Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Tư liệu Hán Nôm với triển vọng nghiên cứu biển Đông

TS Trần Trọng Dương

07/11/2016

Hà Nội, ngày 27/8/2016

TƯ LIỆU HÁN NÔM VỚI TRIỂN VỌNG NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

TS Trần Trọng Dương

(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

 

Tóm tắt: Với tư cách là nguồn sử liệu phổ biến nhất ở Việt Nam trong thời trung đại, di sản Hán Nôm là một loại hình văn hiến có nhiều giá trị khác nhau. Tính đa trị của nó có thể được sử dụng cho nhiều lãnh vực khoa học ở phương diện lịch sử. Hàng nghìn trang tư liệu hiện có là một nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu về Biển Đông.

Bài viết, dựa trên các trữ lượng và các phương diện phản ánh của tư liệu Hán Nôm, sẽ đề xuất một mô hình phân loại tổng thể cho các chuyên ngành thuộc phạm vi của nghiên cứu Biển Đông. Mô hình (gồm 16 chuyên ngành) chú ý đến tính toàn diện, tính liên ngành và đa ngành, để từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể cho sự quy hoạch tổng quan, hay chiến lược dài hạn trong nghiên cứu và đào tạo chuyên gia về Biển Đông trong tương lai.

***

Trong mấy năm vừa qua, trước những xâm phạm thô bạo ngày một gia tăng của Trung Quốc, nghiên cứu Biển Đông, từ vị trí nghiên cứu khuất nẻo, dần trở thành một chuyên ngành khoa học được hoạt động công khai, được khuyến khích rộng rãi ở nhiều cơ quan học thuật từ trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý hành chính, đến cơ quan nghiên cứu và các trường đại học trên toàn quốc.

Trong khi giới học thuật Trung Quốc đã chuẩn bị một chiến lược nghiên cứu cơ bản dài hơi bằng việc đào tạo các chuyên gia nghiên cứu biển vài ba chục năm trở lại đây, thì Việt Nam dường như đến giờ mới "tự mở cửa" cho chính mình. Mặc dù đã được khai phóng tự do trong nghiên cứu học thuật, mặc dù đã được đầu tư ở nhiều chỗ, song từ góc độ quản lý khoa học, các học giả ở Việt Nam hiện vẫn đang phải tự xoay xở trong những điều kiện khác nhau. Bài viết này là một lược sử diễn giải tình hình nghiên cứu Biển Đông thuộc phạm vi của khoa học xã hội và nhân văn[1], đồng thời đề xuất một mô hình phân môn các chuyên ngành nghiên cứu Biển Đông.

Lược quan tình hình nghiên cứu Việt Nam (1970- nay)

Diện tích nước ta bao gồm cả hai phần lãnh thổ và lãnh hải. Diện tích Biển Đông chiếm một tỷ lệ áp đảo so với đất liền. Nhưng do nhiều điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, các mối quan tâm của nhà nước và giới nghiên cứu tỏ ra tương đối rời rạc, nếu không muốn nói là nhiều khi bị lãng quên, hoặc cố tình quên lãng. Mà lý do được đưa ra để giải thích ấy là vấn đề tế nhị đến mức gần như cấm kị đối với các nghiên cứu thuộc phạm vi của ngành xã hội nhân văn[2].

Để lược thuật được tình hình nghiên cứu Biển Đông ở mảng khoa học này, bài viết này khảo sát trên dưới 1200 công bố khoa học1 (chủ yếu bằng tiếng Việt), đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và các ấn phẩm (phần lớn là chuyên luận) được phát hành trong nước khoảng 40 năm trở lại đây (từ những năm 1970 đến 2014). Tiêu chí thống kê bao gồm: (1) đầu mục bài nghiên cứu, hoặc chuyên luận nghiên cứu; (2) Các lần xuất bản, công bố (tính cả trường hợp được tái bản).

Một ví dụ tiêu biểu như sau: "Phạm Hoàng Quân. 2008. Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc. Báo Tuổi trẻ, ngày 5/1/2008, tb. 2012. Tạp chí Nghiên cứu Phát triển - Viện NC Phát triển TP.HCM. số 1/2012. tb. 2014a. Trong "Hoàng Sa- Trường Sa: nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc". Nxb. Văn hóa Văn nghệ. Tp. HCM. tr.7-15". Đây là một đơn vị điển hình cho mẫu khảo sát. Bài nghiên cứu này được công bố 3 lần ở 3 năm khác nhau (2008, 2012, và 2014) với các mức độ chỉnh sửa, bổ sung khác nhau, được công bố ở 3 kênh xuất bản (báo chí, tạp chí, và chuyên luận). Như thế, bài nhiên cứu này sẽ đồng thời được thống kê ở cả ba năm. Mặt khác, nếu là chuyên luận của một tác giả (một người viết) thì sẽ tương đương với 1 đơn vị; nếu là một tuyển tập bài viết thì các bài viết khác nhau ấy cũng được coi là một đơn vị (như trường hợp các công bố của Phạm Hoàng Quân trong ví dụ trên). Thêm nữa, nếu một chuyên luận được cấu thành từ các chương do nhiều tác giả khác nhau viết, thì mỗi chương sẽ tương ứng với một đơn vị thống kê. Về thời gian khảo sát, chúng tôi chia làm bốn giai đoạn, gồm (1) từ 1970 đến 1975, (2) giai đoạn từ 1980 đến 1984, (3) giai đoạn 1992 đến 1994, (4) giai đoạn từ 2010 đến 2014).

Nếu so sánh công bố về toàn bộ Biển Đông của Việt Nam với các công bố khoa học của Trung Quốc qua 1 từ khóa "Nam Sa" trên CNKI thì có thể thấy sự chênh lệch thấy rõ[3] (Xem hình đính kèm). Sự chênh lệch này là do nhiều yếu tố. Song nhìn vào tốc độ công bố thì Trung Quốc đã chạy đua trên mặt trận học thuật bắt đầu từ sau sự kiện 1974, và những công bố có hệ thống đầu tiên đã ra hoa kết trái từ thập niên 1980. Việt Nam thì không giống vậy.

Công bố học thuật về Biển Đông ở Việt Nam có thể chia làm hai giai đoạn chính: (1) Giai đoạn từ thập niên 1990 trở về trước; (2) Giai đoạn từ 2010 trở lại đây. Xin phân tích cụ thể như sau.

Giai đoạn từ thập niên 1990 trở về trước là giai đoạn gần như không có một chủ trương cởi mở, công khai nào trong việc nghiên cứu biển Đông. Các công bố xuất hiện một cách ngẫu nhiên, chủ yếu thuộc phạm vi khảo cổ học biển đảo và một vài bài lẻ tẻ về lịch sử văn hóa.

Trước tiên là nửa đầu thập niên 1970, hầu như không có công bố. Năm 1972, chỉ có 1 công bố của một học giả quốc tế, đó là bài "Les Portugais sur les Côtes du Viet-Nam et du Campá. Étude sur les routes maritimes et les relations commerciales d'après les sources Portugaises (XVIè, XVIIè, XVIIIè siècles)" đăng tải trên EFEO (Paris) của Pierre Yves Manguin (1972), bài này đã từng được dịch sang tiếng Việt dưới dạng bản dịch lưu hành nội bộ của Khoa Sử (Đại học Tổng hợp Hà Nội). Năm 1975 có số lượng công bố tăng vọt với "Đặc khảo Hoàng Sa" trên tạp chí Sử Địa và cuốn "White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratley)" của Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn, đó là do cú huých của sự kiện Hoàng Sa năm 1974. Nhưng đây lại là nghiên cứu của thế lực bên kia (Sài Gòn),... nên hầu như các kết quả không được đề cập đến mãi cho đến cuộc bảo vệ Luận án chính thức của Nguyễn Nhã (2002) tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh[4], và được nhắc lại "tên miền" trên Tạp chí Xưa & Nay năm 2014 với sự bổ sung, gia nhập chính thức của các sử gia hàng đầu của Việt Nam đương đại.

Vài ba cuốn sách đáng kể về Biển Đông được xuất bản trong giai đoạn này là Sách trắng về Biển Đông của Bộ Ngoại Giao[5], "Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam" của nhà xuất bản Sự thật năm 1982, với chú thích "Các tài liệu lịch sử chứng minh 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam; Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của nhà cầm quyền Bắc Kinh". Có thể ngầm hiểu rằng, các cuốn sách này được ra đời trong dư chấn của chiến tranh Biên Giới năm 1979. Phát ngôn chính thức về mặt xuất bản phẩm này là tranh biện của nhà nước trên phương diện ngoại giao, mà không thấy một khuôn mặt học giả nào. Họ có thể đứng đằng sau, hoặc hoạt động bí mật hoặc rơi vào tình trạng vô danh dưới cái tên tập thể. Điều này có nghĩa là, gần như không có các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp được hoạt động một cách công khai trong bối cảnh thời bấy giờ. Và đương nhiên, không có một học giả nào tự tiện lân la đến lĩnh vực nghiên cứu này khi chưa có lệnh hoặc khi chưa có tuyên bố nào có được phép hay không. Vùng nhạy cảm trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn một lần nữa đã thể hiện vai trò của mình.

Sự kiện sau đó năm 1988, khi Trung Quốc đánh chiếm Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Gaven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi, cũng không thúc đẩy thêm một bước tiến nào trong nghiên cứu Biển Đông. Một sự ắng lặng đáng ngại! Nhà nước cũng xuất bản một tài liệu ngoại giao là "Sách trắng Bộ Ngoại giao Việt Nam" (1988). Các tư liệu công bố cho thấy, cả một giai đoạn dài từ năm 1975 đến 1980-1990 đều là sự lên tiếng tuyên bố của chính quyền trên các diễn đàn ngoại giao. Còn các nhà nghiên cứu vẫn nằm lẩn khuất đâu đó, với những công bố cực kỳ hạn chế.

Có thể nói giai đoạn 1970 - 1990 là giai đoạn mà nghiên cứu Biển Đông bị lãng quên, hoặc hoạt động bí mật, không công khai, và có lẽ cả không chiến lược? Nên các công bố chỉ là các nghiên cứu ngẫu nghiên, lẻ tẻ, không hệ thống. Cả hệ thống giáo dục các cấp, từ phổ thông cho đến các đào tạo chuyên gia (Đại học và sau Đại học) về lĩnh vực này cũng đều mờ nhạt. Nhà nước lĩnh vai trò tuyên truyền giáo dục, thực hiện đấu tranh đơn độc trên mặt trận ngoại giao, gần như không cần đến các nghiên cứu khoa học chuyên biệt của giới học thuật? Còn giới khoa học, dường như đã quá hiểu phận vị của mình sau những hồi ngục văn tự thời phong kiến đến Nhân văn giai phẩm, nên cũng lặng lẽ giữ mình?

