Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Thiết chế quốc gia về quyền con người theo mô hình kiểm toán nhà nước

PGS. TS. Phạm Hữu Nghị

05/11/2016

Hà Nội, ngày 14-15/6/2016

THIẾT CHẾ QUỐC GIA VỀ QUYỀN CON NGƯỜI THEO MÔ HÌNH KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

PGS. TS. Phạm Hữu Nghị

Viện Nhà nước và Pháp luật

1.    Khái quát về các mô hình thiết chế quốc gia về quyền con người

1.1. Mô hình thanh tra Quốc hội (Parlỉamentary Ombudsman)

Đây là mô hình phổ biến ở các nước Bắc Âu, khởi nguồn từ Thụy Điển.

Thanh tra Quốc hội do Quốc hội thành lập. Khi hoạt động nó độc lập với các cơ quan nhà nước, chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Chức năng của Thanh tra Quốc hội là giám các cơ quan hành chính và tư pháp trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm cho quyền con người, quyền công dân. Thanh tra Quốc hội có quyền giám sát các bộ trưởng, các công chức nhà nước và các nhân viên làm việc trong bộ máy máy hành chính, người có trách nhiệm thực thi công vụ trong các cơ quan của chính quyền địa phương. Do tòa án có thẩm quyền xét xử độc lập nên Thanh tra Quốc hội không thể can thiệp vào hoạt động xét xử của tòa án. Tuy nhiên, Thanh tra Quốc hội có quyền giám sát việc chấp hành pháp luật và thực hiện trách nhiệm công vụ của các thẩm phán và nhân viên tòa án.

Bên cạnh chức năng giám sát, Thanh tra Quốc hội còn thực hiện chức năng giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, tiến hành các hoạt động thanh tra đối với trại giam, bệnh viện và một số cơ sở của Nhà nước - nơi có công dân bị tước quyền tự do hoặc có nguy cơ đe dọa tước quyền tự do. Khi xét thấy cần thiết, Thanh tra Quốc hội tiến hành điều tra xem xét làm rõ vụ việc theo đơn tố giác của công dân, tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội. Khi phát hiên có dấu hiệu phạm tội, Thanh tra viên Quốc hội có quyền tiến hành điều tra sơ bộ, tự mình khởi tố vụ án hình sự và đề nghị cơ quan công tố truy tố trước pháp luật.

Thanh tra Quốc hội do Quốc hội thành lập nhưng chính Quốc hội cũng không được can thiệp vào hoạt động của nó. Ở góc độ này, Thanh tra Quốc hội có tính chất của cơ quan tư pháp - hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, không bị tác động, chi phối của bất kỳ cơ quan, tổ chức, quan chức nhà nước nào.

1.2. Mô hình ủy ban nhân quyền quốc gia (National Commission on Human rights)

Đây là mô hình ủy ban nhân quyền quốc gia do Quốc hội thành lập trên cơ sở của một đạo luật hoặc trên cơ sở quy định của Hiến pháp. Hiện nay ở một số nước như: Úc, Ấn Độ, Indonesia, Nepal, Philippine, Sri Lan Ka, Fiji, Mông Cổ, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, New Zealand theo mô hình này.

Chức năng và nhiệm vụ của ủy ban nhân quyền ở mỗi nước có những điểm khác nhau. Song nhìn chung, ủy ban này có những chức năng, nhiệm vụ thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về các chuẩn mực quốc tế, khu vực và quốc gia về quyền con người; đưa ra khuyến nghị với các cơ quan nhà nước về chính sách và pháp luật liên quan đến quyền con người, các vấn đề ảnh hưởng đến quyền con người; khuyến nghị Chính phủ tham gia phê chuẩn các điều ước quốc tế về quyền con người; hợp tác với các tổ chức nhân quyền quốc té, khu vực và tổ chức nhân quyền của các quốc gia khác; tiến hành các chương trĩnh nghiên cứu, khảo sát về tĩnh hình thực hiện quyền con người; theo dõi, giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người; tham gia điều tra các vi phạm nhân quyền; nhận, xem xét và giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo của cá nhân về các vụ việc vi phạm nhân quyền; giám sát hoạt động giam giữ ở trại giam.

