

Các trường đại học và cao đẳng khác nhau về tính tự nhiên và xu hướng tùy thuộc vào bối cảnh chính trị. Hơn nữa, ở một số nước, các mục tiêu của việc giới thiệu các môn học trong giáo dục đại học đã được sử dụng để thúc đẩy cho 'đoàn kết và an ninh quốc gia", luôn được ghi nhớ trong các bối cảnh lịch sử và đa sắc tộc của từng quốc gia. Để rõ hơn nữa, các báo cáo về Indonesia tiết lộ rằng,

"Như vậy, trong khi chế độ độc tài đã tạo ra phong trào và phản kháng nhân quyền, các chế độ độc tài sau đổ đã tạo t a một nhu cầu cấp thiết nghiên cứu về quyền con người." Báo cáo đã đề cập sâu hơn đến "trong khi đó, mối quan tâm của cộng đồng quốc tế về sự gia tăng các cuộc xung đột nội bộ sau Chiến tranh Lạnh và sự xuất hiện của nhiều cuộc xung đột khác nhau ở nhiều nơi trên đất nước (Indonesia) tạo thành động lực nỗi lên mối quan tâm tới hòa bình và xung đột giữa các cộng đồng học tập tại Indonesia như thể hiện trong giảng dạy và nghiên cứu. ”

Điều này cũng được xem như là trường hợp của Malaysia, nơi đang giảng dạy quyền con người;

"Cũng liên quan đến việc tăng cường các phương pháp tiếp cận của Malaysia trong việc đổi phó vẩn đề là đặc thù của Malaysia, chẳng hạn như vấn dân tộc và đoàn kết xã hội. Như vậy; việc giảng dạy quyền con người cũng sẽ phản ánh mối quan tâm này. Đồi với họ, vấn đề nằm ở cách giảo dục nhân quyền nên được giảng dạy như thế nào. Nhổm nghiên cứu UKM nói thêm rằng "trong quá trình phát triển giảo trình nhân quyền hệ Cử nhân Luật (. Hons) các chương trình tại khoa Luật ƯKM, xác định các phương pháp thích hợp nhất cho việc giảng dạy và nội dung là rất quan trọng. Tuy nhiên, quan trọng hơn nữa là việc thiết lập mối quan hệ giữa giáo dục nhân quyền và đoàn kết xã hội"[4].

Trên thực tế, trong nhiều trường đại học và các viện nghiên cứu, trái ngược với khái niệm Freire về vai trò của giáo dục (mà tập trung vào sự tự do và giải thoát của một cá nhân), nghiên cứu nhân quyền, hòa bình và xung đột đang được đưa ra như là một phương tiện để có được sự thống nhất xã hội và hòa bình ở các nước đa sắc tộc. Vì vậy, trọng tâm của giảng dạy quyền con người là để thúc đẩy và tăng cường chương trình như vậy. Ngoài ra, ở một số nước, giáo dục quyền con người được thông qua với quan điểm để tăng cường tiếp cận việc đối phó với các vấn đề đặc thù của khu vực và quốc gia. Tuy nhiên, có một con đường sáng khác. Trong một số trường đại học, đặc biệt là ở Indonesia, Philippines và Thái Lan, giáo dục nhân quyền và hòa bình & xung đột được sử dụng như là công cụ để nâng cao kiến thức của học sinh về quyền và tự do của họ và tăng cường cam kết của họ với các nguyên tắc này. Những hiểu biết và kiến thức này dự kiến sẽ được chia sẻ trong xã hội rộng lớn hơn.

 

Nghiên cứu này giúp đỡ trong việc xác định không chỉ các chương trình và các khóa học nghiên cứu về quyền con người, hòa bình và xung đột, mà còn các ngành khác mà quyền con người, hòa bình và xung đột được giảng dạy (gián tiếp) hoặc chỉ nằm trong một phần nhỏ của chương trình dạy học. Điều này có thể được tìm thấy từ các báo cáo quốc gia, chẳng hạn như trong trường hợp của Campuchia[5], từ năm 1994, có một chương trình quốc gia về giáo dục quyền con người, mặc dù việc thực hiện là không kéo dài cho đến ngày nay. Tại Philippines, các môn học về quyền con người, hòa bình xung đột thường được dành cho sinh viên cơ sở và cấp cao, hoặc là một môn tự chọn/ hoặc là một phần bắt buộc trong chương trình học. Tại Indonesia, người ta quan sát thấy rằng sự phát triển và mở rộng các nghiên cứu nhân quyền tại các trường đại học Hồi giáo dựa theo vai trò trước đây - tập trung giảng dạy về nghiên cứu Hồi giáo, cũng đã mở rộng nghiên cứu quyền con người hơn nữa trong cả nước. Tuy nhiên, ở Malaysia, giáo dục quyền con người chưa bao giờ là điểm cốt yếu trong chương trình đào tạo Cử nhân Luật tại các trường đại học địa phương trừ trường đại học Malaya (UM)[6]. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng có những chương trình và các khóa học riêng biệt về nghiên cứu quyền con người, hòa bình và xung đột hiện đang được thực hiện ở nhiều vùng khác nhau trong khu vực. Việc nghiên cứu tìm ra những cách thức khác nhau mà qua đó giáo dục nhân quyền và giáo dục hòa bình đã được đưa ra ở 11 quốc gia.

Sự hợp nhất giáo dục nhân quyền và hòa bình vào các môn học hiện có

Quyền con người, ở Đông Nam Á, thường được dạy trong chương trình học pháp luật. Những điều này rõ ràng tạo ra một khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ nhằm hiểu biết về nhân quyền. Mặc dù không phải tất cả các trường luật đang giảng dạy về quyền con người, các khóa học cụ thể về nhân quyền đang được đưa ra trong một số trường luật, ví dụ ở Indonesia và Philippines, và một sô ít ở Thái Lan, một vài trường học ở Malaysia, Đại học Malaya nói riêng. Quyên con người đã được đưa vào các chương trình học khác như khoa học chính trị, xã hội học, quan hệ quốc tế và điều ngạc nhiên là trong lĩnh vực y học. Thật là thú vị khi thấy rằng giáo dục quyền con người đã được tích hợp trong giáo dục nói chung và / hoặc giáo dục công dân ở một số nước như Campuchia, Philippines, và Thái Lan. Đối với nghiên cứu hòa bình và xung đột, xuất hiện trong một số trường hợp như ở Malaysia và Singapore, đã được kết hợp cả trong nghiên cứu khoa học chính trị và nghiên cứu quan hệ quốc tế.

Thật thú vị, Brunei Darussalam, mặc dù không được thảo luận một cách rõ ràng, các quyền được kết hợp từng phần trong chương trình giảng dạy Hồi giáo. Tại Malaysia, có các khóa học mà không cụ thể về giáo dục nhân quyền, hòa bình và xung đột, nhưng lại có chứa các yếu tố của nhân quyền trong giáo trình. Ví dụ, Đại học Kebangsaan Malaysia[7] đưa ra khóa học cốt lõi và tự chọn đều bao gồm nhân quyền. Các khóa học bao gồm các môn học phần lớn là giống nhau ở các trường đại học khác cũng đưa ra các khóa học có yếu tố của nhân quyền như trường hợp của Singapore.

Các khóa học cụ thể về Nhân quyền, Hòa bình và Xung đột

Các quan sát rộng rãi cho thấy vẫn còn thiếu các khóa học cụ thể đề cập tới các nghiên cửu quyền con người, hòa bình và xung đột, đặc biệt là ở bậc đại học trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, mặc dù ít, nhưng vẫn có những trường đại học trong đó cung cấp các khóa học cụ thể về nhân quyền. Tại Lào, một khóa học hai chứng chỉ về luật nhân quyền quốc tế đang được đưa ra cho sinh viên luật thuộc khoa Luật và Khoa học Chính trị. Tại Campuchia, một khóa học về luật nhân quyền quốc tế được đặt ra trong một vài trường đại học. Tại Philippines, các khóa học về nhân quyền được thực hiện ở nhiều trường đại học khác nhau trên các khu vực của đất nước. Tại Thái Lan, một lượng lớn các trường đại học (chủ yếu là các trường luật) đưa ra các khóa học cụ thể về quyền con người, chủ yếu là khóa học tự chọn.[8] Các khóa học về nghiên cứu hòa bình và xung đột cũng được đặt ra tại Indonesia, Timor-Leste và Thái Lan. Điều khá phổ biến trên thực tế trong khu vực nằm ở chỗ không phải tất cả các khóa học về nhân quyền được đưa ra như một khóa học bắt buộc mà chủ yếu là môn tự chọn. Các khóa học về quyền con người, thậm chí nếu được đặt ra trong các trường đại học khác nhau, thì lại không được quy chuẩn, đối với hệ cử nhân và thạc sỹ. Trong một số trường hợp, ví dụ như Các chương trình Nghiên cứu về Giới tại Đại học Malaya đặt ra một khóa học sau đại học kết hợp triển vọng nhân quyền và giới tính. Điều thú vị ở trường hợp đáng chú ý của Brunei Darussalam, các kế hoạch sự phát triển của một khóa học về quyền con người đang được tiến hành nhưng, đặc biệt chỉ dành cho sinh viên quốc tế.

Cũng như đã trình bày trong các báo cáo của từng quốc gia, vẫn có một khoảng trống rộng giáo dục nhân quyền, hòa bình & xung đột, từ các quốc gia không có bất kỳ khóa học cụ thể về giáo dục quyền con người cho đến những quốc gia có tới giáo trình quốc gia về giáo dục nhân quyền, hòa bình & xung đột và sự phối kết trong các chương trình đã tồn tại sẵn, phần lớn trong đó là các lĩnh vực pháp luật, quan hệ quốc tế và nghiên cứu về giới.