Giai đoạn hai trong biểu đồ có thể thấy rõ số lượng công bố tăng vọt từ năm 2010 đến 2014. Chưa bao giờ số lượng công bố về nghiên cứu Biển Đông lại bùng nổ đến vậy. Có ba lý do chính như sau:

Sự cởi mở trong chính sách nghiên cứu và công bố của Đảng và Nhà nước;

Các nhóm nghiên cứu chuyên sâu như nhóm Thương mại biển của Đại học Quốc gia Hà Nội, nhóm văn hóa biển, nhân học biển (tiêu biểu như Phan Thị Yến Tuyết[6], Trần Ngọc Thêm,... thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), nhóm nghiên cứu tín ngưỡng biển (như

Trần Thị An[7], Nguyễn Thanh Lợi, hay Viện Nghiên cứu Văn hóa.) sau một thời gian tích lũy và tự đào tạo nghiên cứu đã bắt đầu có những công bố mang tính hệ thống;

Tác động từ bối cảnh chính trị Biển Đông, khi năm 2009, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đệ trình bản đồ chữ U (đường đứt khúc 9 đoạn) lên Ủy ban Liên Hiệp Quốc về ranh giới thềm lục địa (CLCS). Nhân tố cuối cùng có thể nói là tác động quan trọng nhất.

Chưa bao giờ nghiên cứu Biển Đông, cùng với các phát ngôn trên các kênh truyền thông, lại được ưu tiên công bố đến vậy. Các nhà nghiên cứu đã thoát khỏi tình trạng hoạt động bí mật, hoặc nghiên cứu chui. Bởi lúc này, khi nhà nước bắt đầu có những chính sách khuyến khích, đầu tư nghiên cứu; thì việc nghiên cứu Biển Đông đã trở thành một nhiệm cụ cấp bách có tính thời sự nóng hổi. Các cơ quan nghiên cứu Biển Đông được thành lập ở nhiều nơi trong hệ thống các Viện nghiên cứu, các Trường đại học, như Trung tâm nghiên cứu Biển Đông (thuộc Viện Nghiên cứu Trung Quốc, VASS), Trung tâm nghiên cứu Biển và Đảo (thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh),.

Các đề tài dự án cũng được dịp bung nở, nhiệm vụ khoa học cũng có thể giao cho bất kỳ ai, miễn là được nhà nước coi là có chức danh khoa học, có chân trong một cơ quan khoa học của nhà nước. Số lượng các chuyên gia bài bản, chuyên nhất về Biển đảo như Nguyễn Nhã, Nguyễn Hồng Thao, Hoàng Anh Tuấn,. là tương đối ít ỏi; còn chủ yếu vẫn là các nhà nghiên cứu "thuyên chuyển chuyên môn"- như người viết bài này là một ví dụ. Nhà quản lý có thể nghĩ rằng, một nhà nghiên cứu bất kỳ có chuyên môn về tiếng Hoa, về Hán học, hay lịch sử- văn hóa nói chung đều có thể trở thành một chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông? Điều đó rõ ràng là có thể, bởi khi quốc gia hữu sự trí thức ai cũng có tinh thần tự nhiệm, và có thể xoay xở bằng kỹ năng vốn có của mình. Nhưng vấn đề là ở chỗ, với tư cách là người làm quản lý, nhà nước cần phải có những chiến lược dài hơi, có tầm viễn kiến, có lộ trình, có các phương án cụ thể, nhân sự cụ thể cho các kế hoạch nghiên cứu, các kế hoạch đào tạo và đấu tranh trên mọi mặt trận khoa học.

Thế nhưng, điều này dường như là chưa thấy triển vọng. Các đề tài dự án, các viện nghiên cứu, các nhà nghiên cứu hiện vẫn chỉ đang là thực hiện các nhiệm vụ khoa học trước mắt, mang tính thời sự nóng hổi, như đấu tranh chủ quyền (luật biển), nghiên cứu kinh tế biển, thương mại biển[8]. chứ chưa thấy một chiến lược tổng thể mang tính vĩ mô để thúc đẩy tất cả các chuyên ngành khác nhau trong nghiên cứu Biển Đông.

Đã đến lúc các nhà nghiên cứu cùng ngồi lại với nhau để phác thảo nên một lộ trình nghiên cứu dài hơi và tổng thể về Biển Đông; cần phân định rõ các đối tượng trước mắt, các nhiệm vụ lâu dài; với những quy hoạch tổng thể về các phân ngành chuyên biệt trong nghiên cứu biển Đông, để chuyên ngành này có thể phát triển trong vòng 30 đến 50 năm tới, để tránh tình trạng luôn luôn phải ứng phó với những tình huống không lường trước. Đấu tranh trên lĩnh vực học thuật là một nhiệm vụ, tư vấn chính sách cho Nhà nước về lộ trình công việc cũng là một nhiệm vụ không thể không nghĩ đến.

Mô hình các phân ngành trong nghiên cứu biển Đông

Nghiên cứu biển Đông đến nay đã bước đầu được hình thành. Ngành nghiên cứu này đương nhiên sẽ chỉ là một bộ phận của hải dương học trong phạm vi của khối khoa học xã hội và nhân văn. Nhưng xét theo tiêu chí địa lý, chúng tôi đề xuất khái niệm Đông Hải học, hoặc Hải dương học biển Đông. Về vỏ vật chất (ngôn ngữ- âm thanh- cấu trúc), "Đông Hải học" sẽ có tính thuật ngữ cao hơn là cụm "nghiên cứu biển Đông", bởi cấu trúc từ pháp của nó cho phép xác định đây là một ngữ danh từ- tiêu chí cần và đủ để xác định một cụm từ có thể trở thành thuật ngữ hay không, còn "nghiên cứu biển Đông" thì lại là một ngữ động từ với kết cấu {động từ + tân ngữ}[9]. Mặt khác, thuật ngữ "Đông Hải học" có tính quốc tế cao hơn, bởi hình thức văn tự của nó có thể đồng thời chuyển mã sang chữ Hán và đối dịch âm tiết chính xác theo đúng cấu trúc từ pháp của tiếng Anh "East Sea Studies" (ESS). Khái niệm này cũng khước từ cách gọi theo thông lệ quốc tế "South China Sea"- bởi đây là cách gọi chung khi lấy China làm không gian lục địa nổi tiếng nhất để đinh vị cho vùng biển này (C. Borri 1621/ 2014: 13-14), chứ cách gọi này không có giá trị về mặt pháp lý.

Đông hải học là khoa học nghiên cứu về Biển Đông (từ góc nhìn của Việt Nam)- trong đó trọng tâm là nghiên cứu các hệ vấn đề, các phương diện liên quan trực tiếp/ gián tiếp đến phạm vi lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, đồng thời đặt nó trong tổng thể địa- chính trị- xã hội của vùng biển này, trong mối tương tác lịch sử- văn hóa- quyền lực với các quốc gia láng giềng, cũng như trong mạng lưới quan hệ khu vực và thế giới. Bằng thao tác tư duy tương tự, các nước Trung Quốc, Phillipines, Brunei...[10] lần lượt sẽ khoa học nghiên cứu biển Đông lấy phạm vi lãnh hải thuộc chủ quyền của từng nước làm đối tượng chính. Điều đó có nghĩa là, cùng một đối tượng, mỗi nước sẽ phải xây dựng riêng nhằm phục vụ cho lợi ích của quốc gia mình trên cơ sở tôn trọng sự thực lịch sử, tính đa dạng văn hóa và luật pháp quốc tế.

Với tư cách là nguồn sử liệu phổ biến nhất ở Việt Nam trong thời trung đại, tư liệu Hán Nôm là một loại hình văn hiến có nhiều giá trị khác nhau. Tính đa trị của nó có thể được sử dụng cho nhiều lãnh vực khoa học ở phương diện lịch sử. Với vài nghìn trang tư liệu hiện có, đề tài là một nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu về Đông hải học nói chung và các chuyên ngành thuộc Đông hải học nói riêng, như sẽ trình bày dưới đây.

Cung cấp sử liệu cho việc xác định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa và biển Đông (Historical Marine Law)

Đây là giá trị nổi bật được chú ý đến nhất trong vòng nhiều năm trở lại đây. Đầu tiên từ nghiên cứu của nhóm Nguyễn Nhã (1973), đề tài nghiên cứu đặt hàng của nhóm Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân, Nguyễn Thừa Hỷ (1995- nay, chưa xuất bản), cho đến các nghiên cứu công bố gần đây của Bộ Ngoại giao- UB Biên giới (2013), Viện NC Hán Nôm (2014), Phạm Hoàng Quân (2014), Trần Đức Anh Sơn (2014), Nguyễn Đình Đầu (2014),. Trong khi nhóm Nguyễn Nhã được coi như là những người đặt gạch cho cuộc đấu tranh giành chủ quyền của thế hệ học giả Sài Gòn, thì các công bố của Bộ Ngoại giao (2013) như là phát ngôn học thuật chính thức của nhà nước cho lĩnh vực này với những văn bản hành chính quan phương trong hệ thống châu bản triều Nguyễn. Đầu năm 2014, sự kiện giàn khoan Hải Dương HD/ HY981 là cú huých cuối cùng, để hàng loạt ấn phẩm khoa học liên quan đến biển Đông ra đời. Cuốn sách "Một sô'tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đôi với hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biên Đông" của Viện NC Hán Nôm (một phần của đề tài) là bước ngoặt đáng kể khi lần đầu tiên công bố một cách tương đối toàn diện và có hệ thống những nguyên bản sử liệu (chữ viết bản đồ) xác định lịch sử chiếm hữu và thực thi chủ quyền của các triều đại phong kiến Việt Nam (chúa Nguyễn và nhà Nguyễn) đối với Hoàng Sa- Trường Sa.

Theo tiêu chuẩn án lệ quốc tế được sử dụng cho các tòa án quốc tế về tranh chấp lãnh thổ, để chứng minh được sự sở hữu lãnh thổ/ của một quốc gia thì cần chứng minh bốn điểm sau đây bằng các sử liệu: (1) Lịch sử khám phá (từng được áp dụng thành quyền khám phá); (2) Sự chiếm hữu tượng trưng thông qua các biểu vật tượng trưng như cờ, bia đá, cọc mốc, hoặc các công trình kiến trúc; (3&4) Sự chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền (thực thi quyền chủ quyền) một cách liên tục đối với lãnh thổ đó (occupation và effectivité)[11]. (5) Chủ thể chiếm hữu phải là một quốc gia. [Từ Đặng Minh Thu 1998/ tb.2014].

