Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Định hướng thành lập thiết chế quốc gia bảo vệ quyền con người ở Việt Nam theo các mô hình ủy ban nhân quyền quốc gia

PGS. TS. Hoàng Văn Nghĩa

05/11/2016

Hà Nội, ngày 14-15/6/2016

ĐỊNH HƯỚNG THÀNH LẬP THIẾT CHẾ QUỐC GIA BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM THEO CÁC MÔ HÌNH ỦY BAN NHÂN QUYỀN QUỐC GIA

PGS. TS. Hoàng Văn Nghĩa[1]

I. Tính cấp thiết

Trên thế giới hiện nay có hơn 70 quốc gia đã có các cơ quan nhân quyền quốc gia, đồng thời cũng khoảng ngần ấy các quốc gia có mô hình Thanh tra Quốc hội (Ombudsman) về nhân quyền.

Việc thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc Paris do Liên họp quốc thông vào năm 1993 tại Paris là một yêu cầu bức thiết trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng vào các thể chế quốc tế và khu vực.

Bình luận và khuyến nghị của các ủy ban các Công ước quốc tế về quyền con người cũng như của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đều đề nghị các quốc gia thành viên nên xem xét thành lập một cơ quan quốc gia hoạt động theo nguyên tắc Paris để tăng cường thúc đẩy và bảo đảm quyền con người.

Việt Nam đã và đang là thành viên tích cực trong các thể chế khu vực và ữên thế giới, đặc biệt là Liên hợp quốc và ASEAN. Việt Nam là thành viên của ASEAN và thành viên của ủy ban Liên chính phủ ASEAN về quyền con người, ủy ban Liên chính phủ về thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và quyền trẻ em, ủy ban ASEAN về bảo vệ quyền của người di trú,...Tại hai chu kỳ rà soát Đinh kỳ toàn cầu (ƯPR) của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) về việc thực hiện quyền con người mà tất cả các quốc gia thành viên LHQ đều có nghĩa vụ báo cáo, Việt Nam đều nhận được khuyến nghị về việc thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia.

Quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, luôn đặt ra những yêu cầu cấp bách về hoàn thiện thể chế, cơ chế bảo đảm hiệu quả quyền con người. Đổi mới và hội nhập quốc tế, cùng quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, đưa đến những cơ hội to lớn nhưng cũng đặt ra những thách thức ghê gớm cho việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người.

Vì vậy, yêu cầu về việc xây dựng một cơ quan nhân quyền quốc gia có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong bối cảnh thi hành Hiến pháp 2013 với trọng tâm là hiện thực hóa tinh thần cốt lõi của Hiến pháp tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, cũng như trong quá trinh đẩy mạnh hội nhập quốc tế và phát triển của Việt Nam. Yêu cầu về xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đề xuất phương án khả thi và thiết thực nhất đối với thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia dựa trên những điều kiện đặc thù về hệ thống chính trị, văn hóa và lịch sử đóng vai trò tiên quyết.