Các chương trình cụ thể về nghiên cứu nhân quyền và hòa bình

Nhận thấy rằng một chương trình nghiên cứu nhân quyền, hòa bình và xung đột đứng một mình thì không tồn tại ở cấp giáo dục đại học trong khu vực Đông Nam Á. Chỉ có duy nhất một chương trình cụ thể về nhân quyền liên quan đến trường luật trong chương trình đại học ở Thái Lan[9]

Ở bậc đại học, thực sự là nghiên cứu quyền con người, hòa bình và xung đột trong khu vực đã tụt hậu so với các khu vực khác. Chỉ có một số lượng (hạn chế) các trường đại học trong khu vực hiện đang tiến hành nghiên cứu nhân quyền, Hòa bình và Xung đột như được định nghĩa trong chương trình giảng dạy của họ. Trong tất cả các trường Đại học, nghiên cứu Nhân quyền, Hòa bình và Xung đột được đặt tên một cách rõ ràng như trường hợp của Thái Lan, nơi có nhiều chương trình học sau đại học về quyền con người, hòa bình và xung đột được đưa ra ở bậc Thạc sĩ và tiến sĩ9 và Việt Nam bắt đầu chương trình thạc sỹ (LL.M) đầu tiên về luật nhân quyền năm 2011.[10] [11]Tuy nhiên, trong một số chương trình cụ thể mà không được đặt tên là nghiên cứu nhân quyền hay hòa bình, nhưng lại có mang nhiều yếu tố quyền con người hoặc hòa bình như Thạc sĩ Nghệ thuật trong nghiên cứu về giới hay phụ nữ.

Một điểm lưu ý quan trọng để thêm vào là xu hướng ngày càng tăng của việc thành lập của cả các viện nghiên cứu/trung tâm nhân quyền và hòa bình và xung đột trong khu vực mà dường như rất phổ biến với trường hợp của Indonesia, Philippines, Thái Lan, và Việt Nam.

Mặc dù trên thực tế có một số lượng nhỏ các chương trình giáo đại học, thạc sỹ và tiến sĩ đang thực thiện ở nhiều vùng khác nhau trong khu vực, như các chương trình diễn ra tại Viện Nghiên cửu Nhân quyền và Hòa bình (IHRP) tại Đại học Mahidol Thái Lan đã “sản xuất” hơn một 100 thạc sỹ và tiến sĩ tốt nghiệp đến từ tất cả các nơi trên thế giới.

5.       Quan sát và đánh giá

Hầu hết các khoa, các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á không có bất kỳ khóa học cụ thể nào nghiên cứu hòa bình và xung đột mà bao gồm cả quyền con người nói chung, chứ không phải chúng được tích hợp vào các chương trình và các khóa học, cũng không phải là đối tượng được thảo luận cùng với các vấn đề khác mà chung mục đích cụ thể. Đồng thời, tại nhiều quốc gia nơi có các khóa học cụ thể nghiên cứu về quyền con người, nghiên cứu hòa bình và xung đột, có các phương pháp tiếp cận tốt hơn tới hiểu biết và phổ biến các môn học khác nhau.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có những trường đại học trong khu vực đó đang đưa ra các chương trình và các khóa học nâng cao về quyền con người, hòa bình và xung đột[12]. Tuy nhiên, nhiều chương trình trong số đó đã được kết hợp với các yếu tố nhân quyền và hòa bình vào chương trình đào tạo và đề cương hiện đang được giảng dạy.

Tuy nhiên, các quan sát đã chỉ ra rằng đối tượng, nhân quyền vẫn chủ yếu bị chi phối bởi phương pháp tiếp cận và chiều cạnh pháp luật. Điều này liên quan trực tiếp đến thực tế rằng hầu hết các khóa học và các chương trình học về nhân quyền được các trường luật đưa ra như môn học cơ bản cũng như nâng cao. Đồng thời, nghiên cứu hòa bình và xung đột chủ yếu là kết hợp trong quan hệ quốc tế hay khoa học chính trị nói chung, cần phải lưu ý rằng nhận thức của các nhà hoạch định chính sách đối với nhân quyền và hòa bình đã ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các quyền con người và giáo dục hòa bình tại đất nước của họ. Điều này được phản ánh một cách trực tiếp hay gián tiếp theo cách thức phù hợp hoặc kết hợp với các môn học trong hệ thống giáo dục đại học cũng như cách các môn này được dạy. Ở một số nước, các vấn đề nhân quyền vẫn được coi là nhạy cảm và không được thảo luận một cách cởi mở, trong khi các nước khác, các giảng viên và sinh viên có thể tự do nghiên cứu và thảo luận. Kết quả là, các chiến lược và chính sách giáo dục nhân quyền và hòa bình và xung đột đang được đề xuất cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh và nhu cầu của đất nước. Ví dụ, tại Malaysia, tổ chức xã hội ở trong đất nước Malaysia đa sắc tộc là quan trọng và vai trò của việc đưa quyền con người vào trong hệ thống giáo dục đại học là để tăng cường đoàn kết xã hội. Các quyết định vừa để thúc đẩy các chương trình nghiên cứu nhân quyền và các hòa bình và xung đột và cũng vừa phụ thuộc vào cách mà các quan chức nhìn nhận tầm quan trọng của các chương trình.[13]

Theo phản ánh trong các báo cáo quốc gia, quyền con người và các vấn đề liên quan khác không chỉ được coi là nhạy cảm, mà thậm chí là một điều cấm kỵ trong thảo luận, như trường hợp của Brunei và Myanmar, ít nhất là cho đến năm 2011, Trong khi giảng dạy về quyền con người có thể thu hút các cuộc tranh luận, nghiên cứu hòa bình và xung đột được coi là ít gây tranh cãi. Ví dụ, báo cáo từ Singapore cho rằng "mặc dù quyền con người được dạy ở Singapore, hướng tới bối cảnh được quốc tế hóa, hoặc tri thức khóa như quan điểm trừu tượng". Ở Campuchia, các vấn đề hòa bình và xung đột cùng với các vấn đề khác như buôn người, nhân quyền vẫn không được thảo luận công khai trong các trường đại học. Đối lập với các nước như Indonesia, nơi các khóa học về nhân quyền đã được thông qua bởi hầu như tất cả các khoa luật và một giáo trình giảng dạy trên toàn quốc đã được áp dụng thông qua một hội thảo có sự tham gia của các khoa của pháp luật trên toàn quốc và cả ở Thái Lan, nơi các chương trình nghiên cứu nhân quyền và hòa bình & xung đột đã được cung cấp và thảo luận một cách công khai.

Tự do mang tính học thuật vẫn là một vấn đề nhạy cảm ở một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Thực tế là quyền con người đã được đưa ra trên phạm vi quốc tế và cung cấp cho sinh viên trong và ngoài nước phản ánh rõ ràng nhận thức của các nhà hoạch định chính sách. Hơn nữa, cũng có thể đúng khi suy ra rằng hầu hết các quốc gia không có các chính sách cụ thể rõ ràng về giáo dục quyền con người và hòa bình. Trong các quốc gia, nơi các trường đại học cho cả các Bộ Giáo dục và Giáo dục đại học, kết quả của hội thào này là giáo dục hòa bỉnh được giảng dạy vả nội dung của các chương trình này là như thế nào. Bộ Giáo dục đã bước đầu quan tâm và đã triệu tập một cuộc họp ngay sau khi thảo luận về triển vọng giới thiệu giáo dục hòa bình ở cấp trường, nhưng mối quan tâm đã giảm dần sau khi các lãnh đạo hàng đầu của Bộ bày tò nghi ngờ, đưa ra tính chất nhạy cảm và phù hợp cua nội dung, và các khối lượng công việc đè nặng lên các sinh viên (Báo cáo từ Malaysia).

Không thể tự do quyết định các chương trình riêng / khóa học của họ, sự phát triển của giáo dục này có thể không được nhanh như mong muốn. Ngoài ra, ở mọi trường hợp, các khóa học và các chương trình trong nhiều trường đại học đã được khởi xướng bởi cá nhân các cán bộ giảng dậy chứ không phải là sáng kiến chính trị với xác nhận chính trị.

Một đặc điểm khác của giáo dục quyền con người và hòa bình là chỉ một vài viện nghiên cứu, chẳng hạn như Viện Nghiên cứu Nhân quyên và Hòa bình (IHRP), tập trung một cách đầy đủ các chương trình của họ về mối tương quan giữa nghiên cứu quyền con người và hòa bình và xung đột. Mối quan hệ giữa nhân quyền và hòa bình đã không ăn nhập với hầu hết các khóa học / chương trình được cung cấp bởi các tổ chức khác cao cấp hơn xung quanh khu vực. Việc tách biệt này đã trở thành một quy định ngày nay.

Điều thú vị là, ở Indonesia, có một số ngành không thuộc lĩnh vực khoa học xã hội lại đưa ra các khóa học về hòa bình và xung đột. Ví dụ, hai khoa lâm nghiệp của trường đại học Mulawarman và trường Đại học Tadulako đã đưa khóa học giải quyết xung đột trong các cuộc xung đột về tài nguyên rừng.[14] Ngoài ra còn có một trung tâm kết hợp hòa bình với các giá trị tôn giáo, chẳng hạn như trường đại học Yogyakarta Muhammadiyah (Universitas Muhammadiyah Yogyakarta - ƯMY), trong đó có một khóa học gọi là Giải pháp mới cho xung đột trong thế giới Hồi giáo. Đại học Andalass (Unand) ở Padang có đặc điểm riêng biệt bằng việc sử dụng các Polemoiogy (kiến thức về nghiên cứu an ninh và xung đột) là tên của khóa học.

Từ nghiên cứu này đã thấy sự quan tâm ngày càng tăng đối với giáo dục các quyền con người và hòa bình trong khu vực Đông Nam Á, và một số do dự từ một số ít các quốc gia. Ví dụ, Myanmar, vào đầu năm 2012, tại cuộc họp thường niên của Hội đồng Nghiên cứu (BOS), nhiều cấu trúc hơn về "dân chủ" và "khoa học chính trị” đã được đề xuất bổ xung vào trong các chương trình nghiên cứu. Các giáo trình đề xuất đã được phê duyệt và các trường đại học sẽ bắt đầu giảng dạy cấu trúc mới trong năm 2013. Phải xác nhận rằng không còn bất kỳ sự hạn chế về khái niệm và từ ngữ mang tính chính trị, như "nhân quyền" ở hầu hết các nước trong khu vực. Giả định rằng, với hiệu lực của Hiến chương ASEAN và thành lập cơ quan nhân quyền ASEAN với nhiệm vụ thúc đẩy giáo dục quyền con người cũng như việc thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN, thì các Quốc gi thành viên ASEAN sẽ quan tâm và nỗ lực nhiều hơn nữa.

Chắc chắn, giáo dục các quyền con người và hòa bình vẫn còn là một chặng đường dài để đi. Nhưng, thực tế nhiều hơn các tổ chức giáo dục đại học đang tiến hành khóa học / chương trình có chứa yếu tố nhân quyền và hòa bình trong hệ thống giáo dục, mặc dù có những khoảng trống - nhưng nó đã là một bước tiến nhằm tiến tới một nền giáo dục nhân quyền và hòa bình sáng tạo hơn, tiến bộ hơn, với nhận thức thấy trong quá trình này sẽ có những thách thức đặt ra.

