Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Quan hệ Việt Nam - Myanmar trên các lĩnh vực chính trị và kinh tế

Wynn Lwin

26/07/2016

Hà Nội, ngày 8/12/2014

QUAN HỆ VIỆT NAM - MYANMAR TRÊN CÁC LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ

Wynn Lwin

Quan hệ Việt Nam - Myanmar, xét trên phương diện chính trị, có thể được chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn liên kết sơ khai, Giai đoạn đấu tranh giành độc lập và chiến tranh Đông Dương khi Myanmar đã sát cánh ủng hộ Việt Nam đánh bại những thế lực xâm lược và cuối cùng là giai đoạn hiện nay.

Hầu hết những sinh viên Sử học trẻ tuổi của Myanmar, trong các bài học lịch sử của mình, đều sẽ bắt gặp những câu chuyện về các chuyến viếng thăm thường xuyên của những chiến binh hết sức thiện chiến tự xưng là “Đội quân người Joon”. Rat nhiều nhà sử học Myanmar tin rằng những chiến binh này có thể là binh lính Việt Nam, song giới chuyên gia vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào để khẳng định điều này.

Một điểm thú vị khác là về những đồng tiền xu có in chữ Myanmar “Yoon de” nói về “Đồ sơn mài” có nghĩa là “Hàng hoá của Joon”. Do không có bất cứ công trình nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này nên chỉ cỏ thể giả dụ rằng chữ “Đồ sơn mài” trong tiếng Myanmar vốn xuất phát từ Trung Quốc và bởi vì việc sử dụng từ “Hàng hoá của Joon” nên một số học giả cho rằng nó có thể có nguồn gốc từ Việt Nam. Để khẳng định điều này cần phải tiến hành các cuộc nghiên cứu tính xác thực về các chuyến thăm của binh lính và nguồn gổc của các đồ vật thủ công sơn mài trên khi du nhập vào Myanmar.

Giai đoạn thứ hai mở đầu với sự thành lập Cơ quan tin tức Việt Nam thường trú tại Yangon vào đầu tháng 02/1948 do Tiến sỹ Trần Văn Luân làm đại diện đầu tiên, đây là cơ quan không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy liên kết giữa hai nước mà còn giúp nhân dân hai nưởc tăng cường hiểu biết lẫn nhau về những khát vọng và các cuộc đấu tranh mà mỗi bên đang trải qua. Tháng 12/1957, ông Phạm Ngọc Quế sang thay Tiến sỹ Trần Văn Luân sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập Tổng lãnh sự quán tại Yangon. Xuyên suốt giai đoạn này, không chỉ ngày càng nhiêu nhà hoạt động Việt Nam ở nước ngoài được phép nhập cảnh vào Myanmar và được hưởng quyền ưu tiên sử dụng các tuyến đường bộ để phục vụ cuộc đấu tranh ở mặt trận Đông Dương, mà còn dành cho trụ sở Bộ Ngoại giao Việt Nam những căn phòng đặc biệt với hệ thống liên lạc không đây để tuỳ ý sử dụng.

Tại Hội nghị các Thủ tướng châu Ả diễn ra ở Colombo tháng 5/1954, Thủ tướng Myanmar đã cùng với Thủ tướng các nước Ẩn Độ, Pakistan, Indonesia và Sri Lanka đứa ra Tuyên bo chung ủng hộ những nỗ lực giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương tại Geneva.

Khi Thủ tướng Myanmar thăm Hà Nội vào tháng 11/1954, cả hai chính phủ đều khẳng định cùng cam kết thúc đẩy hoà bình tại Đông Dương. Bên cạnh đó, hai nước đã thống nhất thông qua Năm nguyên tắc cùng chung sống hoà bình và nhất trí rằng đây là những nguyên tắc căn bản cần áp dụng trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Myanmar cũng như giữa các quốc gia khác. Những đông thuận này đã được khẳng định lại tại bản Tuyên bổ chung giữa hai nước trong chuyến thăm Myanmar của Phó Thủ tướng, Bộ trường Ngoại giao Phạm Văn Đồng tháng 4/1955. ông Phạm Văn Đồng sau đó đã tuyên bố rằng giữa các nước trong Hội nghị Á-Phi thì Myanmar, Án Độ và Indonesia là những người bạn đặc biệt thân thiết, đã hỗ trợ mạnh mẽ vì lý tưởng hoà bình Đông Dương. Trong chuyến thăm Myanmar vào tháng 2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu rằng Năm nguyên tắc cùng chung sổng hoà bình đang có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng, được nhiều nước ký kết và áp dụng.