Những sử liệu công bố trong Hông Đức bản đô (cùng với các sử liệu khảo cổ học lịch sử/ khảo cổ học biển đảo) cho thấy, người Việt các triều đại Việt Nam trong lịch sử đã khám phá ít nhất là từ thế kỷ XV [Từ Đặng Minh Thu 1998/ tb2014; Viện NC Hán Nôm 2014: ]. Người Việt đã đến đó sinh sống hàng thế kỷ, và đến thế kỷ XVII, chính quyền nhà Nguyễn ở Đàng Trong đã thành lập các đội Hoàng Sa- Bắc Hải để khai thác đảo một cách LIÊN TỤC hai quần đảo này. Tính liên tục của sự chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong quãng 3 thế kỷ đã tạo nên CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ cho Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu hải dương học lịch sử (historical Marine Geography)

Hải dương học lịch sử có lẽ là một ngành khoa học chưa từng được đề xuất ở Việt Nam. Xét về phương diện địa lý sinh thái, ngành này vốn là phân ngành nhỏ của Địa lý học lịch sử (historical Geography). Thực ra, địa lý học lịch sử trước nay chỉ chú trọng đến lịch sử địa lý hành chính trên phạm vi đất liền (cũng có thể gọi là địa chính học lịch sử), mà hầu như chưa để ý đến đối tượng biển đảo, hoặc đề cập đến nó như một đối tượng ngoại vi (như công trình "Đất nước Việt Nam qua các đời" của GS Đào Duy Anh). Nếu phân mảng chi tiết, ngành này sẽ bao gồm (1) lục địa học lịch sử (mainland historical Geography); (2) hải dương học lịch sử; (3) thủy giang học lịch sử (river historical Geography): một ngành khoa học chuyên biệt nghiên cứu về các dòng sông ở mọi phương diện của lịch sử địa lý đến lịch sử văn hóa, được khởi đầu rất sớm từ cuốn Thủy kinh chú. Trong đó, hải dương học lịch sử sẽ có một giao giới chung với thủy giang học lịch sử, đó là các cửa biển/ cửa sông thông ra biển, lần lượt được gọi là hải khẩu/ giang khẩu hay hải tấn/ giang tấn trong tiếng Hán hay marine mouth/ river mouth trong tiếng Anh. Cả hai ngành này lại đồng thời có giao giới chia cắt với ngành thủy văn học (hydrology).

Hải dương học lịch sử là ngành khoa học nghiên cứu về lịch sử diên cách (hiện tượng cố định không thay đổi và hiện tượng khả biến) phạm vi địa lý các vùng duyên hải, hải khẩu, các vùng biển và các hải đảo trong tiến trình lịch sử. Hải dương học lịch sử cần được phân biệt với Hải dương học là ngành khoa học nghiên cứu mọi hiện tượng hải dương như tương tác biển- khí quyển và các quá trình biến đổi ở vùng cửa biển- cửa sông. Để triển khai nghiên cứu chuyên ngành này, nhà nghiên cứu, ngoài việc khảo sát thám đạc địa chất, địa mạo, thủy triều học, thiên văn học, khảo cổ học., còn phải nghiên cứu các sử liệu văn hiến hữu quan. Trong đó, các sử liệu văn hiến Hán- Nôm được coi như là nguồn sử liệu có trường độ lớn nhất quãng trên dưới 2000 năm (so với các sử liệu văn hiến của tiếng Pháp, Bồ Đào Nha, La Tinh và Quốc ngữ chỉ khoảng 500 năm trở lại đây).

Một ví dụ tiêu biểu cho Hải dương học lịch sử (Đông hải học lịch sử) là núi Non Nước của Ninh Bình chẳng hạn. Đây là một địa danh đã nằm trong đất liền cách biển hơn 50 km, núi cao trên 100 m. Núi hiện còn 42 bài thơ khắc vào ma nhai có niên đại từ thế kỷ 13-14 đến thế kỷ XIX.

Ngoài ra, còn phải kể đến cả trăm tác phẩm văn học khác được sáng tác và ghi chép rải rác ở rất nhiều thư tịch cổ, với nhiều nhà thơ nhà văn hóa nổi tiếng như Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Thiệu Trị, Tự Đức, Tản Đà... Qua nhiều nguồn sử liệu Hán Nôm hữu quan, cùng với khảo sát ngấn thủy triều ở chân núi, có thể xác định khá chắc chắn rằng, vào thời Trần- Lê Sơ, núi đang nằm ở cửa biển. Những tư liệu như vậy là hết sức thú vị, cùng một lúc có thể soi chiếu cho nhiều ngành khoa học khác nhau, từ thủy giang học lịch sử, đến hải dương học lịch sử (với nghiên cứu về lưu lượng nước, lượng phù sa bồi đắp, tốc độ bồi đắp,...). Các sử liệu này đồng thời cũng là những cứ liệu thú vị để nghiên cứu về giao thông học lịch sử, giao thương học lịch sử.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu hải danh học lịch sử (historical Marine Toponymy)

Hải danh học lịch sử là ngành khoa học nghiên cứu thuộc phạm vi của ngôn ngữ học lịch sử, hoặc từ nguyên học, và nằm trong mảng giao cắt trực tiếp với hải dương học lịch sử, văn hóa học. Xét về mặt đối tượng nghiên cứu, hải danh học lịch sử với hải dương học lịch sử là cặp đôi không thể tách rời. Trong khi hải dương học lịch sử chú ý nghiên cứu các vấn đề lịch sử- văn hóa- trính trị liên quan đến biển, thì hải danh học lịch sử nghiên cứu về vỏ vật chất ngữ ngôn của các đối tượng trên. Chuyên ngành này lấy việc nghiên cứu các tên gọi của các vùng biển, các vịnh biển, các đảo hòn và các hải khẩu ở khía cạnh lịch sử, từ nguyên. Ngành này chú ý phân tích những biến động và ổn định về tên gọi, mã hóa chúng trở thành như một chuỗi các từ khóa (key word) để giúp nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát tư liệu và cung cấp các hệ vấn đề hữu quan cho các chuyên ngành khác.

Vẫn quay trở lại với ví dụ núi Non Nước tại thành phố Ninh Bình. Các sử liệu Hán Nôm sẽ cung cấp hàng loạt các tên gọi với các niên đại tương đối chính xác. Thời Đinh Bộ Lĩnh được đặt tên là là Ngự Trấn Phòng sơn từ thời Lê Đại Hành lại được đặt tên là Hộ Thành sơn. Theo Trương Hán Siêu, núi này từ năm 1091 đã được vua Lý cho xây chùa tháp, tên là Thủy Sơn (núi nước). Sau Hán Siêu đổi tên núi thành Dục Thúy Sơn vào năm 1343. Và cả hai tên này đến nay vẫn được dùng. Riêng tên Nôm thì mở rộng hơn thành "núi Non Nước". Núi Non Nước thời Đinh nằm ngoài cửa biển. Thời Trần, sóng còn dữ dội nên gọi là cửa Đại Ác. Sau biển đã lui, trở nên hiền hòa hơn nên đổi tên là cửa Đại An. Nay cửa biển là ngã ba sông Vân Sàng và sông đáy (theo Danh thắng Ninh Bình; Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Ninh Bình xuất bản, 1994, chuyển dẫn Huệ Chi 2013: 408).

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu hải thương học lịch sử (Historical Marine Commerce Studies)

Hải thương học trước nay còn được gọi là thương mại biển. Hải thương học nghiên cứu về quá trình giao thương qua đường biển từ phạm vi hẹp nhất là giữa các hải cảng trong một quốc gia cho đến mạng lưới hải thương liên vùng, liên quốc gia, liên khu vực, và ở khía cạnh rộng nhất là mạng lưới hải thương trên toàn cầu. Như mọi ngành khoa học khác, Hải thương học không chỉ nghiên cứu các hoạt động hải thương trong thời điểm hiện tại thuộc phạm trù đương đại, mà như một lẽ tất yếu, hải thương học còn quan tâm đến các vấn đề lịch sử của ngành này (tức lịch sử hải thương học, nằm trong phạm vi lịch sử khoa học) cũng như hải thương học lịch sử (tức nghiên cứu về hải thương trong lịch sử xa xưa, từ thời cổ đại đến trung- cận đại).

Hải thương học đã và đang trở thành ngành khoa học được quan tâm nhiều nhất, được đầu tư nhiều nhất và đương nhiên là ngành khoa học có nhiều thành tựu nhất cả ở Việt Nam lẫn Quốc tế. Ở Việt Nam, hải thương học được bắt đầu từ Gs Trần Quốc Vượng (1988), và một số học giả quốc tế như K. Hall (1985), Li Tana (1993), Momoki Shiro (1995), Anthony Reid,... cho đến nay, nghiên cứu hải thương học đã trở thành một nghiên cứu trọng điểm và có kết quả được thực hiện bởi nhóm (Group of Asian Commerce Studies) do PGS.TS Nguyễn Văn Kim (2007, 2009, 2014) làm trưởng nhóm.

Hải thương học lịch sử là ngành khoa học nghiên cứu về lịch sử của ngành hải thương ở Việt Nam trong mối quan hệ với mạng lưới thương mại Châu A và thế giới trong giai đoạn Cổ- Trung- Cận đại để xác lập quá trình hình thành, phương thức hoạt động, vai trò kinh tế và vai trò văn hóa của các hải thị, cảng đảo, các đế chế biển... và các mối giao thương trên biển trong lịch sử Việt Nam. Ngành khoa học này muốn hướng đến một cái nhìn khác về lịch sử văn hóa Việt Nam.

Sử liệu Hán Nôm được coi là một trong ba nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu hải thương học lịch sử (gồm sử liệu Hán văn Việt Nam- sử liệu Hán văn khu vực, sử liệu tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hà Lan,... và sử liệu khảo cổ học). Ví dụ như đoạn trích sau đây trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Kỷ Tỵ, [Đại Đĩnh] năm thứ 10 [1149] , (Tống Thiệu Hưng năm thứ 19). Mùa xuân, tháng 2, thuyền buôn ba nước Trảo Oa[12] , Lộ Lạc[13] , Xiêm La[14] vào Hải Đông[15], xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hoá quý, dâng tiến sản vật địa phương." Cùng với nhiều nguồn sử liệu hữu quan khác, các nhà nghiên cứu đã xác nhận kỷ nguyên thương mại sớm ở Bắc Bộ, trong đó Đại Việt thời Lý Trần tồn tại như là một mắt xích hải thương quan trọng trong mạng lưới buôn bán khu vực và thế giới.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu hải quân học lịch sử (Historical Naval Studies)

Hải quân nói riêng và thủy quân nói chung là một lực lượng giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử Việt Nam, nhìn từ một góc độ phổ biến hiện nay, là lịch sử chiến tranh với những trang sử rực rỡ của việc dựng nước và giữ nước, thì hải quân và các cuộc hải chiến được coi như là những mốc son chói đỏ. Vì thế, nghiên cứu hải quân học lịch sử là một lĩnh vực thú vị, trước nay đã được quan tâm nghiên cứu với cuốn chuyên luận "Quân thủy Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm" của nhóm tác giả Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng (1983). Những ghi chép sớm trong Việt sử lược hay Đại Việt sử ký toàn thư về những trận thủy chiến lịch sử như trận Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, 981 của Lê Hoàn, năm 1288 của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là những nguồn sử liệu nổi tiếng để nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu về thủy quân học lịch sử. Ngoài ra còn phải kế đến những cuộc hành quân nổi tiếng của nhiều vị vua Đại Việt trong quá trình tiến về Phương Nam như Trần Anh Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Gia Long. Ngoài những nguồn sử liệu phong phú, với những kết quả mới trong khảo cổ học hải dương, ngành hải quân học lịch sử và nghiên cứu lịch sử ngành đóng thuyền ngày càng trở nên hấp dẫn. (xem thêm Li Tana 2002, Trần Đức Anh Sơn 2014).