6.       Phân tích những thách thức và triển vọng

Tóm lại, nghiên cứu cho thấy rằng trong hầu hết các trường hợp, giáo dục nhân quyền và hòa bình & xung đột thiếu được ưu tiên trong giảng dạy, so với các môn học khác, mặc dù tình hình đang được cải thiện như thể hiện trong nghiên cứu, một mặt không tồn tại của thuật ngữ nhân quyền[15] (Brunei, Myanmar) và mặt khác, có chương trình quốc gia về giáo dục quyền con người từ tiểu học đến sau đại học (Campuchia và Philippines). Dựa trên những quan sát (chính trị và chính sách) được thực hiện trong phần trước, có một số thách thức thực tế phải đặt ra đối với các tổ chức khác nhau trong hầu hết nếu không phải tất cả các nước như sau:

Sự quan tâm cộng đồng đối với giáo dục nhân quyền và hòa bình

Nhiều trường học và sinh viên trong khu vực, cũng như ở hầu hết các nơi trên thế giới, xem giáo dục đại học như là chìa khóa cơ bản để đạt được một tương lai bền vững và an toàn về mặt tài chính. Như vậy, các khóa học và các chương trình mà đảm bảo việc làm có tay nghề cao và chuyên gia nguồn được cá tổ chức khoa học và học viên ưa chuộng nhất. Giáo dục quyền con người và hòa bình đang bị đặt vào trong một nền giáo dục công nghiệp hoá.

Những người ủng hộ được, do đó, đang phải đối mặt với thách thức trong việc thực hiện công khai kêu gọi mà không ảnh hưởng chất lượng học thuật và các nguyên tắc đặt ra trong việc thực thi việc đó.

Khả năng sẵn có và tiếp cận Giáo trình và Tư Liệu

Nhìn chung, quan sát tình hình và tính ưu tiên nhân quyên và hòa bình toàn khu vực đã đặt ra rằng về khả năng sẵn có và khả năng tiếp cận các chương trình đào tạo/Giáo trình và tư liệu là rất chủ quan với tình hình kinh tế và chính trị của một quốc gia. Nhưng nói chung, vẫn có một khoảng trống lớn trong tính sẵn có và khả năng tiếp cận các nguồn tài liệu khoa học, bắt đầu từ chương trình đào tạo và đề cương bài giảng nhân quyền, hòa bình và xung đột. vẫn còn thiếu nguồn lực và tài liệu giảng dạy có sẵn bằng ngôn ngữ địa phương (hầu hết các nước không sử dụng tiếng Anh như là phương tiện hướng dẫn chủ yếu). Các sách giáo khoa càn phải được dịch sang các ngôn ngữ địa phương, một quá trình tốn nhiều thời gian và rườm rà đã hạn chế và ảnh hưởng đến phạm vi, tính chất của giáo dục quyền con người, hòa bình và xung đột. Đây là kinh nghiệm ở Việt Nam, nơi đã phải mất hơn một thập kỷ để dịch các tài liệu sang ngôn ngữ địa phương (Tiếng Việt).

Đáp ứng các yêu cầu học thuật

Phác họa theo một hướng khác, mặc dù có các chương trình học về giáo dục quyền con người, nhưng nó lại không dễ dàng để các sinh viên đáp ứng với yêu cầu học tập của các đối tượng. Theo báo cáo của một quốc gia "các sinh viên tham gia các chương trình dân chủ và quyền con người chủ yếu là các nhà hoạt động, mà công việc của họ thiết việc xuất bản tải liệu/ báo cảo khoa học. Nhung do đặc thù hoạt động của học, họ hiếm khi phải đỗi mặt với các vẩn đề trong thực tế Báo cáo tiếp tục đề cập rằng, kể từ khoảng thời gian đó, thách thức được đặt ra khiến các trường đại học thiết lập một tiêu chuẩn khoa học, yêu cầu năng lực ngôn ngữ và các kì kiểm tra chất lượng etc". Đây là phương tiện đã được các chương trình hiện hành về giáo dục quyền con người, hòa bình và xung đột thông qua, để ghi danh các sinh viên tiềm năng thỏa mãn được các tiêu chuẩn và yêu cầu mong muốn của chương trình. Mối quan tâm, hưởng ứng như một sáng kiến, rằng có rất có thể sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều đối với những nhà hoạt động nhân quyền trong việc ghi danh tham gia các chương trình học hoặc các khóa học. Đối với những người muốn ghi danh vào các trường đại học ngành giáo dục đại học về nghiên cứu các quyền con người, hòa bình và xung đột, có thể thấy được khó khăn để đáp ứng các tiêu chuẩn học thuật và đặt ra từ các chương trình nghiên cứu theo lộ trình

Tính sẵn có và năng lực của các nhân viền học thuật

Hầu hết các trường đại học và các viện nghiên cứu trong khu vực hạn chế lực lượng nhân viên học thuật và năng lực trong việc cung cấp giáo dục quyền con người. Các nghiên cứu được tiến hành bởi Riyadi[16] đã mở ra một phát hiện rất thú vị về Indonesia. Hầu hết các giáo viên giảng dạy Luật Nhân quyền không có nền tảng học vấn về nhân quyền. Chỉ có 3% trong số 238 giáo viên đã nghiên cứu quyền con người. Phần còn lại đến từ nền tảng khác nhau, từ luật hiến pháp, pháp luật hình sự, luật tư pháp, pháp luật hành chính công cho tới triết học pháp luật. Ở Lào, chỉ có ba người tham gia giảng dạy quyền con người tại Đại học Quốc gia Lào (NƯOL). Tại Philippines, hầu hết các cơ sở giáo dục đại học không đòi hỏi người dạy về quyền con người phải có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ về đề tài liên quan đang được giảng dạy thậm chí, ngay cả đào tạo cơ bản về quyền con người thường cũng không yêu cầu. Ở Việt Nam, chỉ có dưới 5 giảng viên có nền tảng quyền con người.

Thiếu cam kết chính trị

Nghiên cứu cho thấy rằng vẫn không có sự sẵn sàng từ phía các cơ quan giáo dục để hiểu biết tầm quan trọng của giáo dục quyền con người, hòa bình và xung đột. Ở một số nước, các chương trình đào tạo cần phải được sự chấp thuận của chính phủ hơn là chính các trường đại học giảng dạy. Tại Singapore, Đại học Quản lý Singapore (SMƯ) được cho là đã thành lập tổ chức nhân quyền đầu tiên của quốc gia này vào tháng Mười năm 2012. Nó đã lên kế hoạch thành lập Trung tâm Handa quản trị và nhân quyền toàn cầu. Tuy nhiên, trường này bị hủy việc mở Trung tâm này chỉ vài ngày trước khi ra mắt với lý do không nói ra[17]. Ngoài ra, việc thiếu các cam kết được phản ánh trong các nguồn tài liệu được cung cấp bởi các trường đại học / chính phủ. Tại Thái Lan, ví dụ, các chương trình đang chạy chủ yếu nhờ vào học phí từ sinh viên và các nguồn tài trợ bên ngoài mà thường hỗ trợ việc mua sắm các tài liệu giảng dạy khá đắt tiền.

Kinh phí và các nguồn lực

Kinh phí là một thách thức lớn được nhìn thấy và cảm nhận bởi nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng ở các nước được nghiên cứu. Một yếu tố là do sự ưu tiên rất nhỏ dành cho giáo dục trong ngân sách quốc gia (mặc dù có một số ngoại lệ). Với việc kinh phí hạn chế cho giáo dục, thì giáo dục quyền con người, hòa bình và xung đột đã bị bỏ qua khỏi các chương trình giảng dạy và ưu tiên các môn học khác. Đầu tư tư nhân và hỗ trợ kỹ thuật lấp đầy khoảng trống để do nguồn công quỹ hạn chế để lại. Tuy nhiên, vẫn không đủ để hoàn toàn kết quả đạt được mục đích áp đặt bởi nhu cầu hiện tại. Hầu hết các chương trình nghiên cứu về nhân quyền, hòa bình và xung đột của con người vẫn còn đang phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài.

Ngoài ra cũng chỉ có một lượng nhỏ học bổng cho sinh viên nghiên cứu lĩnh vực này. Điều này là rất căn bản bởi vì hầu hết các sinh viên đang dựa nhiều vào nguồn tài trợ bên ngoài và điều này trở thành một trở ngại cho sinh viên trong việc hoàn thành nghiên cứu. Gần đây, như các nghiên cứu cho thấy, có rất nhiều viện trợ nước ngoài đang được khai thác để xây dựng năng lực cho đội ngũ giảng viên và chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu nhân quyền, hòa bình và xung đột.

Thiếu khung pháp lý và cơ sở hạ tầng thích hợp

Trong khi nổi lên sự quan tâm lớn tới việc đánh giá và thúc đẩy nhân quyền và hòa bình, người ta đã thấy rằng, ở một số nước nơi các nguồn lực khan hiếm đang bắt kịp với xu hướng và nhu cầu hiện nay. Sự gia tăng đột biến về nhu cầu hiếu biết về quyền con người, hòa bình và xung đột phải được lấp đầy.

Hệ thống giáo dục của hầu hết các quốc gia trong nghiên cứu cho thấy thiếu một thiết kế chương trình giảng dạy khung HRE tiêu chuẩn - ngay cả khi có chính sách tại chỗ. Ở các nước như Philippines đã cho thấy "... Tuy nhiên, việc thiếu khung giáo dục nhằm thực hiện chỉnh sách một cách rõ ràng đã ảnh hưởng tỉnh bền vững của các khóa học, quyền tự chọn, và chương trình học nhân quyền

Tính bền vững

Một thách thức quan trọng và quả thực nghiêm trọng mà các báo cáo quốc gia đã nhấn mạnh trong nghiên cứu là tính bền vững của chương trình. Trong một ý nghĩa sâu sắc hơn, thách thức đặc biệt này đặt ra một mối đe dọa cho các chương trình nghiên cứu các quyền con người, hòa bình và xung đột và không có nhiều nơi các môn học dạy theo các chương trình khác. Với những đặc điểm dễ tổn thương, các chương trình nghiên cứu nhân quyền con người, hòa bình và xung đột đều phần nhiều dựa vào sự đăng ký sinh viên, thu hút sinh viên tương lai, học bổng, tài trợ nước ngoài... Đây là một nỗ lực thêm (tìm kiếm những cách mới ra) mà các học viên trong lĩnh vực này càn phải đầu tư, để giữ cho các chương trình đang chạy. Điều này cũng liên quan trực tiếp đến việc quan sát các mâu thuẫn mà các nhà nghiên cứu đã tìm thấy trong cấu trúc chương trình đào tạo và chương trình trong hầu hết các trường đại học. Đây là một nỗ lực tăng cường (tìm kiếm những cách mới) mà các học viên trong lĩnh vực này cần phải đầu tư, để duy trì cho các chương trình đang thực hiện.[18] Điều này cũng liên quan trực tiếp đến việc quan sát các mâu thuẫn mà các nhà nghiên cứu đã nhận ra trong cấu trúc chương trình đào tạo và của hầu hết các trường đại học.