Myanmar đã bày tỏ sự bất bình khi tỉnh hình tại Việt Nam không đạt được giải pháp chính trị hoà bình như nguyện vọng của nhân dân Việt Nam theo các điều khoản của Hiệp định Geneva 1954. Theo đó, ngay từ đầu tháng 11/1961, Thủ tướng Myanmar đã viết thư gửi Tổng thống Kennedy cảnh báo rằng bất cứ hoạt động triển khai quân sự nào cúa Mỹ vào miền Nam Việt Nam cũng sẽ là “một sai lầm lớn”. Tháng 12/1961, Kennedy đã trà lời Thủ tướng U Nu rằng ông ta đã nhận thức hết sức rõ rằng về những hậu quả có thể xảy ra khi đưa ra quyết định và thành thật hy vọng sẽ không phải đối mặt với viễn cảnh đó. Với sự gia tăng can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, các nước trong Khối không liên kết đã tổ chức một Hội nghị cấp cao tại Cairo vào tháng 10/1964. Tại Hội nghị này, Myanmar đã cùng thông qua lời kêu gọi gửi tới các cường quốc tham dự Hội nghị Geneva 1954 - 1962, khi tin tức về việc leo thang quân sự vào tháng 3/1965 cùng với bản báo cáo về việc sử dụng khí độc ở miền Nam Việt Nam đã thúc đẩy chính phủ Myanmar, vốn không thường công khai quan điểm về các vấn đề quốc tế, đã tạo ra một ngoại lệ khi đưa ra tuyên bố ngày 29/3/1965 rằng vấn đề tại Việt Nam không thể được giải quyết bằng các biện pháp quân sự mà cần phải xúc tiến các điều kiện đàm phản để đạt được một giải pháp chính trị:

“Tình hình tại Việt Nam đang ngày càng xấu đi.

... Các cơ quan báo chí đã đưa tin về việc sử dụng khí độc chống lại quân đội Bắc Việt tại miền Nam Việt Nam. Chính phủ cách mạng Liên bang Myanmar kiên định với lập trường rằng vấn đề tại Việt Nam không thể được giải quyết bằng các biện pháp quân sự mà cần phải xúc tiến các điều kiện đàm phán để đạt được một giải pháp chính trị. Chính phủ cách mạng phản đối bất cử động thái nào... làm trầm trọng thêm tình hình chiến sự tại Việt Nam. Theo đó, chúng tôi phàn đối việc sử dụng khí độc ở Việt Nam cũng như phản đổi các hoạt động tấn công bằng khí độc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.” người phát ngôn Văn phòng đôi ngoại Myanmar phát biểu tại một buổi trả lời báo chí.

Tuy nhiên, leo thang quân sự đã tiếp tục gia tăng trong suốt những năm 1965 và 1966 với các cuộc không kích liên tục, dữ dội ờ miền Bắc Việt Nam. Một lân nữa, chính phủ Myanmar đã buộc phải lên tiếng cành báo vào ngày 02/6/1966:

Chính phủ Liên bang Myanmar quan ngại sâu sắc về việc leo thang các chiến dịch không kích chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bao gồm các cuộc ném bom của Không quân và Hải quân Hoa Kị vào các kho nhiên liệu ở vùng ngoại thành Hà Nội và Hải Phòng. Myanmar lo ngại rằng hành động leo thang chiến tranh tại Việt Nam có thể làm gia tăng căng thẳng quốc tế không chỉ ờ Đông Nam Á mà còn trên bình diện thể giới, khiến việc tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam ngày càng trờ nên khó khăn hơn.

Với nhận thức sâu sắc rằng các biện pháp quân sự không thể mang lại một giải pháp lâu dài cho van đề Việt Nam, Chính phủ Liên bang Myanmar mong muốn tất cả các bên liên quan kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng các biện pháp quan sự và cùng tìm kiếm một giải pháp chính trị phù hợp với Hiệp định Geneva năm 1954 về vấn đề Việt Nam.

Cũng vào cuối năm đó, tình hình chiến sự tại Việt Nam đã rơi vào bế tắc, một loạt các hoạt động và sáng kiến thúc đẩy hoà bỉnh được xúc tiến. Trong tháng 01/1966, Đại tướng Ne Win đã nhận được một lá thư từ Chủ tịch Hồ Chí Minh về lộ trình triển vọng đàm phán hoà bình. Nhân đây, Tướng Ne Win đã chân thành bày tỏ hy vọng về việc đạt được nền độc lập, tự chủ cho Việt Nam thông qua các biện pháp trên cơ sở Hiệp định, tránh tổn thất cho nhân dân Việt Nam.

Các nước Đông Nam Á đã hết sức vui mừng với việc Hiệp định đình chiến tại Việt Nam được ký ngày 27/01/1973 tại Paris và kết thúc chiến tranh vào năm 1975. Myanmar tin tưởng chắc chắn rằng với các biện pháp thiện chí và khát vọng tăng cường hiểu biết lẫn nhau, các nước trong khu vực sẽ cùng nỗ lực hợp tác hướng đến hoà bình, ổn định, phát triển kinh tế và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Với mong muốn đó, Chính phủ Myanmar đã đưa ra tuyên bố ngày 26/01/1973:

1. Chính phủ Liên bang Myanmar được biết rằng một hiệp định đình chiến đã được đệ trình tại Paris vào ngày 23/01/1973 bởi đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Hoa Kỳ, và sẽ được ký chính thức ngày 27/01 bởi đại diện toàn quyền của bốn bên liên quan trong cuộc chiến tranh. Chính phủ Liên bang Myanmar bày tỏ vui mừng về sự chấm dứt chiến tranh và chết chóc tại Việt Nam, mở ra những hy vọng và cam kết về hoà bình.