Tuy nhiên, một khía cạnh còn bỏ ngỏ là việc mô tả, phục dựng các trận hải chiến lịch sử hầu như chưa được nghiên cứu từ góc độ binh pháp cổ Đông A. Ví dụ bài thơ "Quan duyệt thủy trận" Nguyễn Trãi có câu: "Muôn giáp khoe oai tỳ- hổ dữ, Nghìn thuyền bày trận quán- nga nhanh.", chúng ta phải biết hai thế trận quán- và nga là gì, cách thức bày trận ra sao, nó ảnh hưởng từ loại hình binh pháp nào của Đông A. Và trong một trận chiến cụ thể nào đó, cần phải giải đọc các trận chiến đó từ bối cảnh văn hóa và lịch sử của nó.

Cung cấp sử liệu cho văn hóa học hải dương (Marine Culturology)

Văn hóa học hải dương (hay còn gọi nghiên cứu văn hóa biển đảo) là chuyên ngành nghiên cứu các yếu tố văn hóa liên quan đến biển đảo và các vùng duyên hải. Các yếu tố văn hóa biển dĩ nhiên được coi như là một bộ phận của văn hóa của một cộng đồng cư dân hoặc một dân tộc cận duyên hải. Văn hóa học hải dương hiện đã và đang trở thành một chuyên ngành được các nhà khoa học trong nước và quốc tế quan tâm[16]. Văn hóa biển là tổng thể các yếu tố vật chất và phi vật thể được tạo nên trong quá trình tương tác giữa con người và biển đảo. Trong đó tính lịch sử của văn hóa biển được coi như là một mảnh đất đầy hứa hẹn cho khai thác sử liệu văn hiến Hán Nôm. Tính lịch sử của văn hóa biển sẽ làm nên truyền truyền thống văn hóa biển.

Nếu theo định nghĩa khái quát nhất về văn hóa, thì mọi yếu tố mang tính biển đều có thể coi là văn hóa biển. Song ở đây cần phân đình ranh giới giữa các ngành khoa học thông qua các hệ tiêu chí phân loại. Ví dụ, nếu nghiên cứu về văn hóa hải thuyền thì chúng ta cần đưa ra các yếu tố gì để phân biệt với nghiên cứu hải thuyền? Ở ngành thứ nhất, chúng ta quan tâm đến các hiện tượng kiêng kỵ, lối sống, phong tục, văn hóa của các ngư dân và thủy thủ cùng những hình vẽ biểu tượng trên tầu thuyền (ví dụ chim ích); Còn nghiên cứu hải thuyền thì quan tâm đến phương thức tạo tác, các xưởng chế tầu, số lượng, loại hình và chức năng của chúng,.

Về mặt cơ cấu, văn hóa học hải dương sẽ bao quát nhiều phạm vi khác nhau từ ẩm thực (cách chế biến hải sản), đến tín ngưỡng biển (qua các vị thần biển), văn học biển, nghệ thuật diễn xướng, các phong tục tập quán và nghi lễ liên quan đến biển. Ví dụ một đoạn như sau về ẩm thực trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: "Có loại ốc hương. Thịt các loại ốc này đều có thể ướp muối nấu ăn. Đồi mồi rất lớn, có loại ba ba biển tục gọi là con "trắng bông", giống đồi mồi mà nhỏ hơn, mai mỏng, có thể dùng trang trí (khảm) đồ vật, trứng to bằng ngón tay, có thể ướp muối để ăn. Có loại hải sâm, tục gọi là con "đột đột", bơi lội ở bên bãi biển, bắt được lấy vôi xát qua, bỏ ruột, phơi khô, khi ăn thì ngâm vào nước cua đồng rồi nạo qua cho sạch, ăn với tôm hoặc thịt heo thì càng ngon."[17] Một đoạn khác trong Vân đài loại ngữ về món rươi như sau: "Xét ra, thứ trùng ấy ở nước Nam ta gọi là thổ hà (tôm đất) tức là rươi. Nó sinh ở trong ruộng gần biển, cảm khí đất mà sinh ra. Khi nào có rươi tất mưa, kỳ hạn không sai. Hàng năm, cứ tháng 9 đôi mươi, tháng mười mồng năm, thì rươi ra nhiều, theo thủy triều lênh đênh trên mặt nước. Nhân dân địa phương làm sẵn đó, dặm, đem mà xúc, không biết bao nhiêu mà kể. Ngày 30 tháng 5, ngày 20 tháng 8 cũng có rươi, nhưng chỉ dài độ mấy tấc, không đến một thước, để mấy tháng không ươn. Ăn rươi, đem đun nước, làm lông qua, rồi nấu canh với măng tre. Khi có nhiều thì chượp muối làm mắm, đều ngon cả. Ở các vùng Phụng Hóa, Gia Viễn, Yên Mô, An Khang (thuộc Thanh Hóa), các huyện Vũ Tiên, Chân Đính, Nam Chân, Giao Thủy, Thanh Quan, Thụy Anh, Đông Quan (thuộc trấn Sơn Nam) đều thường năm đem rươi cống." [Lê Quý Đôn. tb2006: 461] Ngoài ra, có khá nhiều ghi chép tản mạn khác về các loại mắm, yến sào, các loại hải sản... Cho đến nay, văn hóa học hải dương được coi như là một ngành khoa học được quan tâm nhiều nhất và ít nhiều đã đạt được thành tựu đáng kể. Nhưng nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa, thì hầu như chưa có nghiên cứu nào về vấn đề thú vị này.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu tín ngưỡng hải dương (Marine Religious Belief Studies)

Nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến biển là một chuyên ngành khoa học thuộc văn hóa học hải dương. Song do vị trí đặc thù và rất quan trọng của nó, nên chúng tôi xếp thành một mục riêng. Chuyên ngành này ở Việt Nam đã được quan tâm từ nhiều chục năm nay với hàng trăm bài viết và hơn chục chuyên luận. Khởi phát ban đầu, tín ngưỡng hải dương được nghiên cứu qua các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian duyên hải, hay các công trình nghiên cứu về di dân và các ảnh hưởng của văn hóa Hoa kiều tại Việt Nam, tiêu biểu như nghiên cứu của Ngô Đức Thỉnh (2001), Trần Hồng Liên (2005a/b, 2007 a/b), Vũ Ngọc Khánh và Nguyễn Duy Hinh (2004), Trần Thị An (2012).

Tín ngưỡng hải dương đặt tổng hòa các yếu tố văn hóa tín ngưỡng (từ biểu tượng hải thần, đến nghi lễ, văn học lễ nghi, văn hóa diễn xướng,.) làm đối tượng nghiên cứu. Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về số lượng hải thần và các lễ hội tương ứng, song có thể chia làm nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu chí phân loại. Tiêu biểu như: Ngư Ông (ngư thần), Thiên Hậu (nhân thần), bà Lường (kết hợp tín ngưỡng biển với tín ngưỡng phồn thực thờ Lỗ Lường), Tứ vị Thánh Nương (nhân thần), Thiên Yana (kết hợp thần biển và thần của Champa), lính Hoàng Sa (chiến sĩ tử trận),.

Sử liệu, văn liệu Hán Nôm sẽ là một nguồn tư liệu khá quan trọng để tiến hành nghiên cứu lịch sử và diễn biến của các loại hình tín ngưỡng hải dương. Ví dụ trong bài Càn hải môn lữ thứ của hoàng đế Lê Thánh Tông có hai câu thơ: "Sóng cuồng tỉnh mộng Anh Tông, Ngôi đền Thánh Nữ vẫn nồng khói hương") Văn liệu này đề cập đến đền Thánh Nữ ở cửa Cờn (Nghệ An) là nơi thờ Tứ vị Thánh nương, bốn nữ thần biển. Tín ngưỡng này phổ biến trong các vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam - Đà Nẵng và còn được các sách Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Ô châu cận lục, Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Hải Nam linh dự tập, v.v... ghi lại. Nguyên chú trong bài thơ của Lê Thánh Tông ghi rằng: "Cửa biển Càn, thời Trần kiêng huý đổi là cửa biển Cần. Vua Trần Anh Tông đi nam chinh đóng quân ở đây, đêm mộng thấy một người con gái nói: "Thiếp là Triệu nữ nương tử, bị sóng gió làm chết đuối, vâng mệnh Thượng Đế làm hải thần ở đây đã lâu, nay nghe tin bệ hạ nam chinh, xin nguyện giúp đỡ thánh công”. Hôm sau nhà vua hỏi các bô lão, thì quả là có chuyện như vậy. Sau đó quân nhà vua vượt biển được sóng yên gió lặng. Khi thắng lợi trở về, nhà vua bèn xuống chiếu lập đền thờ, sai quan tới tế lễ. Nay trong Tự điển được phong Thượng đẳng thần, ngày càng linh ứng." Những ví dụ trên đây cho thấy một bối cảnh rộng lớn của tín ngưỡng hải dương ở thời Trung Đại. Nó không chỉ như là một thực thể văn hóa dân gian, mà những ghi chép trên còn cho thấy tự tác động và ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian đối với triều đình. Trong đó, các nguồn sử liệu Hán Nôm, được coi như là những tư liệu nguyên cấp, có tính đa trị để nghiên cứu về các loại hình tín ngưỡng hải dương nói riêng và văn hóa tín ngưỡng nói chung.

Cung cấp sử liệu, văn liệu cho nghiên cứu văn học biển (Marine Literature)

Văn học biển hay văn học hướng biển là một mảng nghiên cứu trước nay ít được đề cập đến ở Việt Nam do những điều kiện khách quan hoặc do quan niệm lục địa quá sâu đậm trong định hướng nghiên cứu lịch sử văn học. Văn học hướng biển, với số lượng tác phẩm mới sưu tầm, đây hẳn là một đề tài không thể không nhắc đến khi nghiên cứu văn học Trung đại Việt Nam, và nó đã trở thành một mảng quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu lịch sử văn học và lịch sử văn hóa. Trong bài viết "Văn học hướng biển: nhìn từ lý thuyết diễn ngôn" (2015, bản thảo), chúng tôi cho rằng: văn học hướng biển cùng với tư duy hướng biển là một xu hướng quan trọng trong lịch sử văn hóa Việt Nam, vốn được xây dựng từ "cơ tầng văn hóa biển" (Nguyễn Văn Kim 2011). Văn học hướng biển thể hiện nhiều diễn ngôn khác nhau, đó là diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn chính trị- đạo đức. "Với những phác thảo ban đầu, chúng tôi thấy, diễn ngôn Nho giáo chiếm một địa vị khá quan trọng, dường như nó trở thành bối cảnh tri thức, hệ thống quyền lực để xâu chuỗi các xu hướng khác nhau của diễn ngôn văn học."

Nghiên cứu văn học biển không chỉ lấy các tư liệu, văn liệu Hán Nôm làm bản vị mà còn lấy các tư liệu văn học dân gian (ca dao, hò, vè,.) làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu. Tuy nhiên, trong phạm vi tư liệu cho phép, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát văn liệu Hán Nôm viết về biển đảo. Bước đầu, chúng tôi đã sưu tầm được hơn 200 tác phẩm văn học, từ thế kỷ 8 đến đầu thế kỷ 20, với hàng chục tác gia nổi tiếng như Khương Công Phụ, Trần Thánh Tông, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Cao Bá Quát, Lý Văn Phức, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Nếu tiến hành khảo sát rộng hơn và sâu hơn, chắc chắn đây sẽ là một mảng đề tài quan trọng và thú vị.