Hơn nữa, ưu tiên hiện tại mà các trường đại học đặt ra ảnh hưởng đến sự sẵn có và khả năng tiếp cận các tài liệu có liên quan để giảng dạy nhân quyền, hòa bình và xung đột. Ví dụ, quyền con người được giảng dạy chủ yếu ở trường luật trong khi nghiên cứu hòa bình được tiến hành thường xuyên hơn trong các môn học khoa học chính trị. Như đã nêu ở trên, việc chuyên môn hóa và ưu tiên hóa của các trường đại học gây ảnh hưởng đến chất lượng và năng lực, cũng như toàn thể, của chuyên môn học thuật và nghiên cứu lĩnh vực nhân quyền, hòa bình, và xung đột. Ngoài ra, tính bền vững không thể được đảm bảo bởi vì trong nhiều trường họp, các chương trình và các khóa học đã được giới thiệu thông qua các sáng kiến và nỗ lực cá nhân ..

Khuyến khích Tự do học thuật

Tại Singapore "vẫn tồn tại một" không khí sợ hãi 'khi đề cập đến giảng dạy và viết về các vấn đề gây tranh cãi. Cũng có thể cho rằng điều này mang tính nhận thức hơn thực tế... Tuy nhiên, thực tế vẫn cho thấy một số viện nghiên cứu thận trọng hơn và có xu hướng tự kiểm duyệt một phương pháp mà có hiệu quả hơn nhiều so với một hệ thống kiểm duyệt thực tế, nếu thực sự nó tồn tại, nó sẽ đạt được điều này.”[19]

Tại Philippines, "Bằng tốt nghiệp trung học về tự do học thuật được các nhà trường cung cấp bởi các trường học (tức là có khả năng cao để thay đỗi phương pháp, cách tiếp cận, và các tư liệu được sử dụng trong các khóa học cụ thế hoặc thậm chí thiết kế một khóa học kết hợp giáo dục quyền con người, với sự chấp thuận của CHED)[20]

Bằng tự do học thuật có một vai trò trong việc phổ biến giáo dục nhân quyền và hòa bình ở cấp quốc gia và được đưa vào chương trình giảng dạy ở nhiều cấp độ giáo dục khác nhau. Các trích dẫn trên cho thấy sự tương phản rõ rệt giữa các quốc gia đã nghiên cứu có một sự chênh lệch giữa các nước về mức độ thực hiện quyền tự do này. Người ta đã được quan sát thấy rằng phạm vi bao gồm từ tự do hạn chế, như trong trường hợp của Singapore, Brunei Darussalam, Myanmar và Việt Nam, một mặt, Thái Lan, Philippines và Indonesia, ba nước có quyền tự do học thuật hoàn chỉnh đối với cơ quan độc lập với sự tự do hoàn thành để thiết lập các chương trình giảng dạy, mặt khác quản lý và chuẩn bị các tài liệu đọc có liên quan (sách văn bản v.v).

Ảnh hưởng của các giá trị tồn giáo/đức tin và truyền thống.

Tôn giáo đóng một vai trò rất quan trọng trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống, và hệ thống giáo dục trên toàn thế giới không ngoại lệ bị ảnh hưởng. Điều này được thấy trong các chương trình giảng dạy được thiết lập và giảng dạy trên khắp thế giới và các nước trong nghiên cứu. Rõ ràng nhất là trường hợp của nước Brunei Darussalam, nơi các giá trị Hồi giáo phải được duy trì ở trên bất kỳ bài giảng chính trị, xã hội nào. Các dòng mập mờ giữa Giáo hội và Nhà nước tại Philippines đã ảnh hưởng như thế nào tới quyền con người được quy định rõ đặc biệt là khi giải quyết vấn đề giới tính và tình dục. Tôn giáo chiếm ưu thế ở một quốc gia cụ thể đóng vai trò rất lớn trong việc xây dựng chính sách giáo dục, và các nội dung được giảng dạy ở tất cả các cấp giáo dục.

Các tranh luận sâu sắc về "giá trị châu Á" là một chuẩn mực chính trị-xã hội chiếm ưu thế ở nhiều quốc gia liên quan đến việc quản lý các bài viết nhân quyền và hòa bình & xung đột đặc biệt trong hệ thống giáo dục. Giá trị truyền thống, văn hóa và tín ngưỡng đã được tăng lên theo cấp số mũ và là một phương tiện quan trọng trong việc giải thích các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế trong các hoàn cảnh cụ thể, như nhiều của các giá trị đã được nhìn thấy và tìm thấy phù hợp với các tiêu chuẩn nhân quyền, nhưng không có tiêu chuẩn chung nào phát triển cho giáo dục nhân quyền trong phần lớn các quốc gia trong nghiên cứu này.

Tóm lại, vẫn tồn tại sự thiếu hụt mang tính khu vực về chính sách và cam kết chính trị. Việc nhận thức của các nhà lãnh đạo chính trị và các nhà hoạch định chính sách cũng gây càn trở sự phát triển giáo dục nhân quyền, hòa bình. Ở một số nơi, tự do học thuật là một vấn đề phản ánh thực tế rằng nhân quyền đang được nhìn nhận có tính nhạy cảm. Thiếu cán bộ giảng dạy có trình độ cho các môn học này. Điều này đã gây khó khăn hơn cho những người hướng dẫn trong việc phối hợp với đông nghiệp có liên quan để hội nhập sâu hơn nhân quyền và hòa bình vào trong chương trình giảng dạy hiện nay, hơn nữa để tạo ra một chương trình học nhân quyền và hòa bình cụ thể. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc có được các tài liệu hiện có và phát triển các nguồn lực tập trung vào kiên thức được địa phương hóa vê hòa bình & nhân quyền, về mặt giảng dạy và nghiên cứu của vấn đề này trong khu vực vẫn còn rất khan hiếm, có thể do nguyên nhân là số lượng hạn chế của các khóa học được giảng dạy. Một trong những kinh nghiệm phổ biến nhất trong các chương trình và các khóa học về nghiên cứu nhân quyền, hòa bình và xung đột ở các trường đại học trong khu vực là sự thiếu quan tâm giữa các sinh viên đặc biệt là ở bậc đại học. Triển vọng việc làm sau khi tốt nghiệp khóa học về nhân quyền và hòa bình thấp có thể là yếu tố tạo cho sinh viên thiếu quan tâm tới ngành học này. Ngoài các nguồn lực con người và các sinh viên tiềm năng, vấn đề về các chương trình hoặc các khóa học về quyền con người, hòa bình và xung đột một phần cũng bởi tính sẵn có và khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên.

7.       Đi đôi thực hiện: Cộng tác học thuật về nhân quyền và Hòa bình trong khu vực

Người ta đã chứng minh rằng chính phủ một mình không thể giải quyết các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền và hòa bình. Hợp tác nhiều bên liên quan giúp giảm bớt gánh nặng của Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề hiện tại và đang nổi lên về nhân quyền. Một điều may mắn ở Đông Nam Á là sự quản lý tích cực các tổ chức xã hội dân sự ở nhiều nước trong khu vực. số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ của quốc gia và khu vực (NGOs), các tổ chức nhân dân (PO) và các phong trào xã hội đã đang diễn ra trong nhiều năm để thiết lập các cộng đồng và xã hội xoay quanh các giá trị dân chủ, tự do cơ bản và công lý.

Các viện nghiên cứu, mặt khác, đã tiến tới cộng tác cùng nhau và tạo lên mạng lưới thực hiện mục tiêu lồng ghép nhân quyền và hòa bình thông qua giáo dục đại học. Có ba mạng lưới khoa học lớn trong khu vực tích cực làm việc theo quan điểm này, Mạng lưới Đại học nghiên cứu nhân quyền Đông Nam Á, Mạng lưới nghiên cứu Nhân quyền của Đông Nam Á (SEAHRN) và Mạng lưới nghiên cứu xung đột Đông Nam Á (SEACSN).

Tổ chức học thuật tập trung nhân quyền của Đông Nam Á: A UN-HRE

Mạng lưới các trường đại học ở ASEAN (AƯN) đã chính thức được thành lập để tăng cường mạng lưới hiện tại là hợp tác giữa các trường đại học hàng đầu trong ASEAN, bằng cách thúc đẩy họp tác và đoàn kết giữa các học giả ASEAN và các viện nghiên cứu, thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực khoa học và chuyên nghiệp, và đẩy mạnh tuyên truyền thông tin giữa các cộng đồng khoa học ASEAN.