2. Nhân dân Việt Nam vẫn còn phải vượt qua nhiều khó khăn phía trước để đảm bảo cam kết đó được thực thi và tiếp tục nỗ lực vun đắp cho nền hoà bình. Nhân dân Việt Nam sẽ cần sự trợ giúp của các nước trên thế giới để đạt được những mục tiêu đó.

3. Hoà bình hoàn toàn cho Việt Nam chỉ là sự khởi đầu, vì Lào và Campuchia vẫn đang đấu tranh để giành lại hoà bình cho mình. Hơn thế nữa, một nền hoà bình lâu dài cần phải được xây dựng trong toàn khu vực Đông Nam Á, và Chính phủ Liên bang Myanmar cho rằng đây chính là thời điểm thuận lợi để các quốc gia trong khu vực cùng ngồi lại nhằm thúc đẩy đạt được mục tiêu cuối cùng đó.

Những điều này là những minh chứng rõ ràng nhất về mối quan hệ họp tác giữa Myanmar và Việt Nam trước và trong suốt cuộc Chiến tranh Đông Dương. Qua đó, Myanmar cũng xác định được chỗ đứng cho mình trong khu vực và hướng phát triển trong những năm tới.

Có thể thấy mối quan hệ và hợp tác giữa hai nước đã không gặp bất cứ trở ngại nào dù chế độ ở Myanmar đã thay đổi sau năm 1990. Dù thời kỳ nào đi nữa, hai nước cũng luôn kề vai sát cánh bên nhau trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Với việc Myanmar đã tham gia vào ASEAN với tư cách là một nước thành viên, không chỉ các mối quan hệ chính trị mà các quan hệ kinh tể cũng đã được thúc đẩy mạnh mẽ. Điều đó đã dẫn đến dấu mốc quan trọng năm 2010 khi Myanmar lựa chọn vẩ thúc đẩy hệ thống chính trị dân chủ với nền kinh tế thị trường mở cửa.

Nước Myanmar Mới nhận thấy Việt Nam, sau Chiến tranh Đông Dương, đã phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5,3% (trong năm 2013), thu nhập trung bình cá nhân là 3.500 USD (năm 2012), tỷ lệ biết chữ là 93,4% (năm 2010), tỷ lệ thất nghiệp 1,3% (năm 2013) và xuất khẩu đạt 128,9 tỷ đô la (năm 2013).

Hai nước đã ký kết một Thoả thuận thương mại vào ngày 13/5/1994 cũng như một bản ghi nhớ về việc lập ủy ban thương mại chung vào ngày 06/5/2002, trong đó Myanmar nhập khẩu các nguyên liệu nhựa thô, dược phẩm, lốp và ổng cao su, thép và các sản phẩm thép, vật liệu xây dựng, hoá chất, và xuẩt khẩu cao su, gỗ, đậu,…

Một tín hiệu đáng mừng là ngày càng có nhiều hơn các chuyến thăm viếng lẫn nhau giữa lãnh đạo hai nước. Chuyển thăm mới nhất là của ông Chu Công Phùng, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam - Myanmar. Cũng như trước đây, các nhà lãnh đạo hai nước trao đổi những quan điểm chung về thúc đẩy quan hệ song phương, giao lưu giữa doanh nghiệp hai nước, phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thắt chặt quan hệ giữa các ban ngành, cơ quan chức năng hai nước. Triển vọng ve quan hệ giữa hai nước sẽ còn được phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng với việc Việt Nam tiếp giáp Thái Bình Dương và một nước lớn còn Myanmar giáp Ấn Độ Dương và hai nước lớn.

Trong thực tế, Myanmar rất chân thành học hỏi Việt Nam các biện pháp phát triển thành công và cơ chế phát triển công - nông nghiệp. Myanmar cũng sẵn sàng học hỏi Việt Nam về cách thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, cơ chế điều hành chính trị và tài chính nhằm phát triển xã hội hoà bình và phồn thịnh.

Cuối cùng, tôi mong muốn Việt Nam chia sẻ vợi Myanmar những kinh nghiệm và thành tựu của mình trên tất cà các lĩnh vực phát triển, đây sẽ là những giá trị to lớn đối với Myanmar, chúng tôi sẽ rất biết ơn nhân dân và chính phủ Việt Nam, và luôn coi Việt Nam là một người bạn thân thiết và đối tác tin cậy của Myanmar.