Cung cấp sử liệu cho kinh tế học hải dương (Marine Economics)

Kinh tế học hải dương (thường được gọi là nghiên cứu kinh tế biển) là một ngành khoa học hết sức phát triển hiện nay ở Việt Nam và Thế giới. Đây là chuyên ngành có phạm vi rất rộng từ hải thương, ngư nghiệp, thuế biển cho đến du lịch, vận tải biển, khai thác hải sản khoáng sản, công nghiệp đóng tàu, dịch vụ hàng hải, công nghiệp năng lượng biển ... "Kinh tế biển là một loại hình vùng kinh tế mang tính tổng thể đa ngành nghề, đa lĩnh vực, hoạt động kinh tế diễn ra ở trên biển, ven biển và hải đảo, . gắn liền với khai thác các tiềm năng, tài nguyên biển, (trong đó có tiềm năng vị thế: địa- kinh tế, địa- chiến lược) và gắn với chủ quyền lãnh thổ quốc gia." [Nguyễn Bá Ninh 2012: 4]. Với phạm vi sử liệu Hán Nôm đề cập, kinh tế học hải dương sẽ bao gồm các chuyên ngành nhỏ hơn như chính sách thuế biển, hải thương học lịch sử, hải sản học lịch sử, hải thị học lịch sử... Vì tầm quan trọng và thành tựu đã đạt được, hải thương học lịch sử, và hải thị học lịch sử được tách riêng thành một mục riêng trong bài viết này.

Kinh tế học hải dương, từ góc độ lịch sử với các sử liệu Hán Nôm hữu quan, sẽ là ngành nghiên cứu rất thú vị và đầy triển vọng. Ví dụ một đoạn như sau trong Phủ biên tạp lục: "Mùa xuân năm Bính Thân [tức năm 1776], quan Kiêm Đốc suất là Đoan Quận Công sai thuộc tướng Cơ Trung Hầu trông coi việc đi lấy vàng. Viên tướng ấy triệu tập người để thiết lập đội Hoàng Sa, và thuê 65 người phu để đào đất lấy vàng, rồi đãi lọc và nấu vàng. Trong bốn tháng trời mà người ta chỉ thu được bốn lượng năm đồng cân vàng mà thôi. Vì số vàng tìm được không đủ trả tiền công và tiền ăn cho những người thợ và phu, nên công tác đi lấy vàng phải đình chỉ." sử liệu về nghề khai thác hải sản như mò ngọc trai, lấy tổ yến, nghề nước mắm, khai thác vàng. ngoài giá trị như những cứ liệu nghiên cứu cho kinh tế học hải dương còn có giá trị chứng minh cho LỊCH SỬ CHỦ QUYỀN của Việt Nam đối với Hoàng Sa- Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu khảo cổ học hải dương (Marine Archeology)

Khảo cổ học hải dương là một ngành khoa học tưởng như độc lập với sử liệu văn hiến. Khảo cổ học hải dương, xét về không gian môi trường, có thể phân làm hai chuyên ngành chính: khảo cổ học dưới nước và khảo cổ học trên bờ (duyên hải và châu đảo). Nhưng trên thực tế, sử liệu văn hiến và sử liệu văn vật (hiện vật khảo cổ học) được coi như là hai chân kiềng quan trọng của nghiên cứu lịch sử. Sử liệu hiện vật tuy là các loại sử liệu câm, song bản thân nó vẫn chứa đựng những diễn ngôn lịch sử mà không phải sử liệu văn hiến nào cũng có được. Ngược lại, sử liệu văn hiến lại được coi như là nguồn tư liệu chỉ dẫn định hướng để nghiên cứu khảo cổ học hải dương.

Ví dụ một trường hợp tiêu biểu, giới nghiên cứu lịch sử trước nay đều biết đến thương cảng Vân Đồn được ghi nhận trong Đại việt sử ký toàn thư, Đông Khánh dư địa chí,, Đại Việt địa dư toàn biên,... Các nhà khảo cổ học đã tiến hành nghiên cứu khảo cổ đảo này từ những năm 1960. Từ việc kết hợp hai nguồn sử liệu đó, tác giả Đỗ Văn Ninh đã xuất bản cuốn "Thương cảng Vân Đồn" (Nxb Thanh Niên, 2004). Nhóm Nguyễn Văn Kim gần đây còn kết hợp thêm với các nguồn sử liệu Trung Hoa và sử liệu Phương Tây, đã công bố cuốn "Vân Đồn - Thương cảng quốc tế của Việt Nam" (Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2014). Từ những năm 1990 đến nay, khảo cổ học hải dương đã đạt được một số kết quả bước đầu, tuy khiêm tốn, nhưng đã góp phần làm phát lộ nhiều vấn đề thú vị. Quá trình/ kết quả trục vớt tàu đắm tại Sa huỳnh, Cù Lam Chàm, Vũng Tàu,. và việc tìm thấy nhiều hiện vật của người Việt (ví dụ như tiền đồng thời Minh Mạng, Tự Đức) tại một số đảo như Nam Yết, Song Tử Tây, thuộc Hoàng Sa- Trường Sa cho thấy những ghi chép trong Đại Nam thực lục là hoàn toàn chính xác, góp phần đưa ra một hệ thống cứ liệu khả tín, xác đáng về quá trình chiếm hữu, thực thi chủ quyền và chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu nhân học hải dương (Maritime Anthropology)

Nhân học hải dương là ngành khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa các cộng đồng dân cư, cộng đồng dân tộc với môi trường hải dương. Các khảo sát được thực hiện trên nhiều bình diện khác nhau từ lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội, các ngành nghề liên quan đến biển,... Ở nội hàm như vậy, đối tượng của nhân học hải dương sẽ bao quát gần như tất cả các chuyên ngành khác liên quan đến hải dương, nhưng điểm khác biệt là chuyên ngành này lấy con người, lấy các cộng đồng làm đối tượng trung tâm, còn những cạnh khía khác chỉ nằm ở phạm vi hữu quan, hoặc ngoại biên. Phương pháp luận của nhân học hải dương được hình thành từ mối quan tâm đến khả năng thích nghi, ứng phó, khả năng tương tác, tận dụng, khai thác với môi trường duyên hải, môi trường hải dương. Nó quan tâm đến cả các chính sách quản lý hải thương, chính sách thuế, chính sách quân sự, chính sách khai thác và quản lý tài nguyên biển, và các loại hình hoạt động liên quan đến đời sống của con người trong môi trường hải dương.

Các sử liệu Hán Nôm là một nguồn quan trọng cung cấp những góc nhìn lịch sử về con người Việt Nam (hoặc rộng hơn là các cộng đồng dân tộc sinh trú duyên hải) trong quá trình lấn biển, khai thác biển. Ví dụ văn bia khắc in năm 1495 thời Lê Sơ có ghi Sắc lệnh cho xứ Bản Động, xã Phong Lưu, huyện Yên Hưng, phủ Hải Đông, đạo An Bang về việc lấn biển làm ruộng [Phong Lưu 1495; Phạm Thùy Vinh 2014: 296-299], hoặc văn bia ghi việc đắp đê hai xã Yên Mô và Yên Định huyện Yên Mô năm 1472, 1475 [Phạm Thùy Vinh 2014: 144-147]. Hay một tư liệu nữa: "Năm thứ 6 niên hiệu Cảnh Trị, năm Mậu Thân [1668], chúa Nguyễn [Phúc Tần] cho khơi cảng Lệ Thủy để tiện việc vận chuyển. Bấy giờ đường thủy mới lưu thông, không còn bị nạn đất cát lấp nghẽn cảng như trước nữa." [Lê Quý Đôn 1776 Phủ biên Q1: 32a/ tb.1972 T1: 91]. Các sử liệu trên đã gợi mở nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về nhân học hải dương, quá trình khai hoang lấn biển không chỉ có từ thời Nguyễn Công Trứ mà đã xuất hiện (ít nhất) là từ thời Lê. Nghiên cứu hệ thống đê biển, các chính sách khai hoang của các triều đại là một vấn đề lý thú. Và không nghi ngờ gì rằng, ngoài việc bồi đắp tự nhiên của lưu lượng phù sa sông, thì quá trình quai đê lấn biển của con người cũng chính là một nhân tố quan trọng để thay đổi địa hình, địa mạo của đông bằng sông Hồng và các vùng cửa biển ở Bắc Bộ trong quãng ít nhất 500 năm trở lại đây[18]. Ngoài ra, các thương cảng, hải thị cắm chốt ở các cửa biển và hải đảo như Domea (Hải Phòng), Vân Đồn (Quảng Ninh), Lạch Trường (Nam Định), Thi Nại (Bình Định) đã trở thành một hệ thống "tiền đồn thương mại" để người Việt, người Chăm hòa vào mạng lưới hải thương quốc tế rộng lớn trong lịch sử.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu hải trình học lịch sử (Sea Route Studies)

Hải trình học lịch sử là một phân môn của khoa nghiên cứu về lịch sử giao thông đường thủy, cùng với lịch sử giao thông đường sông. Nếu nghiên cứu lịch sử giao thông đường bộ (ví dụ như nghiên cứu về hệ thống đường thượng đạo) là một góc nhìn giao thông từ núi về lịch sử Việt Nam [Nguyễn Mạnh Tiến 2014; Phạm Lê Huy ], thì nghiên cứu lịch sử giao thông đường biển (tức hải trình học lịch sử) là góc nhìn giao thông từ biển góp phần soi sáng một mảng miếng vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Với những nghiên cứu gần đây, tiêu biểu như Li Tanna (1996), nhóm Nghiên cứu Thương mại Châu A (2006-2014), hải trình học hẳn nhiên đã đóng một vị trí tối quan trọng để tạo nên hai xu hướng lịch sử then chốt trong tiến trình lịch sử Việt Nam: thứ nhất hải trình duyên hải là con đường Nam tiến của người Việt trong suốt ngàn năm lịch sử để tạo nên một dải bờ biển 3200 km như ngày nay; thứ hai là hải trình khu vực (với mạng lưới bản đồ được thiết lập) để Việt Nam trong lịch sử hòa vào dòng chảy hải thương thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa. Tuy nhiên, trong khi, mạng lưới bản đồ hải trình quốc tế đã được xác lập bởi nhiều học giả quốc tế, thì mạng lưới hải trình nội địa lại chưa được quan tâm một cách đúng mức theo góc nhìn đoạn đại và lịch đại.