Tại Hội nghị quản trị mạng Đại học ASEAN (AƯN-BOT) được tổ chức ngày 28-29 tháng Bảy, năm 2009, Hội đồng quản trị chấp thuận việc thành lập mới mạng bổ sung được gọi là Mạng lưới Giáo dục quyền con người để thúc đẩy các cơ hội nghiên cứu và giáo dục nhân quyền. Điều này được tạo ra nhằm góp phần cho các sáng kiến ASEAN về nhân quyền và các lĩnh vực có liên quan trong khu vực. Các sáng kiến của AUN đã lần lượt được Hội nghị quan chức cấp cao ASEAN và Hội nghị các Bộ trưởng giáo dục ASEAN phê duyệt. Kể từ cuối năm 2009, Mạng lưới các trường đại học ASEAN về giáo dục Nhân quyền (AUN-HRE) đã chính thức được thực hiện một chủ đề hợp tác của 26 trường đại học thành viên ở tất cả mười nước thành viên ASEAN, trong đó Đại học Mahidol là đầu mối chính. Tiến sĩ Srỉprapha Petcharamesree được bổ nhiệm là người triệu tập họp của chủ đề này. Mục tiêu chính của AƯN-HRE là thúc đẩy cơ hội giáo dục và nghiên cửu, các hoạt động đào tạo và các hoạt động có liên quan trong vùng về nhân quyền và giữa các trường Đại học thành viên AƯN, với năm mục tiêu cụ thể sau đây:

•        Thành lập mạng lưới các chuyên gia và học giả trong lĩnh vực nghiên cứu quyền con người và pháp luật;

•        Thúc đẩy các cơ hội giáo dục và nghiên cứu, các hoạt động đào tạo và các hoạt động có liên quan trong lĩnh vực nhân quyền và giữa các trường đại học thành viên AƯN;

•        Giúp các trường đại học thành viên AƯN phát triển giáo trình, chương trình đào tạo, các khóa học về Nhân Quyền

•        Mở rộng mạng lưới khoa học vững chắc và thúc đẩy hợp tác hơn nữa giữa các nhà học thuật và sinh viên trong lĩnh vực nhân quyền và

•        Nang cao nhận thức và tăng cường hợp tác khu vực dẫn đến những giải pháp tốt hơn cho vấn đề nhân quyền trong khu vực.

Các hoạt động chính của AƯN-HRE cho đên nay tập trung vào

•        Phát triển Cơ sở dữ liệu: Các tổ chức nhân quyền tại ASEAN

•        Nguồn tài nguyên dựa trên Web: tổng hợp của các dữ liệu chuyên sâu, đề cương khóa học, sách đọc, tài liệu giảng dạy

•        Trao đổi giáo viên giảng dạy và sinh viên: chương trình trao đổi nghiên cứu, đào tạo giáo viên, chương tình cắm trại dành cho thanh thiếu niên về chủ đề nhân quyền.

AUN-HRE là một phần của mạng lưới chính thức của các trường đại học trong cơ cấu ASEAN được liệt kê trong Phụ lục I của Hiến chương ASEAN (tại khoản mục Văn hóa Xã hội ASEAN). Từ khi thành lập, các thành viên AUN- HRE đã có một vài lần gặp mặt thảo luận về chiến lược và kế hoạch làm việc để hợp tác. Các cuộc thảo luận đã đề cập tới sự không tồn tại của giáo dục quyền con người ở nhiều trường đại học thành viên, trong khi một số trường đại học đã tiến tới nâng cao cung cấp giáo dục quyền con người ở bậc sau đại học. AUN- HRE cũng đồng ý rằng các khóa học nhân quyền và hòa bình phải được giới thiệu trong tất cả các trường đại học, bắt đầu từ các trường thành viên của AUN- HRE. Các giáo trình của hai khóa học[21] đã được soạn thảo và đệ trình lên Hội nghị cấp cao ASEAN và Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Giáo dục. Các Hội nghị đã ủng hộ sáng kiến của AUN-HRE về việc thúc đẩy giáo dục quyền con người ở cấp độ đại học trong khu vực ASEAN. Thật không may, tiến trình vẫn còn giới hạn trong một vài trường đại học do thiếu chính sách rõ ràng của các cơ quan giáo dục, thiếu năng lực của giảng viên / giáo dục cũng như việc thiếu sách giáo khoa / tư liệu đúng đắn dành cho sinh viên.

Hoạt động học thuật thông qua các Nghiên cứu Nhấn quyền và Hòa bình: SEAHRN& SEACSN

Mạng lưới Nghiên cứu Nhân quyền Đông Nam Á (SEAHRN)

Trong năm 2009, Trung tâm Phát triển Nhân quyền và Xã hội (nay là Viện Nghiên cứu Nhân quyền và Hòa bình), Đại học Mahidol khởi xướng một liên minh độc lập của các tổ chức nhân quyền và hòa bình và trung tâm nghiên cứu tại Đông Nam Á, SEAHRN. Mạng được ra đời trong một giấc mơ chung của 14 thành viên sáng lập nhằm tăng cường và làm sâu sắc thêm những kiến thức và sự hiểu biết về nhân quyền của học sinh và các nhà giáo dục cũng như các cá nhân và các tổ chức đến từ khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu này sẽ đạt được bằng cách quản lý nghiên cứu hợp tác, cải tiến nội dung khóa học và chương trình đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất và tiến hành nâng cao năng lực đào tạo của các nhà giáo dục, nhân viên, sinh viên và các cá nhân và các tổ chức quan tâm khác. Hơn nữa, tìm thấy sự cần thiết hợp tác xã hội dân sự và khoa học trong khu vực để duy trì hiệu quả của việc bảo vệ nhân quyền trong khu vực. Các mạng lưới mong muốn mở cửa cho các tổ chức, cá nhân quan tâm những người muốn chia sẻ quan điểm của mình về nhân quyền trong khu vực Đông Nam Á.

Các tổ chức và cá nhân thành viên của SEAHRN đang cố gắng đạt được các mục tiêu sau đây:

•        Tăng cường giáo dục đại học góp phần nghiên cứu nhân quyền ở khu vực Đông Nam Á thông qua phát triển giảng viên và khóa học;

•        Phát triển sự hiểu biết sâu sắc hơn và nâng cao kiến thức nhân quyền thông qua nghiên cứu hợp tác;

•        Đạt được sự họp tác sâu sắc xã hội dân sự và khoa học trong khu vực trong việc thực hiện quyền con người ở Đông Nam Á; và

•        Tiến hành tuyên truyền vận động công chúng thông qua cam kết quan trọng với các nhà hoạt động xã hội dân sự, bao gồm cả các cơ quan liên chính phủ, trong khu vực Đông Nam Á

Theo đuổi các mục tiêu này, SEAHRN đã mở rộng thành viên của mình lên 18 tổ chức học thuật. Hơn nữa, SEAHRN đã tổ chức thành công hai hội nghị quốc tế về Nhân quyền và Hòa bình & Xung đột trong khu vực Đông Nam Á (tại Bangkok năm 2010 và Jakarta năm 2012). SEAHRN cũng đã thực hiện đào tạo các học giả dày dạn và mới vê nhân quyền trên cơ sở nghiên cứu và hướng dân; đã công bô một loạt các nghiên cứu học thuật cỏ liên quan tới một số vấn đê nhân quyên và hòa bình trong khu vực; và hiện đang phát triển một giáo trình về nhân quyền và hòa bình đặc trưng nhiều chủ đề khác nhau do các học giả và các nhà học thuật Đông Nam Á viết.

SEAHRN cũng đã xuất bản cuốn sách đầu tiên mang tên Nhân quyền tại khu vực Đông Nam Á Phần I: Phả vở sự ỉm lặng (tháng 10 năm 2011). Các thành viên hiện đang tham gia vào sản xuất cuốn sách giáo khoa trình bậc đại học đầu tiên về nhân quyền và hòa bình và xung đột trong khu vực Đông Nam Á và cuốn sách thứ hai và thứ ba trong loạt sách Nhân quyền ở Đông Nam Á.

Mạng lưới nghiên cứu xung đột Đông Nam Á

Gần một thập kỷ trước khi thành lập hai mạng lưới nhân quyền đã được đề cập phần trước, các tổ chức học thuật về hòa bình, xung đột và các bên liên quan khác đã sáp nhập trong nỗ lực thực hiện các giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trong khu vực Đông Nam Á. SEACSN đã được thành lặp vào năm 2001 do Viện nghiên cứu và Giáo dục Hòa bình thuộc Đại học Sains Malaya dưới sự lãnh đạo của Tiến sĩ Kamarulzaman Askandar. Nó phục vụ như nền tảng mạng lưới nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu, các học giả, các học viên, nhân viên NGO, sinh viên, và bất cứ ai quan tâm đến nghiên cứu hòa bình và xung đột, trong khu vực. Sự độc đáo của mạng lưới này nằm ở thực tế khơi nguồn ý tường mạng lưới trong khu vực và bao gồm những nhà hoạt động khu vực chính trong các chương trình và hoạt động của nó. Mạng lưới ỉuôn trung thành với những mục tiêu sau đây:

•        Thúc đẩy hợp tác giữa các nhà nghiên cứu hòa bình và xung đột trong khu vực Đông Nam Á;

•        Thúc đẩy nghiên cứu giải pháp hòa bình và xung đột trong khu vực phù hợp với chủ đề của SEACSN;

•        Chế tác nội dung chính của phân tích xung đột và giải quyết xung đột; và

Tiến hành một chương trình nghiên cứu khoanh vùng xung đột khu vực Đông Nam Á.

8.       Nội đia hóa giáo duc nhân quyền và hòa bình ở Đông Nam A: Mọt số khuyến nghị

Nhìn chung, có thể nói những cam kết về giáo dục nhân quyền và hòa bình không phải là không có trong Khu vực. Cam kết có thể thay đổi từ nước này sang nước khác và điều này phản ánh những cách thức mà việc giáo dục nhân quyền và hòa bình đã được đưa ra trong các cơ sở giáo dục đại học khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu cho thấy tình hình nội địa hóa việc giáo dục nhân quyền và hòa bình vẫn còn là mối e ngại chính ở một số nước. Hơn nữa, giáo dục nhân quyền và hòa bình & xung đột đã không được lồng ghép hoàn toàn trong phần lớn hệ thống giáo đục ở một số nước. Để các Nhà nước trong khu vực Đông Nam Á có thể nói nội địa hóa việc giáo dục nhân quyền con người và hòa bình ở cấp giáo dục đại học, các nhà nghiên cứu của nghiên cửu này đưa ra một số đề nghị như sau:

1.       Việc đưa giáo dục nhân quyền và hòa bình vào trường học đã không được ưu tiên và xã hội hóa bởi trong bất kỳ Bộ Giáo dục nào của bất kỳ quốc gia nào trong khu vực. Bởi vì, trong hầu hết nếu không phải tất cả các trường hợp thuộc hệ thống giáo dục Đông Nam Á, Bộ GD-ĐT là cơ quan cao nhất trong việc xây dựng chính sách cũng như trong nhiều trường hợp, việc phê duyệt chương trình và chương trình giảng dạy. Điều vô cùng quan trọng là, nếu giáo dục nhân quyền và hòa bình đang được đẩy mạnh và được chủ quan hóa, thì đối với các Bộ Giáo dục cần phải có một định hướng rõ ràng về chính sách, kế hoạch chiến lược và ngân sách cho giáo dục quyền con người và hòa bình tại chỗ. Việc đưa vào giáo dục nhân quyền và hòa bình sẽ làm cho các vân đê ít nhạy cảm và tạo động lực để các trường đại học có thể dành 1 phần chương trình giáo dục cho vấn đề này. Với sự cho phép của Bộ Giáo dục, nội dung giáo dục quyền con người và hòa bình có thể được lồng ghép trên toàn quốc trong tất cả các cấp học.