II. Về cơ quan nhân quyền quốc gia dựa trên Nguyên tắc Paris

Tháng 12/1993, Đại hội đồng Liên hiệp đã thông qua Nghị quyết 48/134 quy định các nguyên tắc về quy chế của các cơ quan quốc gia trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người (QCN), được gọi là Ngựyên tắc Paris. Nguyên tắc Paris bao gồm những nội dung cơ bản sau đây: 1) Cơ quan này phải có chức năng thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; 2) Được ra đời bằng một đạo luật hay luật mang tính hiến định hoặc luật định, quy định chi tiết về thành phần, cơ cấu và phạm vi, thẩm quyền; 3. Thực thi các nghĩa vụ sau: (a) Đệ trình lên Chính phủ, Nghị viện và các cơ quan thẩm quyền có liên quan trên cơ sở tham vấn hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền liên quan hoặc thông qua việc thực hiện thẩm quyền của mình nhằm đánh giá về một vấn đề nhân quyền; (b) Thúc đẩy và đảm bảo sự hài hòa giữa pháp luật, quy định và thực tiễn quốc gia với các văn kiện nhân quyền quốc tế mà quốc gia ấy là thành viên, cũng như việc thực thi hiệu quả; (c) Khuyến khích việc phê chuẩn các văn kiện nhân quyền hay gia nhập các văn kiện này, đồng thời nhằm đảm bảo việc thực hiện chúng; (d) Đóng góp vào các báo cáo mà các quốc gia thành viên được yêu cầu phải đệ trình lên các cơ quan và ủy ban của LHQ, và lên các cơ quan khu vực, theo nghĩa vụ của mình; đồng thời, khi cần thiết, bày tỏ quan điểm về vấn đề này trên cơ sở tôn trọng tính độc lập của họ; (e) Hợp tác với LHQ và cơ quan khác trong hệ thống LHQ, các thể chế khu vực và cơ quan quốc gia của các quốc gia khác phù hợp với các lĩnh vực tôn trọng và thúc đẩy nhân quyền; (f) Hỗ trợ vào việc thành lập các chương trình giảng dạy, nghiên cứu trên lĩnh vực nhân quyền tại các trường đại học, cơ sở đào tạo chuyên môn và nghiệp vụ; (g) Công khai hóa các quyền con người và những nỗ lực nhằm đấu tranh chống lại tất cả các hình thức phân biệt đối xử, đặc biệt là phân biệt chủng tộc, thông qua việc tăng cường nhận thức công chúng, đặc biệt thông qua giáo dục và thông tin, truyền thông và sử dụng các cơ quan báo chí.

Nguyên tắc Paris cũng quy định về thành phần, cơ cấu phải bảo đảm nguyên tắc độc lập và tính đại diện rộng rãi như sau: 1) Thứ nhất, tính đại diện rộng rãi bao gồm: các thành phần, tổ chức, cơ quan và cá nhân khác nhau trong xã hội); 2) Thứ hai, được cung cấp ngân sách và độc lập về tài chính; 3) Thứ ba, độc lập về nhân sự (quy trình lựa chọn, bổ nhiệm độc lập, được trao thẩm quyền độc lập nhất định,...).

2.1.  Những đặc trưng cơ bản về tổ chức của một cơ quan nhân quyền quốc gia nói chung và ủy ban Nhân quyền quốc gia (UBNQQG) nói riêng

Những đặc trưng cơ bản của một cơ quan nhân quyền quốc gia nói chung và ủy ban Nhân quyền quốc gia nói riêng, như được xác lập trong nguyên tắc Paris, đó là: 1) Thứ nhất, là một cơ quan độc lập được thành lập theo đạo luật của Quốc hội/Nghị viện (độc lập khỏi bất cứ nhánh quyền lực nào của nhà nước); 2) Thứ hai, về tổ chức và cơ cấu thành phần phải mang tính đại diện rộng rãi mọi tầng lớp xã hội; 3) Thứ ba, độc lập về tài chính (tài chính được phân bổ theo quyết định của Nghị viện/Quốc hội, chứ không phải do Chính phủ); 4) Thứ tư, độc lập về nhân sự (quy trình lựa chọn, bổ nhiệm độc lập, được trao thẩm quyền độc lập nhất định,.. ).

Những đặc trưng cơ bản về hoạt động, chức năng của một CQNQQG đó là:

-         Cơ quan tư vấn về chính sách và pháp luật liên quan đến lĩnh vực nhân quyền cho Quốc hội/Nghị viện hoặc Chỉnh phủ,

-          Cơ quan thực hiện và giám sát việc thực hiện các Đạo ỉuậtííuật liên quan đến bảo vệ và thúc đẩy quyền con người (chẳng hạn, Luật về Phần biệt đối xử, Luật Người Khuyết tật, Luật Nhân quyền,...),

-         Cơ quan tiến hành điều tra, điều trần những vụ việc cáo buộc vỉ phạm nhân quyền được đệ trình bởi công dân, các cá nhân hay các nhỏm xã hội cỏ liên quan,

-         Cơ quan giáo dục, tuyên truyền và phổ biến quyền con người cho các chủ thể nghĩa vụ (thực hiện quyền) và chủ thể thụ hưởng quyền

-         Cơ quan tham gia thực hiện hoặc giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người (như tham gia vào quá trình tiến hành soạn thảo, đệ trình báo cáo quốc gia),

-          Cơ quan xây dựng các chương trình hành động quốc gia về nhân quyền, chịu frảch nhiệm tham gia thực hiện, giám sát việc thực hiện các chương trình hành động về nhân quyền trên phạm vỉ toàn quốc

-         Cơ quan điều phốỉ, hợp tác và phối hợp, kết nối, cũng như là một kênh đổi thoại giữa nhà nước, các lực lượng thị trường, tổ chức xã hội dân sự với người dân; đồng thời hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu khoa học và trao đẻỉ kỹ thuật về quyền con người.