Trong khi đó nguồn sử liệu Hán Nôm góp phần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tương đối toàn diện về lịch sử, diễn biến của các loại hình cảng thị, cũng như sự phát triển của hệ thống hải trình nội địa của Việt Nam, cũng như hải trình khu vực- quốc tế trong lịch sử. Ví dụ, tập Chinh Tây kỷ hành (nhật ký đánh Chiêm) của hoàng đế Lê Thánh Tông ghi chép khá tỉ mỉ lộ trình Nam chinh, từ thời gian khởi hành đến thời điểm cập bến của tất cả các chặng chốt, các cửa biển, các tên cửa biển vào thế kỷ XV. Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch ghi chép nhiều cửa biển từ Nghệ An vào đến Huế. Xiêm La quốc lộ trình tập lục ghi các tuyến đường biển đi từ miền Tây Nam Bộ sang Xiêm La (Thái Lan). Những nguồn tư liệu như vậy không phải là hiếm trong nguồn sử liệu Hán Nôm phong phú. Song, vấn đề thú vị này cần được triển khai trong thời gian tới.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu chính sách an ninh biển (Maritime Security policy Studies)

An ninh biển luôn là một vấn đề liên quan đến sự tồn tại/ sống còn của một thể chế biển, dù thể chế đó là một quốc gia duyên hải, hay một quốc gia biển, và cả đế chế biển. Để giữ được tình hình an ninh duyên hải cũng như ngoài biển, các triều đại Việt Nam trong lịch sử luôn thực thi các chính sách an ninh để củng cố sự cai trị của mình không chỉ trên lục địa mà cả phía hải dương. Các chính sách đó có thể liên quan đến lực lượng hải quân, và các chính sách kinh tế- văn hóa hữu quan. An ninh biển là vấn đề được đặt ra ở mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi thể chế. Nghiên cứu chính sách an ninh biển cũng như hệ thống phòng thủ biển, lực lượng hải quân, lực lượng đồn bốt cửa biển (tấn bảo). nói chung sẽ góp phần dựng nên một bức tranh tương đối bao quát về lịch sử an ninh.

Các nguồn sử liệu Hán Nôm tuy được ghi chép tản mạn ở nhiều nguồn khác nhau, song cũng cho thấy ít nhiều chính sách an ninh biển của các triều đại Việt Nam trong lịch sử. Trong giai đoạn Bắc thuộc, nhà Đương từng đặt chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ ở Việt Nam. Sau đó khi giành được độc lập, một số nhân vật lịch sử quan trọng của thế kỷ X như Ngô Quyền, Đinh Liễn từng tự nhận hoặc được sách phong chức này. Đến thời Trần, qua văn bia tháp Hiển Diệu (1367), Cung Tĩnh Đại Vương Trần Nguyên Trác còn cho biết ông đang giữ chức Sứ trì tiết Nghệ An Phủ lộ Đại An Hải Môn trấn chư quân sự. Đến thời Lê Trung hưng, cuộc chiến tranh Nam Bắc Trịnh Nguyễn, cũng có một số ghi chép khá thú vị. Tiêu biểu như đoạn sử liệu sau đây: "Thụy Quận công Nguyễn Phúc Nguyên chống lại mệnh lệnh triều đình, mới cho xây đắp một lũy thật dài. Lũy ấy, phía trên chạy dài từ núi Động Hồi, xuống tận cửa bể Nhật Lệ. Lũy cao một trượng [1 trượng là 10 thước] 5 thước, chân lũy rộng đến 5 trượng. Bên ngoài lũy, người ta cho trồng các hạng cây củi và gỗ lim rừng, bên trong lũy, đắp đất làm năm bậc thang lầu. Voi và ngựa có thể đi suốt trên lũy được. Lũy đất liên lạc với nhau thật dài và rộng ước hơn 30 dặm. Cứ cách khoảng hoặc 3 hoặc 5 trượng, người ta lại thiết lập 1 pháo đài. Trên mỗi pháo đài, được đặt 1 khẩu súng cự môn. Ngoài ra, cứ mỗi một trượng, người ta lại trồng một khẩu cột súng để kèm súng vào đó. Còn các hạng đạn dược thì chất chứa cao như núi. Tại cửa biển Nhật Lệ cùng cửa biển Minh Linh, lưới sắt và sắt đều được bố trí chằng chịt với nhau để chặn ngang cửa biển. Phúc Nguyên tự lấy đây làm chốn kim thành thang trì và con cháu nghìn muôn đời về sau có thể được yên ổn. Một ngày nọ, quân của Vương thượng đi đánh phương Nam, quân lính họ Nguyễn phân tán không đánh, lũy bỏ ngỏ không có người canh giữ. Thừa thắng quân của Vương thượng hăng hái, chỉ một trống canh đã đi đường tắt vào được kinh thành Phú Xuân." [Lê Quý Đôn 1776 Phủ biên Q2 : 61a-61b/ tb.1972 T1: 164]. Đến thời Nguyễn, với hệ thống sử liệu phong phú trong các bộ sử quan phương như Đại Nam nhât thông chí, Đại Nam thực lục,... các chính sách an ninh biển của triều Nguyễn được ghi chép khá chi tiết, điều này đã được thể hiện trong cụm công trình in trong sách Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo tổ quốc thế kỷ XIX" (Đỗ Bang chủ biên. Nxb. Đà Nằng. Đà Nẵng, 2014). Đây là những thành quả bước đầu của ngành này.

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu bản đô học lịch sử

Bản đồ học lịch sử là một chuyên ngành nghiên cứu lịch sử bản đồ và các phương thức quan trắc, trắc đạc, trắc địa, đồ họa các tác phẩm bản đồ cổ trong lịch sử. Bản đồ học lịch sử thuộc phạm vi phân môn của khoa học đo đạc và bản đồ.

Những nguồn sử liệu Hán Nôm cho thấy, ít nhất từ thế kỷ XI- XII, nhà Lý đã tiến hành cho vẽ bản đồ núi sông. Thực tế, đó là điều hoàn toàn có thể xảy ra, bởi bản đồ học và khoa vẽ bản đồ có ý nghĩa và chức năng rất quan trọng đối với mọi thể chế nhà nước. bản đồ được dùng để quản lý hành chính đất nước, để xác lập hệ thống phòng thủ cả ở biên giới đất liền và các cửa ngõ ngoài biển (hải khẩu và hải đảo). Bản đồ được dùng để phục vụ cho chế độ quản lý các nước phụ thuộc, với chính sách ki mi truyền thống. Trong đó, "cống bản đồ" được coi như là một định chế bắt buộc đối với tất cả các nước phiên dậu. Như vậy, khoa bản đồ học là một khoa học cơ bản và then chốt, đối với việc quản lý, phòng thủ, thậm chí đối với cả việc bành trướng/ mở rộng lãnh thổ. Bản đồ không chỉ được dùng trong phạm vi chính trị- quân sự mà còn trở thành một tri thức nền tảng đối với mọi cộng đồng dân cư trong quá trình giao lưu văn hóa, tiếp xúc văn hóa.

Thường thì ngành bản đồ học lịch sử hay bị nhập vào phạm vi của địa lý học lịch sử. Nhưng cần thiết phải phân biệt ranh giới giữa hai ngành này. Nếu như địa lý học lịch sử nghiên cứu về diên cách (thay đổi, và sự bất biến) về địa danh hành chính theo chiều lịch đại, thì bản đồ học lịch sử nghiên cứu về các cơ sở khoa học, các phương pháp quan trắc đo đạc, các tiêu chuẩn, các kỹ thuật và quy trình đồ họa bản đồ (vẽ và in) cũng như lịch sử của ngành này. Như thế, xét ở khía cạnh vật chất, bản đồ học lịch sử có mối quan hệ mật thiết với văn bản học, thư tịch học, mộc bản học,. Còn nếu xét ở phương diện khoa học, thì ngành bản đồ học lịch sử (ở Việt Nam) lại liên quan mật thiết đến một số ngành khoa học như: chiêm tinh học, thiên văn học, thủy văn học,.

Học giả Trần Văn Giáp là người đầu tiên giới thiệu các bản đồ cổ Việt Nam qua công trình "Tìm hiểu kho sách Hán Nôm" (1977) với 4 cuốn địa đồ. Năm 1990, PGS Trần Nghĩa công bố bài "Bản đồ cổ Việt Nam" (Tạp chí Hán Nôm, số 2 (9)/1990, tr.3-10), ông thống kê được 49 văn bản[19], trong đó tác giả còn tiến hành nghiên cứu về loại hình bản đồ với các hệ tiêu chí phân loại. Ví dụ, theo tiêu chí phạm vi thông tin, có: (1) bản đồ khu vực, (2) bản đồ toàn quốc, (3) bản đồ địa phương; theo đối tượng chức năng thì có: (1) bản đồ hình thế dùng cho quản lý hành chính; bản đồ giao thông (chú trọng ghi các tuyến đường, các trạm, độ dài, lộ trình,.); (3) bản đồ các hải cảng (như Bản đô các hải cảng), (4) bản đồ du lãm (như Thiên Nam tứ chí lộ đô thư); (5) bản đồ đi sứ (như Hoàng Hoa đồ phả, Yên Thiên nhật trình,.). Trong đó, tác giả Trần Nghĩa đề cập đến các khái niệm tinh dã, phong thủy của thiên văn học- địa lý học phương Đông.

Kể từ sau Trần Nghĩa, cũng có một số nghiên cứu khác về bản đồ như Ngô Đức Thọ, Trần Đại Vinh (2014), Phạm Hoàng Quân (2013),. và cuốn sách của Viện Hán Nôm (2014). Song những thành quả của những ngành này còn khá hạn chế so với nhu cầu nóng bỏng hiện nay!

Cung cấp sử liệu cho hải thị học (đô thị biển)

Hải thị học lịch sử là chuyên ngành thuộc phân môn của đô thị học lịch sử. Chuyên ngành này lấy các đô thị ven biển trong lịch sử làm đối tượng nghiên cứu. Trong đó, các yếu tố của kinh tế biển- văn hóa biển với những vấn đề địa chính trị- địa kinh tế- địa sinh thái được coi là trọng tâm nghiên cứu. Hải thị/ hải cảng/ cảng thị đương niên có mối quan hệ mật thiết với các loại hình đô thị khác trong một khu vực địa lý nhất định như đô thị ven sông, đô thị đất liền. Với tư cách là một vị trí tiền tuyến của một hệ thống cảng thị/ hệ thống thương mại, các đơn nguyên hải thị luôn có mối quan hệ hữu cơ với các hải thị khác và các cảng thị ven sông khác trong một khu vực địa- sinh thái, địa nhân văn của một quốc gia, hoặc nếu ở tầm mức lơn hơn, các hải thị đó còn có mối quan hệ với các hải thị ở các quốc gia khác trong khu vực và thế giới.

Sự kết hợp giữa sử liệu Hán Nôm, sử liệu phương Tây và sử liệu khảo cổ học trong vài chục năm qua đã tạo nên những nhận thức mới về hải thị học ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu đã chú ý đến Domea (Hải Phòng) như cửa ngõ vào kinh đô Thăng Long (Maybon, Nguyễn Quang Ngọc 1990/2000, Nguyễn Văn Kim 2007, Hoàng Anh Tuấn 2007, Vũ Đường Luân 2008), cửa Hội Thống- phức hệ cảng bến ở Nghệ- Tĩnh, Hội An- hải thị quốc tế nối liền Đàng Trong với mạng lưới hải thương quốc tế (Nguyễn Văn Kim 1993), Thị Nại- trung tâm buôn bán hàng đầu của Champa và sau đó của Đàng Trong và nhà Nguyễn,...