2.       Liên quan đến các đề xuất trước đó, điều quan trọng là phải làm nổi bật thực hiện giáo dục các quyền con người và hòa bình ở một số nước Đông Nam Á. ASEAN và các cơ quan có liên quan của nó có thể khởi động một loạt các cuộc đối thoại giữa Bộ Giáo dục để học hỏi từ những thách thức và cách thực hành tốt nhất trong việc thực hiện các nội dung, chương tình, các dự án nghiên cứu về quyền con người và hòa bình ở lần lượt các quốc gia.

3.       Nhân quyền và hòa bình được Liên Hợp Quốc công nhận có giá trị phổ quát. Tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á không chỉ gắn bó với cả hai giá trị mà còn cam kết thúc đẩy và bảo vệ các quyền của người dân trên đất nước họệ Như đã chỉ ra trước đó, ASEAN đã đặt giáo dục hòa bình như là một trong những hoạt động quy định trong Kế hoạch Blueprint. Nhân quyền cũng tìm thấy con đường tiến vào Hiến chương ASEAN, điều này có nghĩa là quyền con người là bây giờ vừa được hợp thức hóa và được pháp luật hóa, do đó, không còn bị coi là nhạy cảm nữa. Việc giảng dạy nhân quyền và hòa bình nên là một phần và một mảng trong chương trình học đại học. ASEAN đã được kêu gọi tối đa hóa nguồn lực, khả năng và kỉnh nghiệm sẵn có trong khu vực để phát triển một chính sách khu vực thực hiện giáo dục quyền con người và hòa bình ở tất cả các quốc gia thành viên.

4.       Nhóm nghiên cứu nhận ra rằng, mặc dù, mỗi nước có một mức độ thoải mái và sẵn sàng khác nhau để tổ chức giáo dục nhân quyền và hòa bình so với các nước còn lại của khu vực. Ở những nước mà các trường đại học không hoàn toàn thoải mái và cũng không sẵn sàng để thực hiện toàn diện chương trình nghiên cửu nhân quyền và hòa bình (ví dụ, có một chương trình /giáo trình riêng biệt về nhân quyền và hòa bình), một hoặc hai khóa học cụ thể có thể là một lựa chọn. Việc kết hợp các chủ đề nhân quyền hay hòa bình vào trong chương trình giảng dạy hiện nay có thể gặp khó khăn hơn khi nhu cầu về đội ngũ giảng viên có trình độ cao hơn so với các khoá học cụ thể.

5.       Nghiên cứu cho thấy việc thiếu nghiêm trọng các tài liệu đọc / tư liệu giảng dạy cho cả giáo viên và học sinh, đặc biệt là cung cấp bởi các học giả bản địa, trong việc hỗ trợ các nghiên cứu về môn học khác nhau về quyền con người và hòa bình là rất cần thiết trong khu vực. Việc sản xuất và phân phối của một cuốn sách giáo khoa về nhân quyền và hòa bình trong khu vực Đông Nam Á có thể hữu ích. Tương tự, việc dịch sang ngôn ngữ địa phương tư liệu này có thể cũng sẽ rất hữu ích.

6.       "Nếu các nghiên cứu quyền con người, hòa bình và xung đột đang được thực hiện ở Brunei, như là một cách hướng tới việc sẽ yêu cầu đào tạo số lượng ỉớn các nhân sự thành viên thuộc tể chức giảo dục đại học đê cỏ đủ khả năng tham dự một chương trình nhấn quyền toàn diện mà đưa ra cho các nước phương Tây cũng như các viễn cảnh các nước Hồi giảo. Một khóa học hoặc học phần sau đó cỏ thể được đưa ra như một chủ đề được sinh viên lựa chọn trước khi một chương trình có thể gắn trên một quy mô lởn hơn để hoàn tiện trình độ chuyên môn về nhân quyền. "Đề nghị này xuất hiện trong các báo cáo quốc gia về Brunei Darussalam nói cho tất cả các nước khác trong khu vực. Một trong những thách thức quan trọng nhất của việc thực hiện giáo dục nhân quyền và hòa bình ở Đông Nam Á là thiếu cán bộ có trình độ, điều này không đề cập đến, một khối lượng quan trọng những người có thể truyền đạt kiến thức và cũng như thúc đẩy, động viên sinh viên. Các khóa học trong khu vực và địa phương dành cho giáo viên hướng dẫn tiềm năng hiện có được khuyến khích mạnh mẽ. Các khóa đào tạo này có thể được thiết kế và thực hiện bởi các AICHR, AUN-HRE, SEAHRN, SEACSN, hoặc bất kỳ mang lưới và / hoặc tổ chức học thuật nào có đủ năng lực.

7.       Sự tương tác trực tiếp giữa các viện nghiên cửu, các học giả và việc nghiên cứu đang tồn tại và được quan tâm cao đã tạo điều kiện để hiểu biết tốt hơn vê cách nhân quyên và hòa bình đã được quy định rõ, khái niệm hóa và xây dựng tại địa phương. Nó là vậy, bắt buộc phải thường xuyên tiến hành các chương trình trao đổi để khai thác khía cạnh này. Nó cho phép các cuộc thao luận và chia sẻ tài liệu và kỹ thuật để tăng cường hơn nữa việc học tập và giới thiệu về nhân quyền và hòa bình.

8.       Mặc dù một số báo cáo đã đề nghị một chương trình giảng dạy tiêu chuẩn cho tất cả các trường đại học ở cả cấp quốc gia và khu vực, các nhóm nghiên cứu khu vực vẫn phát hiện ra rằng một số thành phần của cả hòa bình và nhân quyền phải được phối kết vào trong tất cả các chương trình dạy học. Tuy nhiên, người ta cũng đã khuyến cáo giáo trình và đề cương bài giảng sẽ được thực hiện lỉnh hoạt để tạo ra không gian sáng tạo khoa học và cập nhật những chương trình đào tạo và các khóa học để theo kịp với tình hình biến đồi về nhân quyền và hòa bình.

9.       Khái niệm về nhân quyền và hòa bình đã tiến bộ theo thời gian và không gian trong khu vực. Tại một số nơi, nó cũng có bối cảnh cụ thể. Kết hợp chéo và học hỏi lẫn nhau chắc chắn góp phần mở rộng và nâng cao quyền con người và nền văn hóa hòa bình qua biên giới. Hợp tác và khả năng trao đổi ở tất cả các cấp đều được khuyến khích.

10. Một trong những thách thức chính được các nhà nghiên cứu xác định là thiếu nguồn lực. Nếu giáo dục nhân quyền và hòa bình đang được duy trì, cần phải khuyến cáo rằng các chính sách cụ thể nên đi kèm với các nguồn tài trự và đầu tư ngày càng tăng để tăng cường nguồn lực, cả về nguồn nhân lực và tư liệu

11.     Để giáo dục quyền con người và hòa bình được phổ biến một cách chính xác, một không gian học thuật miễn phí và độc lập là vô cùng quan trọng. Các cuộc thảo luận mở , cốt yếu là cần thiết để giáo viên và học sinh thực hiện học bổng của họ. Tự do học thuật cần được tôn trọng và bảo vệ.

9.       Một vài suy nghĩ và kiến nghị cụ thể từng quốc gia Vương quốc Bru-nây

Không có lý do nào giải thích cho việc tại sao các nghiên cứu như vậy không được đưa ra tại Brunei Darussalam như các chương trình nằm trong các nguyên tắc Hồi giáo Al-SunnahWal-Jamaah và không hề mâu thuẫn với triết lý và giá trị quốc gia.

Nếu các nghiên cứu nhân quyền, hòa bình và xung đột đều được thực hiện ở Brunei sẽ đòi hỏi phải đào tạo cho các nhân viên thành viên của các tổ chức giáo dục đại học để thiết lập một chương trình nhân quyền toàn diện cung cấp cho các nước phương Tây cũng như viễn cảnh nước Hồi giáo. Một khóa học hoặc học phần sau đó có thể được đặt ra như là một môn học lựa chọn trước khi một chương trình có thể được gắn trên một phạm vi lớn hơn tạo ra sự hoàn thiện chuyên môn chất lượng về nhân quyền.

Campuchia

Hiện nay, nghiên cứu hòa bình và xung đột, cùng với các vân đê khác như nạn buôn bán người và các quyền con người không thể được thảo luận công khai trong các trường đại học. vẫn sẽ mất thời gian để những vân đê này phải được nghiên cứu một cách công khai so với các nước châu Á khác. Dự kiến rằng giáo dục quyền con người và hòa bình sẽ phải được làm rõ, cởi mở và "hoàn tất" hơn trong tương lai gần.

Indonesia

Để cải thiện thực tại giáo dục quyền con người trong hệ thống trường Indonesia, cần phải xác định chiến lược lồng ghép của Chính phủ trong vấn đề này. Chiến lược như vậy nên để chỉ định các thành phần cụ thể của giáo dục quyền con người trong các hệ thống trường học khác nhau.

Lào PDR

Trong hào quang cam kết của Lào nhằm thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người, thích hợp nhất là tập trung vào sự phát triển của các khóa học cụ thể về nhân quyền và hòa bình, chất lượng của chương trình đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên trong nghiên cứu và hướng dẫn. Bộ Giáo dục và Thể thao cũng nên mở rộng chính sách giáo dục quyền con người tới các trường đại học khác. Đồng thời mở rộng phạm vi bao phủ quyền con người vượt ra ngoài môn học pháp luật như Xã hội học, Kinh tế, Lịch sử và Khoa học Chính trị. Tư liệu và phương tiện cần phải được cải thiện và có thể để các nhân viên và học sinh truy cập được.