2.2.   Về tính độc lập của các UBNQQG:

Tính độc lập của các ƯBNQQG được xác định theo các Nguyên tắc Paris của Liên hợp quốc, đồng thời trên cơ sở văn hóa chính trị - pháp lý và trình độ phát triển của mỗi quốc gia, khu vực. Tính độc lập của UBNQQG đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát thực hiện quyền con người cũng như vào việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người cho tất cả mọi cá nhân, nhóm xã hội.

Kể từ khi được LHQ thông qua đến nay, sau hai thập kỷ, Nguyên tắc Paris đã trở thành nền tảng quy tắc hướng dẫn và chuẩn mực của LHQ cho việc hình thành tổ chức và hoạt động của các CQNQQG trên toàn thế giới, góp phần quan trọng vào việc đinh hình các cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trên phạm vi toàn cầu, trong đó đáng chú ý là việc hoàn thiện cơ chế quốc gia bảo đảm nhân quyền.

III. Đề xuất phương án khả thi

Việc thành lập CQNQQG ở Việt Nam là cấp thiết trong bối cảnh đẩy manh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, xây dựng nền hành chính nhà nước theo hướng phục vụ nhân dân, cởi mở, minh bạch, trách nhiệm giải trình, và đặc biệt là theo tinh thần cốt lõi của Hiến pháp 2013 đó là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, quyền và tự do cơ bản của công dân, cũng như trước xu thế hội nhập sâu rộng vào các định chế khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, cần xây dựng phương án thành lập mang tính khả thi cao.

Về cơ sở pháp lý, theo quy định của Nguyên tắc Pari, dù theo mô hình nào thì các cơ quan này cũng phải được thành lập từ một quy định trong Hiến pháp hoặc trên cơ sở một đạo luật riêng biệt. Thực tiễn Việt Nam cho thấy, đối với Việt Nam, cần ban hành một luật quy định chi tiết về tổ chức, bộ máy, chức năng, thẩm quyền,...của cơ quan này.

Về chức năng, nhiệm vụ, cơ quan này chỉ có chức năng theo dõi, giám sát, tư vấn việc thực thi nhân quyền, chứ không có chức năng trực tiếp giải quyết các khiếu nại, tố cáo những vi phạm nhân quyền. Phạm vi xem xét các vấn đề nhân quyền có thể bao gồm: Xem xét việc ban hành luật và văn bản dưới luật có phù hợp với Hiến pháp hay không; việc thực thi nhân quyền của Chính phủ; hoạt động điều tra, truy tố, xét xử có theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật và theo hướng bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người hay không. Cơ quan này còn có trách nhiệm xem xét báo cáo nhân quyền quốc gia; xem xét về tính tương thích của pháp luật quốc gia với các quy định của công ước nhân quyền và đề xuất kiến nghị.

Về tính độc lập, cơ quan này được đảm bảo tính độc lập tương đối, nhưng không “đối lập”, “đối trọng” với Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan tư pháp. Do đặc thù chính ừị ở Việt Nam, hoạt động của cơ quan này phải nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn quyền con người, không phá hoại sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước.

Về nhân sự, cần lựa chọn những người đã có nhiều năm công tác trên lĩnh vực bảo vệ pháp luật, có chuyên môn về nhân quyền, có uy tín xã hội; đặc biệt là kiên định với vai trò lãnh đạo của Đảng, định hướng xã hội chủ nghĩa, có bản lĩnh trong xừ lý công việc và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đứng trên lợi ích của nhân dân.

Sau đây là hai phương án về mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia: 1) phương án thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia trên cơ sở tái cấu trúc chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức và hoạt động của các ủy ban của Quốc hội có liên quan đến quyền con người, quyền công dân vào thành một ủy ban riêng biệt, tạm gọi là ủy ban Quyền con người trực thuộc Quốc hội. Mô hình này tương tự như Thanh tra Quốc hội về quyền con người của gần 70 nước trên thế giới (trong đó có nhiều nước ở ASEAN như Thái Lan, Phillipines…); 2) phương án thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia trực thuộc Chính phủ. Mô hình này giống như một Bộ hay cơ quan ngang Bộ của Chính phủ.