Để thực hiên được các chức năng, nhiệm vụ nói trên ủy ban nhân quyền thường có các bộ phân đặc trách một vấn đề nào đó Thí dụ, trong ủy ban nhân quyền Indonesia có Tiểu ban Giáo dục và Nhận thức công chúng về nhân quyền;

Tiểu ban Giám sát công ước quốc tế về nhân quyền Tiểu ban Giám sát thực hiện nhân quyền. Tùy từng bối cảnh cụ thể mà ủy ban nhân quyền của một số quốc gia có thể có bộ phận chuyên trách về dân tộc thiểu số, về phụ nữ, trẻ em, người bản xứ, người nhập cư...

Cơ sở pháp lý của ủy ban này là hiến pháp và luật. Để bảo đảm sự độc lập với cơ quan của Chính phủ và Tòa án, Chủ tịch ủy ban nhân quyền và các thành viên ủy ban chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội.

1.3.  Mô hình Trung tâm nhân quyền (Centre for Human Rights) hay Viện Nhân quyền (Institute For Human Rights)

Hiện có Trung tâm Nhân quyền Đan Mạch được thành lập trên cơ sở một đạo luật do Quốc hội Đan Mạch ban hành với nhiệm vụ nghiên cứu, khảo sát, giáo dục và thông tin, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về quyền con người mà không có chức năng thanh tra, giám sát các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền con người. Nó không có chức năng nhận, xem xét và giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo của cá nhân về các vi phạm nhân quyền vì các thẩm quyền này thuộc Thanh tra Quốc hội.

Ở một số nước, trong đó có nước Bắc Âu có thành lập Trung tâm Nhân quyền như Trung tâm nhân quyền Na Uy thuộc Đại học Tổng hợp Oslo, Viện Raoul Wallenberg về Nhân quyền và Luật Nhân đạo thuộc Đại học Lind, Thụy Điển với nhiệm vụ nghiên cứu, giáo dục, thông tin về quyền con người trong nước cũng như quốc tế.

1.4.  Các cơ quan chuyên trách về nhân quyền

Các cơ quan chuyên trách về nhân quyền thường có nhiệm vụ bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đó là những người thường bị phân biệt đối xử dựa trên sự khác biệt về giới tính, tộc người, ngôn ngữ, tôn giáo, quốc tịch... Từ đó, có thể có các cơ quan bảo vệ quyền con người của người thiểu số, của phụ nữ, người nhập cư...

Như vậy, các cơ quan chuyên môn về nhân quyền dạng này được thành lập để thúc đẩy chính sách của Chính phủ có liên quan đến lợi ích của nhóm xã hội cụ thể. Ở những nước có loại cơ quan chuyên trách này thì chúng hoạt động với chức năng tương tự như ủy ban nhân quyền nhưng ở phạm vi hẹp hơn, chỉ về những vấn đề liên quan đến nhóm người dễ bị tổn thương. Cơ quan này có thể được giao thẩm quyền điều tra các vụ vi phạm nhân quyền liên quan đến nhóm người dễ bị tổn thương.

1.5. Một số nhận xét

Các cơ quan nhân quyền được thành lập ở các nước nhàm thúc đẩy, bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Càng ngày các quốc gia càng quan tâm thiết lập các cơ quan chuyên trách về nhân quyền. Các cơ quan nhân quyền nằm trong cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người của các quốc gia. Vì vậy, việc thành lập cơ quan nhân quyền không thay thế vai trò của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án cũng như vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Cơ quan nhân quyền có vai trò giúp cho các cơ quan nhà nước hoàn thiện minh, hoàn thiện hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người bằng cơ chế giám sát, từ đó các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước có trách nhiệm cao hơn trong hoạt động công vụ, giảm thiểu nguy cơ xâm hại quyền con người từ phía cơ quan công quyền.

Phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, văn hóa chính trị, mô hình cơ quan nhân quyền ở các nước trên thế giới là không giống nhau. Muốn cho cơ quan nhân quyền hoạt động có hiệu quả, tránh tính hình thức thì cơ quan nhân quyền phải do Quốc hội thành lập trên cơ sở Hiến pháp và Luật, bảo đảm sự độc lập trong hoạt động với cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, có chức năng giám sát các cơ quan nhà nước trong việc thực thi chính sách, pháp luật về quyền con người.

2.   Thực trạng các thiết chế về nhân quyền ở Việt Nam và sự cần thiết xây dựng thiết chế quốc gia về nhân quyền

2.1. Thực trạng các thiết chế về nhân quyền ở Việt Nam

Ở Việt Nam, với những mức độ khác nhau, các quan nhà nước, các tổ chức xã hội đã tham gia ngày càng tích cực vào thúc đẩy, bảo đảm và bảo vệ quyền con người.

Quốc hội với tính cách là cơ quan đại diện nhân dân, cơ quan dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam: thứ nhất, Quốc hội thông qua hoạt động lập hiến, lập pháp công nhận và bảo đảm, bảo vệ quyền con người theo các chuẩn mực quốc tế; thứ hai, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó có các hoạt động liên quan đến quyền con người.

Quyền con người - giá trị chung của nhân loại, thành quả của cuộc đấu tranh gian khổ, bền bỉ của nhân loại cần được bảo đảm, bảo vệ thông qua việc ban hành một hệ thống pháp luật, hệ thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia. Với việc thông qua Hiến pháp năm 2013, quyền con người càng được đề cao, tôn trọng và bảo vệ. Sau Hiến pháp, các luật trong từng lĩnh vực cần thể hiện rõ yêu cầu bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở Việt Nam các đạo luật liên quan đến các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đã được ban hành khá nhiều. Đó là Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Xuất bản, Luật Báo chí, Luật Công nghệ thông tin, Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Doanh nghiệp, Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Bộ luật Tố tụng Hĩnh sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Pháp lệnh về thực hành dân chủ ở cấp xã, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Đặc xá, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, Luật Phòng chống HIV/AIDS, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình, Luật Người khuyết tật, Luật Tương trợ Tư pháp,...

Có một thực tiễn là: Nhà nước giao nhiệm vụ bảo đảm, bảo vệ quyền con người cho các cơ quan cơ quan nhà nước hiện hành. Chẳng hạn, cơ quan quản lý trong lĩnh vực công thương có nhiệm vụ tổ chức việc bảo đảm, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; cơ quan quản lý các nguồn tài nguyên cần bảo đảm quyền tiếp cận công bằng của các cá nhân, tổ chức đối với các nguồn tài nguyên; các cơ quan nhà nước đều phải chú trọng đến việc bảo đảm quyền bình đẳng giới, quyền của người khuyết tật, quyền của trẻ em... trong tổ chức và hoạt động của mình.

Hiện nay ở Việt Nam đã có một số cơ quan nhà nước chăm lo đến việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người, ủy ban Dân tộc là cơ quan có trách nhiệm chăm lo đến người các dân tộc thiểu số, bảo đảm sự phát triển của các cộng đồng dân tộc thiểu số về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo; đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa của các cộng đồng này.

Ban Tôn giáo thuộc Bộ Nội vụ có nhiệm vụ bảo đảm quyền tự do tín ngường, tôn giáo, quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáo của con người; bảo đảm sự hoạt động theo phương châm tốt đời, đẹp đạo của các tôn giáo.

Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em thuộc Bộ Lao động- Thương binh- Xã hội có nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho trẻ em.