Malaysia

Một cuộc khảo sát được tiên hành bởi các nhà học thuật của Đại học Kebangsaan Malaysia đã nhấn mạnh một thách thức quan trọng đối với các trường đại học là "tìm ra phương pháp và các nội dung chương trình giảng dạy tốt nhất, phù hợp hơn với bối cảnh của đất nước nhằm mục đích cuối cùng giúp giữ gìn sự đoàn kết xã hội”. Báo cảo cho biết: "vấn đề cần được giải quyết là phương pháp nào hoặc cách tiếp cận nào tốt nhất giúp giảng dạy các môn học để phản ánh sự cấu thành đa dân tộc trên đất nước này".[22]

Như một kiến nghị, cuộc khảo sát như vậy nên được nhân rộng ra các khoa luật khác và một cuộc khảo sát tương tự cũng nên được thực hiện cho các nghiên cứu hòa bình và xung đột.[23] Kết quả của các nghiên cứu được ủy nhiệm Suhakam hiện nay do trường Đại học Kebangsaan Malaysia tiến hành để so sánh đề cương trong bảy khoa luật về quyền con người cũng sẽ làm sáng tỏ hơn về chủ đề này.[24]

Myanmar

Để phát triển giáo dục nhân quyền và hòa bình ở Myanmar, điều quan trọng là phát triển một chương trình giảng dạy quốc gia lồng ghép nhân quyền và hòa bình trong giáo dục đại học chính thống; cũng cần sự tham gia của học giả và các chuyên gia trong kế hoạch hành động chiến lược; đội ngũ giảng viên học thuật và các học giả mới nổi được khuyến khích đào tạo hoặc nghiên cứu sâu hơn về nhân quyền và hòa bình; sự có mặt của các tài liệu và các chuyên gia về nhân quyền và hòa binh trong nước có thể cung cấp một cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc phát triển hơn nữa và; bắt buộc đối với Myanmar phải quản lý các mạng lưới khoa học về nhân quyền và hòa bình như AUN-HRE, SEAHRN và SEACSN để xây dựng năng lực trong nghiên cứu, giảng dạy cũng như các tài liệu về nhân quyền và hòa bình.

Philippines

Nói chung, các vấn đề về quyền con người và hòa bình trực tiếp hoặc gián tiếp phát sinh từ điều kiện kinh tế-xã hội và chính trị-xã hội của một cộng đồng cụ thể hoặc khu vực hành chính. Những vấn đề này tương ứng với mức độ nhận thức về quyền con người của một cộng đồng cụ thể. Do đó, vấn đề nhân quyền có liên quan đến một khu vực cụ thể trong việc xác định các loại chủ đề nhân quyền có mặt trong học phần của khóa học. Tốt nhất nên địa phương hóa nhân quyền và hòa bình cho phép học sinh để biết, hiểu và tiếp thu và chủ quan hoa niềm tin của họ.

Singapore

Tri thức rộng lớn, và không khí lan tỏa khắp Singapore không phải hướng tới các quan niệm phổ quát rộng lớn về quyền con người: vẫn có một số phủ nhận tính phổ quát của các giá trị phương Tây và nhân quyền.[25] Thay vào đó, "giá trị châu Á” được ủng hộ như các mô hình thay thế. Mô hình này có tầm quan trọng cơ bản, vì nó làm nền cho sự biện minh của chính Nhà nước. Nhân quyền và hòa bình có thể được tái khớp nối trong khuôn khổ này. Mặc dù các nhà hoạch định chính sách và đưa ra quyết định phải được thường xuyên nhắc nhở để không ảnh hưởng đến giá trị cơ bản nhất đặt lên vấn đề nhân quyền và hòa bình. Điều này có thể nói lên rằng ngày càng từng bước thận trọng hơn trong việc giới thiệu các học phần bổ sung liên quan đến khái niệm nhân quyền và hòa bình để đánh giá tốt hơn những tác động của chúng đối với sinh viên. Bước tiến này là cách thức mới nhất cần thiết được đồng thuận ở cấp đơn vị tổ chức. Các giáo sư có quyền tự chủ giới thiệu học phần mới và chỉ cần nhận được sự chấp thuận của trưởng khoa. Một động thái như vậy cũng khả thi đối với các nghiên cứu hòa bình và xung đột làm xuất hiện các học viện mà đã thực hiện nghiên cứu trong khu vực như được thảo luận. Tuy nhiên các nghiên cứu quyền con người có thể bị tổn hại do thiếu các nghiên cứu so sánh.

Thái Lan

Người ta đã kiến nghị rằng trong tất cả các khoa đại học, một khóa học cốt lõi về các nghiên cứu nhân quyên và hòa bình phải được bổ sung theo chương trình giáo dục chung đề sinh viên của tất cả các ngành học có thể tự do nghiên cứu quyền con người. Điều này cần phải được đề nghị một cách mạnh mẽ nhằm bắt buộc thực thi. Và cũng có thể nhận thấy rằng, các nghiên cứu quyền con người và hòa bình phải được thực hiện một khóa học cốt lõi cần thiết cho tất cả sinh viên trong Khoa Luật, và trong chương trình nghiên cứu về hòa bình và mâu thuẫn. Và cuối cùng, giáo dục quyền con người và hòa bình phải được lồng ghép vào các môn học nhiều hơn từ các môn học năm đầu tiên. Khuyến nghị rằng nội dung của khóa học nên bao quát cả lý thuyết và thực hành. Phong cách và tài liệu giảng dạy: có tầm quan trọng ảnh hưởng tới kỹ năng thực hành và chủ động. Đề nghị thúc đẩy và phát triển các kỹ thuật giảng dạy và phát triển các hoạt động về nghiên cứu nhân quyền và hòa bình cho giáo viên hướng dẫn để sử dụng trong lớp học sẽ có ý nghĩa.

Hợp tác học tập, trao đổi giảng viên với các trường đại học khác để tạo điều kiện trao đổi ý tưởng và kinh nghiệm; khuyến khích chuyển giao các đơn vị môn học như một sự thay thế khả thi cho sinh viên và cuối cùng, nhưng rất quan trọng là việc tạo ra một sự hợp tác có hệ thống giữa các trường đại học và giữa các bên liên quan khác nhau.

Timor-Leste

Tại thời điểm này, Điều cốt lõi và khả thi nhất là tích hợp thêm các môn học nhân quyền con người và hòa bình vào các khóa học hiện tại. Các trường đại học cũng phải xem xét phát triển các khóa học và các chương trình cụ thể về nhân quyền. Các viện hiện đang hoạt động về vấn đề hòa bình, xung đột và quyền con người có thể tiếp cận với mạng lưới nghiên cứu xung đột Đông Nam Á (SEACSN) và Mạng lưới nghiên cứu nhân quyền Đông Nam Á (SEAHRN) giúp cho việc xây dựng năng lực học tập và nghiên cứu thông qua đào tạo và tham gia các hội nghị Chính phủ của Timor-Leste phải nỗ lực phát triển một kế hoạch chiến lược quốc gia về giáo dục nhân quyền và hòa bình với sự tham gia của các chuyên gia khu vực, các trường đại học địa phương và các tổ chức xã hội dân sự; phải phân bổ ngân sách thích đáng cho việc tăng cường cơ sở vật chất và trang bị tài liệu nghiên cứu và giảng dạy.

Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thiết phải đưa ra văn bản hướng dẫn để nhân quyền trở thành một môn học hoặc khóa học bắt buộc riêng biệt ở cấp giáo dục đại học; Nội dung của khóa học về quyền con người nên bao gồm cả lý thuyết và thực hành; Xây dựng các trường học để đáp ứng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế; Giảng viên cần phải trang bị các phương pháp khác nhau và tiến hành nghiên cứu trong các lĩnh vực mới. Quyền con người cần phải được phát triển trong cách tiếp cận liên ngành. Nhân quyền cần được lồng ghép trong chương trình giáo dục bắt buộc ở cấp cao hơn, trong các môn học bắt buộc như triết học, nghiên cứu chính trị và xã hội, các vấn đề xã hội hiện nay ở cả hai giai đoạn cơ bản và chuyên nghiệp của giáo dục đại học.

Nghiên cứu này kết thúc với những gì Paulo Freire đã viết trong cuốn sách của ông rằng 'không có giảng dạy mà không cần học tập. Phản ánh phê bình thực tế là một yêu cầu của mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành. Nếu không lý thuyết trở thành "blah, blah, blah, và thực hành chỉ là các hoạt động thuần túy. Để dạy không chỉ để chuyển giao kiến thức mà còn để tạo ra khả năng xây dựng kiến thức.[26]" Khái niệm này của giáo dục phải được hiểu đầy đủ và luôn luôn nhớ đến ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào của các bước phát triển và tăng cường giáo dục nhân quyền và hòa bình được hiện thực hóa trong khu vực Đông Nam Á.

Tài liệu tham khảo

1.       Booth, Anne, Phát triến kinh tế và giáo dục trong khu vực Đông Nam Á: huyền thoại và thực tế, Bản tin Kinh tế ASEAN, vol.16, số 3, 1999.

2.       Freire, Paulo, Khoa giáo dục Tự do: Đạo đức, Dân Chủ và Dân sự đảm bảo, Rowman & Littleĩield Publishers, Inc, 1998.

3.       Hurights Osaka, Raden Ạịeng Kartini: Nhà giáo dục bình quyền nam nữ của Indonesia, Trong tạp san FOCUS June 2009 Volume 56. http://www. hurights. or.jp/archives/focus/sectỉon2/2009/06/raden-ajeng-kartini- indonesỉas-femỉnỉst-educator.html. Truy cập ngày 25/5 2013.

4.       Mahbubani, Kishore, Nửa bán cầu Châu Ả Mới: Bước chuyển không thể cưỡng lại của Quyền lực toàn cầu đối với phương Đông.

5.       Riyadi, Eko, Peta Pendidikan Hak Azasi Manusia di Perguruan Tinggi fi Indonesia (Khoanh vừng giáo dục nhân quyền trong Giáo Dục Đại học ở Indonesia), Báo cáo nghiên cứu, Yogyakarta: Pusat Studi HAM UI, 2010.

6.       Savitri, Suwansathit, Thái Lan: Giáo dục nhân quyền, trong giáo dục nhân quyền ở các trường học châu Á, tập III. Truy cập http://www.hurights.or.jp/archives/human_rights_education_in_asian_schools/se ction2/2000/03/thailand-human-rights-education.html Accessed on 25 May 2013.

7.       Welch, Anthony, giáo dục đại học trong khu vực Đông Nam Á: xóa bỏ biên giới, thay đổi sự cân bằng, Routledge Nghiên cứu chính sách công cộng và xã hội ở châu Á, năm 2011.

8.       Yadava, Shalin, Những phản ánh về Triết học giáo dục của Paulo Freire và Jiddu Krishnamurti, Đại học GGSPI, New Delhi,         

 


[1] Viện Nghiên cứu Nhân quyền và Hòa bình, Đại học Mahidol, Thái Land

[2] Suwansathit, 1999;

http://www.hurights.or.jp/archives/human_rights_educationjn_asian_schools/section2/2000/03/thailand-human-rights-education.html, truy cập ngày 30/5/ 2013

[3] HURights OSAKA: http://www.hurights.or.jp/archivcs/forcus/scction2/20()9/06/radon-ạjcng-kartini-incloncsias-feminist- educator.html. truy cập ngày 30/52013.

[4] Nghiên cứu được thực hiện bởi UMK

[5] Để nhấn mạnh một trường hợp riêng biệt ở Campuchia, giáo dục nhân quyền trở thành một phần chính thức của chương trình tiểu học và trung học trong khoảng ba năm. Chính thức mà nói, dự án CIHR được mang tên " Phương pháp giảng dạy Nhân quyền". Các chương trình giảng dạy của các trường tiểu học và trung học cho mỗi khối lớp, đã cỏ một chương trình giàng dạy tích cực (nhân quyền như một môn học riêng biệt) và một chương trình giáng dạy lồng ghép, trong đó nhân quyền được chèn vào các môn học khác như môn đọc và văn học. Giáo dục đại học cho người trường thành có tỷ lệ tham gia rất thấp, chỉ có khoảng 3/1000 người tham gia giáo dục đại học tại Campuchia vào năm 2002, so với tỷ lệ gần 10/1000 người trên 1000 tại Việt Nam, khoảng 36/1000 người ở Thái Lan.

[6] Môn học Nhân quyền không được xem là một phần trong các khóa học căn bản theo đề cương chương trình của Tổ chức thẩm tra chất lượng Malaysia (MQA) đặt ra trong các tiêu chuẩn chương trình: Law and Syariah

[7] Hiến pháp và Luật Hành chính I, b) Hệ thống luật pháp Malaysia I, c) Luật hình sự I, d) Luật Gia Đình, e) Công Luật Quốc tế công 1 và 0 Công Luật Quốc tế công II, trong khi các khóa học về luật pháp quốc tế và người dân bản địa lại chỉ là một sự lựa chọn.

[8] Ví dụ, ở Thái Lan, có 25 khóa học về nghiên cứu nhân quyền và hòa bình được Khoa Luật đưa ra cho sinh viên Luật ở bậc đại học. Tuy nhiên, chỉ có 2 trường đại học cụ thể là Đại học Naresuan và Đại học Dhurakijpundit tổ chức hai khóa học bắt buộc tương úng đó là "quyền cơ bản" và "quyền cơ bản và tự do dân sự". Phần còn lại là môn tự chọn như "quyền cơ bản và quyền con người tại Đại học Krirk," quyền con người "trong 5 tổ chức. Luật Nhân quyền dược đưa ra trong 11 tổ chức.

[9] Đại học Mahasarakham xây dựng văn bằng kép chuyên ngành Cử nhân Luật và Cử nhân Nghệ thuật về Nghiên cứu Pháp luật và Nhân quyền vào năm 2006; được điều hành bời Đại học Chính trị và quàn trị. Khóa học kéo dài trong 5 năm. Trong 4 năm đầu tiên của môn học, sinh viên sẽ chủ yếu nghiên cứu pháp luật, và mỗi kì học, môn nhân quyền đều được nghiên cứu. Trong năm thứ 5, sinh viên sẽ học chỉ một chương trình, chương trình giảng dạy về nhân quyền.

[10] Ví dụ, Viện Nghiên cứu Nhân quyền và Hòa bình (Tiền thân là Trung tâm nghiên cứu Nhân quyền và phát triển xã hội), Đại học Mahidol, Thái Lan, hiện đang chạy 4 chương trình sau đại học cụ thể là 1) Thạc sỹ nhân quyền (quốc tế), 2) Thạc sỹ Nhân quyên và dân chủ hóa (quốc tế), 3) Thạc Nghiên cứu Nhân quyền và Hòa bình (Thái), và 4) Tiến sỹ Nghiên cứu Nhân quyền và Hòa bình (quốc tế). 7- 8 trường đại học khác ở Thái Lan đào tạo Thạc sỹ nghiên cửu hòa bình và xung đột giảng dạy chủ yếu bằng tiếng Thái trừ trong hai chương trình

[11] Tuy nhiên, đây không phải là một chương trình cấp bằng độc Tập là kể từ khi được đặt ra trong trường luật

[12] Ví dụ Thái Lan, Philippines and Indonesia.

[13] Trong trường hợp của Malaysia, trong năm 2002, REPUSM (Trường đại học Sains Malysia) đã tổ chức một hội thảo để xem xét tình trạng và tương lai của giáo dục hòa bình trong nước. Nhiều khuyến nghị đã được đưa ra cho cả các Bộ giáo dục và Giáo dục Đại học, kết quả của hội thảo này là giáo dục hòa bình được giảng dạy và nội dung của các chương trình này là như thế nào. Bộ giáo dục đã bước đầu quan tâm và đã triệu tập một cuộc họp ngay sau khi thảo luận về triển vọng giới thiệu giáo dục hòa bình ở cấp trường, nhưng mối quan tâm đã giảm dần sau khi các lãnh đạo hàng đầu của Bộ bày tỏ nghi ngờ, đưa ra tính chất nhạy cảm và phù hợp của nội dung và các khối lượng công việc đè nặng lên các sinh viên (Báo cáo từ Malaysia)

2. Có một cuộc khảo sát được thực hiện bởi các UK.M trong năm 2011 về việc giới thiệu các khóa học nhân quyền ở cấp đại học nhằm tìm ra phương pháp giảng dạy, tiếp cận và nhận thức của học sinh, kinh nghiệm của việc lạm dụng nhân sự, sự quan tâm của học sinh đối với môn học. Về phương pháp giảng dạy ưu tiên cho nhân quyền - "phương pháp ưa thích nhất trong giàng dạy nhân quyền thông qua giảng dạy dựa trên bài giảng. Phương pháp ưu đãi khác trong giảng dạy bao gồm tranh luận, hướng dẫn, PBL và bàn luận. Các phương pháp ít được ưa tích nhất là tư vấn khách hàng, nghiên cứu thực địa, e-learning, phim truyền hình và hỏi đáp "(4,5). Trong khi cuộc điều tra này chi được thực hiện tại khoa UKM của pháp luật, nó vẫn khắc lại trong chúng tôi một bức tranh thủ vị về những gì chúng tôi đang nỗ lực để đạt được mục tiêu, các sinh viên. Điều tra này nên được nhân rộng ra các khoa luật khác và một cuộc khảo sát tương tự cùng nên được tiến hành đối với nghiên cứu Hòa bình và Xung đột.

[14] Nền tảng của hai trượng đại học này, như các trường đại học trong khu vực xung đột, giúp chúng ta giải thích mối quan tâm của họ về nghiên cứu hòa bình và xung đột. Các trường đại học Mulawarman và Tadulako đặt tại đảo Bomeo và Sulawesi, nơi sở hữu một nguồn tài nguyên rừng giàu có nhưng cũng dễ bị xung đột và đất rừng

[15] Có thể tranh luận chính trị ràng nếu không tồn tại hoặc bị tước quyền tự do phát biểu và tự do học thuật

[16] Eko Riyadi, 2010, Peta Pendidikan Hak Azasi Manusia di Perguruan Tinggi fi Indonesia ( Khoanh vùng giáo dục nhân quyên bậc giáo đại học, Indonesia), Báo cáo nghiên cứu, Yogyakarta: Pusat Studi HAM UII.

[17] “SMU hủy bỏ mở cửa trung tâm nghiên cứu” Singapolitics, http://www.sinnapolitics.sg/news/simi-cancels- opening-research-centre (truy cập ngày 30/3/2012).

[18] Đã có các chương trình bị đóng cửa và các chương trình mà chi dựa vào sinh viên được Bộ Pháp Luật và Nhân quyền bổ nhiệm. Tại Malaysia, các khóa học và các chương trình được cung cấp tại UKM, tập trung phàn ánh nhiều phương pháp tiếp cận nghiên cứu chiến lược và an ninh hoặc các "hiện thực" trường phái tư tưởng trong khoa học chính trị. Nhiều học sinh của họ đến từ các ngành dịch vụ công và lực lượng an ninh dân sự trong nước. Họ cùng tham gia chương trình thạc sĩ liên kết với Đại học Quốc phòng Malaysia.

[19] Ngoại trừ trường hợp Báo cáo của Philippine.

[20] Arun, Kumar. Phỏng vấn bởi Norvin Chan. Personal. NUS Bukit Timah Campus at Summit. 10/4/ 2012

[21] Hai khóa học: 1. Giới thiệu Nhân quyền và 2. Giới thiệu các Quyền của trẻ em

[22] Đại học Kebangsaan Malaysia (UKM), giới thiệu các khóa học Nhân quyền ở cấp trường đại học, 2011, trang. 411.

[23] Trong khi cuộc điều tra này chi được thực hiện tại khoa UKM của pháp luật, nó vẫn đọng lại trong tâm trí chúng tôi một bức tranh thú vị về những gì mà chúng tôi cố gắng để nhắm tới mục tiêu, đó là những sinh viên.

[24] Trong khi cuộc điều tra này chi được thực hiện tại khoa UKM của pháp luật, nó vẫn đọng lại trong tâm trí chúng tôi một bức tranh thú vị về những gỉ mà chúng tôi cố gắng để nhắm tới mục tiêu, đó là những sinh viên. Các nhà nghiên cứu cũng muốn đề cập đến một nghiên cứu SUHAKAM - nhận nhiệm vụ để so sánh các đề cương môn trong bày khoa luật đối với nội dung nhân quyền hiện đang được thực hiện bởi trường. Đại học Kebanggsaan Malaysia. Các kết quả của nghiên cứu mà chắc chắn sẽ làm sáng tỏ hơn về vẩn đề chủ đề này.

[25] Mahbuhbani. Kishore, Bán cầu Châu Á mới: Bước chuyển dịch không thể ngừng của Quyền lực toàn cầu đối với Phương Đông (trang. 115).

[26] Freire. Paulo, Khoa giáo dục Tự do: Đạo đức, Dân Chủ và Dân sự đảm bảo. Rowman & Littlefield Publishers. Inc, 1998, trang 30-31

 

 

Các tham luận khác