Phương án 1: Thành lập ủy ban nhân quyền quốc gia trực thuộc Quốc hội

Cơ quan nhân quyền quốc gia theo mô hình ủy ban trực thuộc Quốc hội, có chức năng và thẩm quyền tương tự như một ủy ban của Quốc hội, là một mô hĩnh hiệu quả và tuân thủ đầy đủ theo nguyên tắc Paris về cơ quan nhân quyền quốc gia mà Liên hợp quốc quy định. Đây là một mô hình tương đối lý tưởng đáp ứng được các tiêu chí của một Cơ quan nhân quyền quốc gia theo Nguyên tắc Paris.

Về tên gọi, Cơ quan quốc gia trực thuộc Quốc hội có thể được gọi là “ủy ban Nhân quyền của Quốc hội”.

Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc ra đời CQNQQG trực thuộc Quốc hội xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Quốc hội cũng như các ủy ban, Ban của Quốc hội hiện nay. sắp xếp lại các chức năng giám sát tối cao liên quan đến quyền con người vốn hiện nay đã có sẵn ở các ủy ban liên quan (ủy ban thường vụ Quốc hội, ủy ban Pháp luật, ủy ban Tư pháp, ủy ban Các vấn đề xã hội, ủy ban Thanh Thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội,...), đặc biệt là tái cấu trúc lại Ban Dân nguyện, nâng Ban dân nguyện lên thành ủy ban Nhân quyền dựa trên việc tái cấu trúc các ủy ban của Quốc hội hiện nay. Tuy nhiên, với Hiến pháp 2013 hiện nay, cơ cấu, tổ chức và hoạt động của các ủy ban trực thuộc Quốc hội sẽ không nhất thiết phải thay đổi (và cũng khó hay đổi được vì Hiến pháp đã ban hành). Tuy nhiên, Quốc hội có thể sửa đổi Luật Tổ chức và Hoạt động của Quốc hội, theo đó sắp xếp lại các chức năng và thẩm quyền chồng chéo của các ủy ban hiện nay và nâng Ban Dân nguyện lên thành ủy ban Nhân quyền của Quốc hội.

Như vậy, về cơ sở pháp lý để ra đời ủy ban Nhân quyền quốc gia trực thuộc Quốc hội: Quốc hội cần ban hành một Luật quy định chuyên biệt về Tổ chức và hoạt động của ủy ban này, theo đó xác định rõ chức năng, quyền hạn, thành phần đại diện dựa trên tính đặc thù về điều kiện chính trị, văn hóa, lịch sử của Việt Nam.

Về cơ cấu tổ chức: Đứng đầu ủy ban nên là một Chủ nhiệm (không nhất thiết phải là ủy viên Ban chấp hành Trung ương đương nhiệm, tốt nhất nên lựa chọn những ứng viên từng là Nguyên ủy viên BCHTW hoặc Nguyên Chủ nhiệm một ủy ban của Quốc hội, hoặc một Bộ/ngành của Chính phủ); người này sẽ do Quốc hội bầu trực tiếp, sau đó Chủ tịch nước phê chuẩn. Và có ít nhất 2 phó Chủ nhiệm, và các ủy viên chuyên trách từng mảng, lĩnh vực. Bao gồm: ủy viên về quyền trẻ em, ủy viên về quyền phụ nữ, ủy viên về quyền của người khuyết tật, ủy viên về quyền dân sự - chính trị, ủy viên về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ủy viên về quyền môi trường,.. Cơ cấu tổ chức của ủy ban cũng bao gồm các công chức là những người làm việc hành chính (Ban Thư ký), truyền thông,...

Cơ quan này có thể trực thuộc Quốc hội hoặc ủy ban Thường vụ của Quốc hội. Tuy nhiên, mô hĩnh lý tưởng, nên trực thuộc Quốc hội giống như các ủy ban trực thuộc khác.