Cung cấp sử liệu cho nghiên cứu sinh thái học hải dương (Marine Ecology)

Sinh thái học hải dương là một phân môn khoa học nghiên cứu về các hệ vấn đề thuộc sinh thái biển như các loại hình môi trường biển (rừng ngập mặn, đáy biển, đầm phá, ), hệ thực vật, hệ động vật, quần xã sinh vật và những tác động của con người đối với hệ sinh thái nói chung [Lê Đình Thành [Lê Đức Tố 2010]. Từ góc nhìn lịch sử, sinh thái học hải dương sẽ có những đóng góp nhất định về sự biến đổi môi trường đối với các hệ sinh thái biển. Chuyên ngành này thuộc phạm vi lịch sử sinh thái, và đồng thời là một phân môn của khoa học lịch sử.

Từ góc độ diễn ngôn, một nguồn sử liệu sẽ chứa đựng nhiều thông tin lịch sử khác nhau, ví dụ như đoạn dưới đây trong sách Xiêm La quốc lộ trình tập lục: "Ngã ba Long Xuyên: (1) một nhánh theo hướng Nam, sông dài uốn lượn, hai bên là rừng cây và dừa nước, ăn thông đến cửa biển Gành Hàu; (2) một nhánh theo hướng Đông Bắc, sông dài uốn lượn, hai bên là dừa nước, thủy trình 1 ngày đến Trại Cá n □, hai bên bờ cư dân làm nghề cá." [Tống Phước Ngoạn 1810/ tb2013: 56, 71]. Hoặc một đoạn khác: "Đạo Long Xuyên có quan Mục thủ, chứa nhiều lúa gạo, dân cư phố chợ sung túc, dân chuyên làm các nghề lấy mật, sáp ong, dệt chiếu bông, lông chim, cá khô, tôm khô, vùng này có nhiều muỗi, đỉa, cá, rắn mật (?), ác ngư." [Tống Phước Ngoạn 1810/ tb2013: 56, 71]. Một đoạn khác trong Vân đài loại ngữ ghi về sản vật đồi mồi như sau: "Đại mội (đồi mồi) xuất sản ở Quảng Yên, con to không quá năm tiền, hình nó như con rùa con giải, lưng nó có 12 thếp lá, người địa phương nuôi nó, cho nó ăn cua hay cơm. Khi lấy mai dùng, bắt nó treo ngược lên phết dấm vào, vẩy nó theo tay và rụng xuống từng phiến một. Nếu vẩy nó nhiều sắc vàng ít sắc đen thì quý, dùng làm đai áo chầu, phiến nào có những điểm hình người hay hình núi là đẹp. Còn thì làm chén làm khay, làm quạt, làm hộp, làm lược... Thiên Vương hội sách Chu thư viết: 'Y Doãn tâu vua Thang xin đem lâu mại đến dâng', là thứ này. Vậy việc dùng đồi mồi đã có từ lâu.'" [Lê Quý Đôn. tb2006: 464]. Những ghi chép như trên là rất thú vị , cho biết các nguồn thông tin về sinh vật, môi trường cũng như sự tương tác giữa con người với các sinh vật sinh thái biển.

Kết luận: Như trên đã phân tích, nguồn tư liệu Hán Nôm là một trong bốn nguồn sử liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu về Đông Hải học nói riêng và lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung. Hơn 3000 trang tư liệu hiện có chắc chắn là kho tư liệu đồ sộ nhất, có hệ thống nhất, mà giới nghiên cứu có được để tiến hành nghiên cứu Đông Hải học. Đông Hải học, với tư cách là một khoa học chuyên ngành mới mẻ, là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của Việt Nam học. Với 16 chuyên ngành như đã trình bày, việc nghiên cứu Đông Hải học cần phải có những chiến lược dài hơi và có hệ thống, từ việc đào tạo cán bộ khoa học (từ các cấp thạc sĩ, tiến sĩ,...) cho đến triển khai các hệ đề tài cụ thể để phục vụ cho công tác bảo vệ chủ quyền biền đảo nói riêng và chiến lược biển nói chung. Sự hoạch định chính sách vĩ mô về phương diện khoa học cần những chủ trương nhất quán và lộ trình hợp lý để Việt Nam trong tương lai trở thành một quốc gia biển, hoặc cao hơn xa hơn, trở thành một cường quốc biển.

Thư mục tài liệu tham khảo

Trần Thị An. 2012. Hiển thần và tăng quyền-một khảo sát về tục thờ nữ thần biển ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ/Turning into Goddess and Empowerment - a survey on the tradition of worshipping sea goddess in the North and Northern Central of Vietnam. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế). Số 8-9/2012. Tr.122-145.

Đào Duy Anh 1964/ tb1997. Đât nước Việt Nam qua các đời: Nghiên cứu địa lý học lịch sử Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa - Huế,.

Đỗ Bá Công Đạo. 1741. Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đô thưBiên hiệu:

Paris.SA.HM.2241. X-2- 24 (Đông Dương văn khố). Trong "Hồng Đức bản đồ" thư viện Đại học Hiroshima (Nhật Bản), mã số'98846. Tb. 1962. "Hồng Đức bản đồ" Trương Bửu Lâm giới thiệu. Bửu Cầm & Đỗ Văn Anh & Phạm Huy Thúy & Tạ Quang Phát dịch. Viện Khảo cổ Sài gòn. Tb. 2014. Trần Đại Vinh & Trần Viết Ngạc khảo chú & bổ dịch. Trong Tạp chí Nghiên cứu & Phát triển Huế, số 2 (109)/2014. Tr.16-87.

Bộ Ngoại giao - Ủy ban Biên giới Quốc gia. 2013, Tuyển tập các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Tri thức, Hà Nội. trang 94-100.

Huệ Chi. 1994. Trương Hán Siêu: người khắc tạc trận thủy chiến Bạch Đằng. Tạp chí Văn học số 4/1994. 2010. Tb1. Trong "Gương mặt văn học Thăng Long bộ mới, Nxb Hà Nội. H. tr. 643­664; tb2. 2013. Trong "Văn học cổ cận đại Việt Nam: từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật". Nxb Giáo dục Việt Nam. H. Tr.407- 426.

Cristophoro Bori (1583 - 1632) . 1621. Xứ Đàng Trong năm 1621. Hồng Nhuệ- Nguyễn Khắc Xuyên & Nguyễn Nghị dịch chú. Nxb Tổng hợp Tp HCM.

Kenneth R. Hall. 1985. Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, University of Hawaii Press, Honolulu, pp.169-193.

Trịnh Khắc Mạnh. 2012. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học câp bộ “Thư mục Hán Nôm về biển đảo Việt Nam". (chưa xuất bản)

Momoki Shiro: Đại Việt và thương mại Biển Đông từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. Tham luận trình bày tại Hội thảo lần thứ XIII của Hiệp hội Quốc tế các Nhà sử học châu Á, Đại học Sophia, Tokyo, 1994. In trong: Crossroads: An Interdisciplinary Journal of Southeast Asian Studies, Illinos University, 1998. Xem: Trường ĐH KHXH & NV, ĐHQG HN: Đông Á - Đông Nam Á: Những vấn đề lịch sử và hiện tại, Nxb. Thế Giới, H., 2004

Trần Nghĩa. 1990. Bản đô cổ Việt Nam. Hội thảo "Lịch sử bản đồ Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 500 tập Bản đồ Hồng Đức". Hội Trắc địa- Bản đồ- Viễn thám Việt Nam. tr.148- 159. tb.1990. Tạp chí Hán Nôm, số 2 (9)/1990. Tr.3-10. Tb. 2014. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Huế, số 2 (109)/2014. Tr.7-15.

Tống Phước Ngoạn        & Dương Văn Châu       . 1810. Xiêm La quốc lộ trình tập lục

. tb.1966. Trần Kinh Hòa ín khảo cứu& hiệu điểm. Trong "Collected Records of Itineraries to Siam - Historical Material Series No.2- Southest Asia Studies Section- New Asia Research Institute- The Chinese University of Hongkong. Hongkong. P.25-88 Tb. tb2013. Phạm Hoàng Quân dịch và khảo chú. Tc Nghiên cứu và Phát triển- số 8 (106)/2013. Huế. p.3-80.

Nguyễn Bá Ninh. 2012. Kinh tế biển ở các tỉnh Nam Trung Bộ Việt Nam trong hội nhập quốc tế. LATS Kinh tế. Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. 179 trang. Mã kho: LA12.0739.3 (Thư viện Quốc gia Việt Nam)

Trần Đức Anh Sơn. 2014. Ngành đóng thuyền và tàu thuyền ở Việt Nam thời Nguyễn. Nxb Văn hóa - Văn nghệ. Tp. HCM.

Hà Văn Tấn. 2008. Một số vẩn đề lý luận sử học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. H.

Phan Thị Yến Tuyết. 2008. Nghiên cứu văn hóa biển Nam Bộ: tiếp cận nhân học và văn hóa dân gian. Trong "Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ". Nxb Từ điển Bách khoa. Hà Nội. Tr.451-467.

Trần Ngọc Thêm 1996/ tb2004: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam (tái bản lần 4). - NXB Tp.HCM.

Trần Ngọc Thêm. 2012. Văn hóa biển đảo và văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa (Cái nhìn Nha Trang 2011). Ngày post: Thứ 3, 27 Tháng 3 2012 21:33. Nguồn: http://vanhoahoc.edu.vn/

Nguyễn Văn Thích 2010: Miếu bà Lường - hang Lỗ Lường và tục thờ cúng Lỗ Lường của ngư dân lưới đăng sở đâm Hòn Đỏ (Ninh Hòa). - In trong: "Văn nghệ dân gian Khánh Hòa tuyển tập 2005-2010". - Nha Trang: Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa.

Nguyễn Ngọc Thơ & Trịnh Xuân Tuyết. 2015. Tín ngưỡng Thiên Hậu ở Nam Bộ- Hiện trạng và đặc trưng. Trong "Di sản văn hóa trong xã hội Việt Nam đương đại". Editor: Lê Hồng Lý & Nguyễn thị Phương Châm. Harvard- Yenching tài trợ. Nxb Tri Thức. H. tr.273-.

Lê Đức Tố. 2010. Hải dương học biển Đông. Nxb Đại học Quốc gia. H.

Nhiều tác giả. Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thếkỉ XVI-XVII, (Viết chung). Nxb. Thế Giới, H., 2007.

(IkM Bắc Ngụy)®^^ Lịch Đạo Nguyên (470- 527)o «7KÌMíì^)) (Thủy kinh chú sớ)o^ Dương Thủ Kính &          Hùng Hội Trinh viết lời, Đoàn Hi Trọng hiệu đính

Trần Kiều Phục phúc; Giang Tô cổ tịch xuất bản Xão Nam Kinho 1999.

Olga Dror and K.W. Taylor, editors and annotators. 2006. Views of seventeenth-century Vietnam : Christoforo Borri on Cochinchina & Samuel Baron on Tonkin / Ithaca, N.Y. : Southeast Asia Program Publications, Southeast Asia Program, Cornell University.

Từ Đặng Minh Thu. 1998. Chủ quyền trên hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc. Tham luận đọc tại Hội Thảo Hè "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông" tại New York City, ngày 15-16 tháng 8, 1998. Tb2007.Tạp chí Thời Đại mới, Số 11 - Tháng 7/2007. Tb2014. "" . Nxb Trẻ. TP. HCM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014.

Trần Đại Vinh, "Góp ý bổ cứu cho công trình "Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông", tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3-4 (110-111). 2014, tr. 116-126.

Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang & Nguyễn Mạnh Hùng. 1983./ tb.2013 Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm. Nxb Quân đội Nhân dân.

Nguyễn Đăng Vũ. 2002. "Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa" [Customary ceremony of replacing a former soldier with a new recruit]". Tạp Chí Nghiên Cứu Đông Nam Á, số 5/2002.

John K. Whitmore: The Rise of the Coast: Trade, State and Culture in Early Đại Việt, Journal of Southeast Asian Studies, 37 (1), February 2006, pp.103

 


[1]   Xin lưu ý bài viết hoàn toàn mang ý kiến cá nhân, để cùng nhau thảo luận. Không phải mọi ý kiến trong bài này đều mang tính quan phương, mà chỉ là những nguyện vọng của một người mới bắt đầu tìm hiểu vấn đề, khi bắt đầu làm nhiệm vụ.

[2]   Các đề án về biển khác từng được triển khai từ 1977- nay chủ yếu là các đề tài thuộc phạm vi của khoa học tự nhiên, thuộc Chương trình Điều tra nghiên cứu biển cấp Nhà nước, như Chương trình KC.09/11 -15, Các chương trình này do các Bộ khác quản lý như Chương trình nghiên cứu biển của Tổng cục Khí tượng Thủy văn trước đây, Chương trình Biên Đông thuộc Bộ Ngoại giao và hiện nay là Đề án 47 về biển do Bộ Tài nguyên và Môi trường trực tiếp quản lý. Bao gồm: - Chương trình Điều tra tổng hợp vùng biển ven bờ Thuận Hải- Minh Hải giai đoạn 1977-1980.

Chương trình Điều tra tổng hợp biển và thềm lục địa Việt Nam, giai đoạn 1981-1985. Mã số 48.06.

Chương trình Điều tra Nghiên cứu tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và một số vấn đề kinh tế xã hội biển phục vụ phát triển kinh tế biển, giai đoạn 1986-1990. Mã số 48B.

Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước về Điều tra nghiên cứu biển, giai đoạn 1991-1995. Mã số KT 03.

Chương trình Điều tra nghiên cứu biển, giai đoạn 1996-2000. Mã số KHCN 06.

Chương trình Điều tra cơ bản và Nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển, giai đoạn 2001-2005. Mã số KC.09.

Chương trình Khoa học và Công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội, giai đoạn 2006-2010. Mã số KC.09/06-10.

Chương trình Nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ phát triển quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển, giai đoạn 2011-2015. Mã số KC.09/11-15.

(Nguồn: Hướng tới thống nhât xây dựng nội dung điều tra nghiên cứu biển trong hệ thống các Chương trình Điều tra Nghiên cứu biển Việt Nam, BCN KC.09/11-15; chuyển dẫn : http://ttbiendao.hcmussh.edu.vn/?ArticleId=c12e1f0d-7cf7-4046- 8d25-c115933a3de7; ngày hạ tải: 10/08/2016).

1 Chủ yếu qua Thư mục nghiên cứu Biển Đông (sơ giản), do tôi thực hiện. (tài liệu chưa công bố).

[3] Riêng vấn đề so sánh này cần phải được nêu chi tiết hơn trong một bài khác.

[4]  Lần đầu tiên ranh giới Bắc- Nam, Ta- Ngụy được xóa bỏ trong một nghiên cứu khoa học?

[5]  Sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa- Trường Sa, được công bố các năm 1979, 1981, 1988. [Nguyen Hong Thao. 2012. Vietnam's Position on the Sovereignty over the Paracels & Spratlys: Its Maritime Claims. Journal of East Asia and International Law, 5(1). Pp.165-211; banr dichj Tr.23. nghiencuuquocte.net]

[6] Phan Thị Yến Tuyết. 2012. Đời sông xã hội- kinh tế văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ. Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

[7]  Trần Thị An. 2012. Hiển than và tăng quyền-một khảo sát về tục thờ nữ than biển ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ/ Turning into Goddess and Empowerment - a survey on the tradition of worshipping sea goddess in the North and Northern Central of Vietnam. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế). Số 8-9/2012. Tr.122-145.

[8] Nhiều tác giả. Việt Nam trong hệ thông thương mại châu Á thếkỉ XVI-XVII, (Viết chung). Nxb. Thế Giới, H., 2007.

[9]  Việc xác quyết tiêu chí này cũng sẽ còn phải tiếp tục thảo luận. Ví dụ, "sử học" chắc chắn là một thuật ngữ ai cũng đã công nhận. Nhưng, tạp chí khoa học chuyên ngành nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học thì lại lấy tên là "Nghiên cứu lịch sử". Một sự bất nhất đã nằm ngay trong các cơ quan nghiên cứu. Tương tự như vậy, Viện Văn học có "Tạp chí Nghiên cứu văn học". Ngược lại, Viện Ngôn ngữ học lại có "Tạp chí Ngôn ngữ" (rơi mất chữ học)...

[10] Có 10 quốc gia có lãnh thổ tại biển Đông: Trung Quốc, Đài Loan, Phillippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thailand, Campuchia, và Việt Nam.

[11] Robert Jennings: The acquisition of territory in international law (New York, 1963), chuyển dẫn Charles de Visscher chú thích 2. [theo Từ Đặng Minh Thu 1997/ tb.2014].

[12] Trảo Oa: tức đảo Java, (Inđônêxia). Cương mục chép là Qua Oa (CMCB4,33a), cũng tức là Java, theo cách phiên âm thường dùng trong Nguyên sử và Minh sử.

[13]  Lộ Lạc: Thời Trần, có thuyền buôn Lộ Hạc đến Vân Đồn. Có lẽ Lộ Lạc chính là Lộ Hạc. Dựa vào âm đọc, có thể cho rằng Lộ Hạc là nước La Hộc được nhắc đến trong thư tịch Trung Quốc thời Nguyên-Minh (xem thêm chú thích về Xiêm la ở dưới). La Hộc là quốc gia Lavo ở Lopburi, Thái Lan. Lộ Hạc có khả năng là nước Locac được nhắc đến trong du ký của Marco Polo.

[14] Xiêm La: quốc gia của người Thái vùng thượng lưu sông Mê Nam thời trung đại. Điểm đáng chú ý là Toàn thư đả chép tên Xiêm La vào năm 1149. Trong khi đó, thư tịch Trung Quốc chỉ nhắc đến nước này vào cuối thế kỷ XIII (xem Nguyên sử, Xiêm quốc truyện) nhưng trong suốt thời Nguyên, chỉ gọi là Xiêm chứ không phải là Xiêm La.

[15] Hải Đông: tức Quảng Ninh- Hải Phòng ngày nay.

[16] Culture of Coldwater Marine Fish của Erlend Moksness, E. Kjorsvik và Y. Olsen (2004); Marine Fish Culture của John W. Tucker (1998); Flowing Water Fish Culture của Richard W. Soderberg (1994); Shrimp Culture: Principles and Practices của A.W. Fast và L.J. Lester (1992); Culture of Marine Invertebrates: Selected Readings của Carl J. Berg (1983) [chuyển dẫn Trần Ngọc Thêm ]

Akifumi Iwabuchi. "Mud-Sledge Culture around the China Sea: A New Perspective on Marine Culturology. International Academic Essays on Marine Culture 2009: 5-12. Kaohsiung: Marine Technological Institute. "Disappearing Traditional Gears: From Sustainable Fishing to Heavy Exploitation in Southern Vietnam. Proceedings of the 5th Mare Conference, "People & the Sea V." University of Amsterdam.

Hội VNDG VN và các tổ chức khác. 2008: Văn hóa biển mỉền Trung và văn hoá biển Tây Nam Bộ. - H.: NXB Từ điển Bách khoa.

[17] Nguyên văn: [Lê Quý Đôn.1777. Phủ biên tạp lục A.184, Q.2, tờ 24a].

[18] Xem Nguyễn Hải Kế. 1984. Đê Hông Đức và công cuộc khẩn hoang vùng ven biển Nam sông Hông thời Lê Sơ.

[19] Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang tàng trữ 27 tập Atlas (1. An Nam hình thắng đô; 2. An Nam quốc Trung đô tính thập tam thừa tuyên hình thế đô họa; 3. An Nam thông quốc bản đô; 4. Bản quốc dư đô; 5. Bắc hành đô bản; 6. Bắc Kỳ các tỉnh toàn đô; 7. Bắc sứ trình đô; 8. Đại Nam thông nhât dư đô; 9. Đại Nam toàn đồ; 10. Địa chí; 11. Địa đồ; 12. Giao Châu dư địa chí; 13. Hoàng hoa đồ phả; 14. Hồng Đức bản đồ; 15. Kiền khôn nhất lãm; 16. Nam Bắc Kỳ hội đồ; 17. Như thanh đồ; 18. Sứ trình đồ; 19. Sứ trình đồ bản; 20. Sứ trình quát yếu biên; 21. Thanh Hóa tỉnh đồ bản; 22. Thiên hạ bản đồ; 23. Thiên Nam lộ đồ; 24. Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư; 25. Thiên tải nhàn đàm; 26. Toản tập Thiên Nam địa đồ và 27. Yên thiều nhật trình) và 14 bộ hoặc cuốn sách có xen kẽ bản đồ (1. Bản quốc dư địa đồ lược; 2. Bản quốc dư đồ bị lãm; 3. Đại Nam nhất thống chí; 4. Đại Nam nhất thống chí (bis); 5. Đồng khánh địa dư chí lược; 6. Gia Cốc xã bản đồ; 7. Kiêu Kỵ xã bản đồ; 8. Nam quốc địa dư; 9. Nam quốc địa dư chí lược; 10. Nam Việt địa dư trích lục; 11. Quỳnh Đôi hương biên; 12. Sơn Tây dư đồ; 13. Sơn Tây Thụy Khuê xã bản đồ; 14. Thiên hạ bản đồ tổng mục lục đại toàn). Ớ Pháp có 8 tập Atlas thuộc các Phòng Hán Nôm ở Thư viện Quốc gia Paris (Bản đồ các hải cảng), Thư viện Học viện Viễn đông Bác cổ (Tiền Lê Nam Việt bản đồ mô bản), Thư viện Hiệp hội châu A, sách do gia đình H.Maspéro cung hiến (Bắc sứ đồ tập; Giao Châu chí; Sứ trình đồ họa; Toản tập Thiên Nam lộ đồ thư) và các nguồn khác (Đại Nam cương giới hội biên; Thủy lục trình đồ), trong đó, trừ tập Bản đồ các hải cảng do người nước ngoài vẽ, số còn lại đều do người Việt Nam vẽ. [Trần Nghĩa 1990]