Như vậy, ở nước ta đã có một số cơ quan nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm, bảo vệ quyền của một số nhóm người trong xã hội: nhóm người thuộc các dân tộc thiểu số, nhóm các trẻ em...

Thiết chế tư pháp là yếu tố không thể thiếu trong cơ chế bảo vệ quyền con người. Một khi quyền con người, quyền công dân bị vi phạm thì chủ thể bị vi phạm cần được tiếp cận các thiết chế tư pháp một cách thuận lợi, nhanh chóng. Tòa án ở Việt Nam cần có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người. Trong nhiều trường hợp quyền con người bị xâm hại bởi hành vi của các nhà chức trách, các công chức trong bộ máy nhà nước, bởi vậy để tòa án phán xử một cách công bằng thì yêu cầu đặt ra là tòa án, thẩm phán phải được độc lập.

Các tổ chức xã hội thể hiện vai trò bảo đảm, bảo vệ quyền con người thông qua:

Thứ nhất, tổ chức xã hội phản ánh ý nguyện của các tầng lớp nhân dân về bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Thứ hai, tổ chức xã hội có vai trò giám sát việc thực hiện quyền con người của các cơ quan nhà nước.

Thứ ba, tổ chức xã hội góp phần nâng cao nhận thức của con người về quyền con người, ý thức tự bảo vệ quyền của mọi người dân.

Thứ tư, tổ chức xã hội tạo ra sức ép, tạo ra dư luận xã hội buộc Nhà nước phải quan tâm đến vấn đề quyền con người, buộc phải thay đổi các chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm, bảo vệ tốt hơn các quyền con người.

Các tổ chức xã hội thông qua nhiều hĩnh thức khác nhau để tham gia vào hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người như: tập hợp ý kiến, tổ chức hội thảo, trao đổi, tọa đàm về quyền con người, tổ chức đối thoại về quyền con người, đại diện và bảo vệ quyền lợi cho các hội viên khi quyền lợi bị xâm phạm...

Ở Việt Nam các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Hội chữ thập đỏ Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, Hội bảo trợ tư pháp cho người nghèo Việt Nam, Hội Cứu trợ Trẻ em tàn tật Việt Nam, Hội người mù, Hội nạn nhân chất độc Da cam/Dioxin Việt Nam, Ban Điều phối Hỗ trợ hoạt động của người tàn tật, Hiệp hội sàn xuất kinh doanh của người tàn tật,... đã thể hiện được vai trò của mình trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Ngoài hoạt động tham gia xây dựng các văn bản pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về quyền con người... các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội đã tạo ra dư luận xã hội, buộc các cơ quan nhà nước, yêu cầu các cơ quan nhà nước phải vào cuộc trong các vụ việc xâm hại bà mẹ, trẻ em; trong trường họp quyền của người tiêu dùng bị xâm phạm…

2.2.  Sự cần thiết xây dưng thiết chế quốc gia về nhân quyềnViệt Nam

Như đã trình bày trên đây, Việt Nam có cả thiết chế nhà nước và thiết chế xã hội (thiết chế ngoài nhà nước) về nhân quyền. Nhờ có các thiết chế này mà Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực nhân quyền.

Tuy nhiên, như Báo cáo kiểm định định kỳ về thực hiện quyền con người ở Việt Nam chu kỳ 1 (năm 2009) và chu kỳ 2 (năm 2014) có đánh giá: Hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung, trong lĩnh vực quyền con người nói riêng, còn chưa đồng bộ, có chỗ còn chồng chéo, mâu thuẫn dẫn tới khó khăn, thậm chí hiểu sai, trong quá trình vận dụng và thực thi pháp luật ở cơ sở. Đây chính là vật cản lớn đối với sự phát triển của xã hội cũng như trong việc thực thi các quyền con người.

Trĩnh độ và nhận thức của một bộ phận cán bộ nhà nước, kể cả ở trung ương và địa phương về quyền con người còn nhiều hạn chế: không chỉ không nắm được các quy định của luật pháp quốc tế, nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, mà đôi khi còn nắm không chắc các quy định của luật pháp và chủ trương chính sách của Nhà nước, do vậy, có nơi có lúc còn để xảy ra các vụ việc vi phạm, làm hạn chế và ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của người dân.

Trong bối cảnh hiện nay, việc tiến tới xây dựng cơ quan quốc gia về nhân quyền là rất cần thiết bới các lẽ sau đây:

Thứ nhất, xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia để đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức và mọi tầng lớp nhân dân về thừa nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam.

Thứ hai, xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia để thực hiện đường lối và chính sách nhân quyền đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là đường lối, chính sách nhân quyền được khẳng định ừong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2020, Báo cáo chính trị đã được thông qua tại Đại hội XI, XII của Đảng.

Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương: Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết.

Thứ ba, xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia để thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Thứ tư, xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia để thực hiện tốt hơn nữa các cam kết quốc tế về quyền con người; phát huy những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua và khắc phục những thiếu sót ữong thực hiện quyền con người, vi phạm quyền con người bàng một thiết chế thúc đẩy, bảo đảm, bảo vệ quyền con người có hiệu lực cao hon.

2.3.   Tính chất, chức năng, nhiệm vụ của thiết chế quốc gia về quyền con người theo mô hình kiểm toán nhà nước

2.3.1.  Tính chất của thiết chế quốc gia về quyền con người theo mô hình kiểm toán nhà nước

Để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của cơ quan quốc gia về nhân quyền cần xây dựng cơ quan này theo mô hình kiểm toán nhà nước, với tên gọi là ủy ban nhân quyền quốc gia có vị thế pháp lý là cơ quan do Quốc hội thành lập trên cơ sở Luật.

Ủy ban nhân quyền quốc gia hoạt động theo nguyên tắc: 1. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; 2. Trung thực, khách quan, công khai, minh bạch.

2.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của thiết chế quốc gia về quyền con người theo mô hình kiểm toán nhà nước

Cơ quan nhân quyền quốc gia theo mô hình kiểm toán nhà nước, với tên gọi ủy ban nhân quyền quốc gia có chức năng, nhiệm vụ sau:

-         Xây dựng các chương trình, kế hoạch về thực hiện quyền con người ở Việt Nam, trong đó có chương trình giáo dục về quyền con người, chương trình thông tin về quyền con người.

-         Soạn thảo các báo cáo liên quan đến quyền con người ở Việt Nam để trình các quan nhà nước có thẩm quyền.

-         Làm đầu mối trong quan hệ về các vấn đề nhân quyền với các tổ chức quốc tế, khu vực và tổ chức của các quốc gia về nhân quyền.

-         Đề xuất việc phê chuẩn, gia nhập các điều ước quốc tế về quyền con người.

-         Thúc đẩy, nâng cao nhận thức về quyền con người cho cán bộ, công chức nhà nước và nhân dân thông qua các hoạt động thông tin, truyền thông và đào tạo.

-         Tổ chức khảo sát, điều tra, giám sát tình hình thực hiện quyền con người ở trong nước; nghiên cứu khảo sát tình hình thực hiện quyền con người ở các nước trên thế giới trên thế giới.

-         Xem xét đơn khiếu nại, tố cáo về nhân quyền và hướng dẫn cho cá nhân đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý, giải quyết.

-         Đề xuất, kiến nghị sửa đổi chính sách, pháp luật về quyền con người, liên quan đến quyền con người.

-         Đề xuất giải pháp, biện pháp chấn chỉnh các hoạt động của các cơ quan

nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có hành vi vi phạm quyền con

người.

2.3.  Cơ cấu của cơ quan nhân quyền quốc gia theo mô hình kiểm toán nhà nước

Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình, ủy ban nhân quyền quốc gia theo mô hình kiểm toán nhà nước cần được thiết kế theo cơ cấu như sau;

-      Chủ tịch ủy ban nhân quyền quốc gia là người đứng đầu ủy ban nhân quyền quốc gia, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân quyền quốc gia.

Chủ tịch ủy ban nhân quyền quốc gia do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch ủy ban nhân quyền quốc gia là 05 năm theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Chủ tịch ủy ban nhân quyền quốc gia có thể được bầu lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ liên tục.

-   Ủy ban nhân quyền quốc gia có không quá 03 Phó chủ tịch là người giúp việc cho Chủ tịch và phụ trách những mảnh công việc nhất định.

-     Ủy ban nhân quyền quốc gia có:

+ Ban chính sách, chương trình, kế hoạch về quyền con người, thực hiện quyền con người.

+ Ban theo dõi, kiểm ừa, điều tra tình hình thực hiện quyền con người.

+ Ban xem xét khiếu nại, tố cáo về quyền con người.

+ Ban giáo dục về quyền con người; thông tin, tuyên truyền về quyền con người.

+ Ban hợp tác quốc tế về nhân quyền.

Lãnh đạo các ban là Trưởng ban do Chủ tịch ủy ban nhân quyền quốc gia bổ nhiệm. Giúp việc cho Trưởng ban là các phó trưởng ban.

+ Văn phòng ủy ban nhân quyền quốc gia

3.   Lộ trình xây dựng thiết chế quốc gia về nhân quyền theo mô hình kiểm toán ở Viêt Nam

Việc xây dựng thiết chế nhân quyền quốc gia là công việc hệ trọng cần có kế hoạch và lộ trình chu đáo, hợp lý.

Qua nghiên cứu, tôi xin nêu ra các bước, các công việc cần phải tiến hành trong quá trình xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam theo mô hình kiểm toán như sau:

-         Tổ chức nghiên cứu cơ chế Liên họp quốc, cơ chế khu vực và cơ chế quốc gia về bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

-         Tổ chức nghiên cứu Các nguyên tắc Pari (đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết 48/134 năm 1993) liên quan đến quy chế và chức năng của cơ quan quốc gia về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền.

-    Tổ chức nghiên cứu mô hình cơ quan, tổ chức nhân quyền của các nước trên thế giới và nêu gợi mờ cho Việt Nam.

-   Tổ chức khảo sát, nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam; đánh giá các thiết chế về quyền con người và liên quan đến quyền con người ở nước ta Nghiên cứu nhu cầu xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia.

-    Tổ chức các hội thảo, tọa đàm với nhiều thành phần tham gia, lấy ý kiến bằng những hình thức thích hợp của các tầng lớp nhân dân, trong đó có những người thuộc các nhóm người dễ bị tổn thương, nhóm yếu thế trong xã hội hoặc trong khu vực phi chính thức về cơ quan nhân quyền quốc gia.

-    Thành lập Ban soạn thảo Đề án xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam theo mô hình kiểm toán nhà nước.

-    Tổ chức thảo luận, lấy ý kiến về Đề án xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam theo mô hình kiểm toán nhà nước.

Soạn thảo, trình Quốc hội thông qua Luật về cơ quan nhân quyền quốc gia theo mô hình kiểm toán nhà nước.

-    Tổ chức triển khai Luật về cơ quan nhân quyền quốc gia theo mô hình kiểm toán nhà nước là lựa chọn những người xứng đáng tham gia cơ quan nhân quyền quốc gia.

-    Quốc hội thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia theo mô hình kiểm toán nhà nước.

-    Cơ quan nhân quyền quốc gia đi vào hoạt động.

Theo tôi, quá trình xây dựng cơ quan quốc gia về nhân quyền ở Việt Nam theo mô hình kiểm toán nhà nước ít nhất cần thực hiện 11 loại công việc nêu trên. Trong quá trình này, việc tham vấn các nhà khoa học, các tổ chức nhân quyền quốc tế và các nước thông qua hội thảo, tọa đàm khoa học, trao đổi... là cần thiết.