Người đứng đầu phải: 1) Là một vị đại biểu Quốc hội đương nhiệm; 2) Từng giữ trọng trách trong Đảng và Chính quyền (nên là một Bộ trưởng hoặc tương đương đã nghỉ quản lý); 3) có phẩm chất đạo đức, am hiểu lĩnh vực nhân quyền và dày dạn kinh nghiệm; 4) hoạt động theo cơ chế độc lập với các cơ quan quyền lực nhà nước; 5) được miễn trừ trách nhiệm pháp lý mà không bị truy tố hay xem xét bởi Chủ tịch nước, Thủ tướng do thực hiện chức năng và thẩm quyền của mình; 6) được hưởng lương trực tiếp từ ngân sách nhà nước do Quốc hội thông qua (chế độ như một Phó Thủ tướng - Thanh tra Quốc hội Đan Mạch được hưởng chế độ như Thủ tướng; khi nghỉ hưu được hưởng chế độ như một Bộ trưởng đương chức).

Về chức năng, nhiệm vụ:

-    Chịu trách nhiêm chính, trực tiếp về những vấn đề lỉên quan đến việc thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội về quyền con người

-   Tư vấn tham mưu Quốc hội, cũng như các cơ quan hữu quan, trong việc xây dựng, ban hành các chỉnh sách và pháp luật liên quan đến lĩnh vực nhân quyền

-   Tiến hành điều fra, điều trần khỉ cần thiết đối với những vụ việc liên quan đến khiếu nạỉ, tố cảo của công dân, các tổ chức, cả nhân liên quan đến việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện qưyền con người, quyền công dân trên phạm vi toàn quốc

-   Giám sát việc tể chức, thực hiện giáo dục, tuyên truyền và phổ biến quyền con người của các cơ quan nhà nước có liên quan.

-   Tham gia thực hiện hoặc giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người (như tham gia vào quá trình tiến hành soạn thảo, đệ trình báo cáo quốc gia),

-  Xây dựng các chương trình hành động quốc gia về nhân quyền, chịu trách nhiệm tham gia thực hiện, giám sát việc thực hiện các chương trình hành động về nhân quyền trên phạm vi toàn quốc

-  Điều phối, hợp tác và phối hợp, kết nối, cũng như là một kênh đổi thoại, giữa nhà nước, các lực lượng thị trường, tổ chức xã hội dân sự với người dân; đồng thời hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu khoa học và trao đổi kỹ thuật về quyền con người,

-     Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giảo dục nhân quyền, xây dựng năng lực và hỗ trợ thực hiện nhằm thúc đẩy các quyền con người với các cơ quan nhân quyền quốc gia, khu vực và quốc tế có liên quan.

Nhiệm kỳ của ủy ban dựa trên Nhiệm kỳ của Quốc hội.

Phương án 2: Mô hình Hội đồng Nhân quyền quốc gia trực thuộc Chủ tịch nước hoặc ủy ban nhân quyền quốc gia trực thuộc Chính phủ

Cùng với mô hình ủy ban thuộc Quốc hội, mô hình Hội đồng Nhân quyền quốc gia trực thuộc Chủ tịch nước hoặc ủy ban Nhân quyền quốc gia trực thuộc Chính phủ là một mô hình tương đối mang tính khả thi trong điều kiện nước ta hiện nay.

Cơ sở khoa học và thực tiễn để ra đời mô hình này xuất phát từ chính chức năng và quyền hạn của Chủ tịch nước, cũng như của Chính phủ, theo các nguyên tắc hiến định được nêu trong Hiến pháp 2013.

-   Cơ sở pháp lý cần thiết cho sự ra đời mô hĩnh này, đó là:

+ Ra đời theo một luật của Quốc hội hay Lệnh của Chủ tịch nước hoặc Nghị định của Chính phủ,

+ Trực thuộc Chủ tịch nước hoặc trực thuộc Chính phủ.

Nếu trực thuộc Chủ tịch nước, cơ quan này có cơ cấu, tổ chức giống như một Ban (ủy Ban) hoặc Hội đồng trực thuộc Chủ tịch nước, tương tự Ban Cải cách Tư pháp Trung ương. Tuy nhiên, người đứng đầu Ban/Hội đồng này do Chủ tịch nước trực tiếp bồ nhiệm, hoặc phê chuẩn với đề xuất của Thủ tướng.

Nếu trực thuộc Chính phủ: cơ quan này nên có mô hình như một ủy Ban thuộc Chính phủ, đóng vai trò chuyên trách về thực hiện quyền con người. Mô hình này có cơ sở lịch sử từ mô hình tổ chức và hoạt động của các ủy ban về thúc đẩy vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới, ủy ban bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, ủy ban Dân tộc, ....Tên gọi của ủy ban thuộc Chính phủ “ủy ban quốc gia về quyền con người”, ủy ban này dựa trên việc sắp xếp lại một số chức năng, nhiệm vụ của Ban chỉ đạo nhân quyền chính phủ. Phương án này tương đối khả thi vì hiện nay, Ban chi đạo Nhân quyền chính phủ đã và đang hoạt động tương đối hiệu quả trên nhiều chức năng, nhiệm vụ của một ủy ban Nhân quyền quốc gia.

+ Người đứng đầu Hội đồng (Chủ tịch) do Chủ tịch nước bổ nhiệm với chức vị tương đương bộ trưởng; hay do Thủ tướng bổ nhiệm.

-   Chức năng, nhiệm vụ:

+ Theo dõi, tư vấn cho Chủ tịch nước và các cơ quan quyền lực nhà nước về các vấn đề nhân quyền trong và ngoài nước,

+ Nhận đơn khiếu kiện (sau khi đã sử dụng hết các trình tự thủ tục mà vẫn không đạt kết quả mong đợi); phát hiện bản chất vụ việc và đưa ra khuyến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về cách thức giải quyết (không được trao chức năng điều tra),

+ Xem xét, đánh giá việc thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là quốc gia thành viên; soạn thảo báo cáo hàng năm về tình hĩnh thực hiện quyền con người trình cơ quan có thẩm quyền,

+ Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục, phổ biến, tuyên truyền, xây dựng năng lực,...về quyền con người với các cơ quan nhân quyền quốc gia, khu vực và quốc tế có liên quan.

-          Về cơ cấu, tổ chức:

Hội đồng nhân quyền hay Ban Nhân quyền quốc gia trực thuộc Chủ tịch nước, cần theo mô hình cơ cấu gồm có chủ tịch Hội đồng, hoặc Chủ nhiệm/Trưởng Ban, với 2-3 cấp Phó và một số ủy viên. Tương tự như vậy, ủy ban Nhân quyền quốc gia trực thuộc Chính phủ bao gồm Chủ tịch ủy ban, các phó và ủy viên phụ ừách các mảng, lĩnh vực của quyền cụ thể.

+ Người đứng đầu phải: 1) Từng giữ trọng trách trong Đảng và Chính quyền (nên là một Bộ trưởng hoặc tương đương đã nghỉ quản lý) và hiện vẫn đang là đảng viên; 2) được Chủ tịch nước bổ nhiệm trực tiếp; 3) có phẩm chất đạo đức, trình độ/am hiểu lĩnh vực nhân quyền và dày dạn kinh nghiệm; 4) hoạt động theo cơ chế hoàn toàn độc lập khỏi sự ảnh hưởng của các nhánh quyền lực nhà nước; 5) được miễn trừ trách nhiệm pháp lý một phần mà không bị truy tố hay xem xét bởi thủ tướng do thực hiện chức năng, thẩm quyền của mình.

+ Các thành viên khác gồm những người am hiểu pháp luật, chính trị, khoa học xã hội và nhân văn, hoạt động xã hội, thành phần dân tộc, giới, tôn giáo,.... đã có nhiều năm kinh nghiệm công tác và hoạt động liên quan đến việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

-Nhiệm kỳ hoạt động của Hội đồng hay ủy ban là 5 năm, không nhất thiết phải căn cứ theo nhiệm kỳ của Quốc hội và Đại hội Đảng.

Mô hình Hội đồng quốc gia trực thuộc Chủ tịch nước về quyền con người đã được nhiều quốc gia thuộc khối Liên xô và Đông Âu cũ lựa chọn và cũng tương đối có hiệu quả (LB Nga, Ucraina,...). Trong khi đó mô hĩnh ủy ban nhân quyền quốc gia trực thuộc Chính phủ đóng vai trò không chỉ như là một bước chuyển đổi, trung gian để tiến tới việc thành lập ủy ban NQQG độc lập, trực thuộc Quốc hội; quan trọng hơn nó phù hợp với điều kiện và bối cảnh chính trị, lịch sử và văn hóa của Việt Nam hiện nay.


[1] Vụ trường Vụ Hợp tác quốc tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh