Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Hợp tác kinh tế Myanma - Việt Nam

Win Lei Phyu

26/07/2016

Hà Nội, ngày 8/12/201

HỢP TÁC KINH TÉ MYANMAR - VIỆT NAM

Win Lei Phyu

Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Vietnam ISEAS) và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) vì đã mời tôi trình bày bài viết “Quan hệ kinh tế Myanmar - Việt Nam” của mình. Tôi muốn nói rằng những quan điểm thể hiện trong bài tham luận là của riêng bản thân tôi, không đại biểu cho quan điểm của Viện Nghiên cứu chiến lược và Quan hệ quốc tế Myanmar (Myanmar ISIS) hay Bộ Ngoại giao Myanmar.

Cải cách kinh tế tại Myanmar

Đất nước Myanmar dưới sự lãnh đạo của Chính phủ mới của Tổng thống U Thein Sein đã đề xướng hàng loạt những cuộc cải cách về chính trị, kinh tế và xã hội kể từ khi nắm quyền vào tháng 3/2011. Myanmar vẫn đang thực hiện tốt quá trình chuyển giao dân chủ bằng cách thúc đẩy sự chuyển động của những làn sóng trong các cuộc cải cách chính trị và kinh tế. Làn sóng đầu tiên là sự chuyển đổi ôn hòa từ chính quyền quân chính sang hệ thống dân chủ đa nguyên, nơi tất cả các lực lượng chính trị làm việc vớị nhau để khắc phục những bất đồng thông qua đối thoại tại Hluttavvs (Quốc hội). Tiếp theo là làn sóng cải cách thứ hai, mở ra một loạt các cuộc cải cách về chính trị, kinh tế, hành chính và phát triển kinh tế tư nhân. Hiện tại, làn sóng thứ 3 đang được tiến hành, với mục đích hạ đặt một nền tảng vững chắc cho chính quyền dân chủ mới, trao lợi ích cho dân chúng bằng cách thỏa mãn nhu cầu về kinh tế - xã hội của họ. Song song với đỏ là cuộc cài cách ve kinh tế và xã hội nhằm nâng cao đời sống của nhân dân và cuộc cải cách hành chính công hướng tới nền quản trị tốt và chính quyền trong sạch. Gần đây, Chính phủ Myanmar đã tiến hành cuộc cải cách thứ tư, ban hành chính sách phát triển kinh tế tư nhân vốn chiếm hơn 80% nền kinh tế Myanmar, về vấn đề này, đã có sự tập trung cao trong việc củng cố cơ sở hạ tầng và khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực kinh doanh, giao dịch, đầu tư và hậu cần.

Myanmar là đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng kinh tế của nơi này đang được tăng cường với những cơ hội kinh doanh mới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài,... Việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt và thúc đẩy quan hệ với các nước lớn đã mở ra những cơ hội phát triển mới sau nhiều năm bị cô lập về chính trị và kinh tế. Những thay đổi quan trọng về tài chính, tiền tệ và ngân hàng trong cuộc cải cách kinh tế đã được triển khai, bao gồm việc áp dụng hệ thống quản lý tỷ giá hối đoái thả nổi vào tháng 4/2012, thống nhất về tỷ giá hối đoái, ban hành Luật quản lý ngoại hối mới thông qua việc hạn chế phương thức thanh toán hiện nay và chuyển dịch sang hình thức giao dịch quốc tế, cải biến luật ngân hàng, nâng cấp hệ thống thanh toán, tăng cao năng lực tài chính, tao điều kiện mở rộng khả năng gia nhập tài chính, cải thiện ngân sách nhà nước và nguồn thu thuế.

Myanmar còn tập trung vào việc xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn với quan điểm nâng cao đời sống người dân nông thôn và thành thị. Chúng tôi đang cố gắng tiến hành chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp. Trong 3 năm gần đây, chỉ số GDP của Myanmar đạt 5.6%, 7.3% và 8.7%.

Myanmar có thể học được gì từ Việt Nam?

Có nhiều điểm tương đồng giữa nền kinh tế Việt Nam những năm 1990 và Myanmar ngày nay. Tất nhiên là có nhiều sự khác biệt, nhưng những điểm tương đồng có thể Ịà những bài học kinh nghiệm cho Myanmar học tập để mở rộng nền kinh tế ra thế giới, ở giai đoạn ban đầu, giữa hai nước có nhiều điểm tương đồng. Vào năm 1992 Việt Nam đã lần đầu triển khai hệ thống đo lường mức sống của người dân và ghi lại tỷ lệ nghèo đói tại Việt Nam là 1/2. Một cuộc khảo sát tương tự tại Myanmar vào năm 2005 cho thấy tỷ lệ nghẻo ở đây là 1/3.

Mỗi sự thay đổi về chính sách đều cho thấy những điểm tương đồng. Năm 1989, Việt Nam đã thống nhât tỷ giá hối đoái chính thức với tỷ giá tại chợ đen, giống như việc Myanmar quản lý tỷ giá hối đoái thả nổi vào năm 2012. Tại Việt Nam, một loạt các cuộc cải cách chính sách quan trọng đã được áp dụng tốt trước khi xảy ra cấm vận, bao gồm: (1) Trả lại đất cho nông dân để đảm bảo sử dụng đúng mục đích; (2) ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát (1989); (3) xỏa bỏ rào cản ngăn chặn các hộ gia định làm kinh tế (Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990); (4) Tự do giao dịch và đầu tư nước ngoài (Luật về FDI năm 1987 không có hiệu lực thực tế cho tới khi thống nhất tỳ giá hối đoái). Điều đó cho thấy 4 cuộc cải cách nói trên là thiết yếu đối với một quốc gia để làm giàu, đồng thời, ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết cho việc tiến tới sự phát triển cân bằng.

Đất nước Myanmar đã phải nỗ lực để làm theo các cuộc cải cách chính sách của Viêt Nam. Việt Nam không đợi lệnh cấm vận bị bãi bỏ mà chủ động thay đổi chính sách trước tiên và đây là điều nên làm đối với Myanmar. Một bài học khác từ Việt Nam chính là “cải cách” là một quá trình liên tục của việc đặt vấn đề, xem xét lại và cài thiện (hoặc xóa bỏ) các chính sách, và cần có nhiều nỗ lực để cài thiện năng lực của Chính phủ. Năm 1980, cơ cấu chính phủ Việt Nam rất nặng nề và cồng kềnh, nhiều vấn đề nhỏ phải đưa ra giải quyết ở cấp cao nhất. Điều này hợp lý khi không cỏ nhiều thay đổi (như có ít nhà đầu tư nước ngoài), nhưng trong suốt những năm 1990 nó đã cho thấy những vướng mắc trong quy trình thực hiện, và sau đó một cuộc cải cách về phương thức phân phối quyền lực và thủ tục hành chính đã được đưa ra nhằm theo kịp với nhu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại và đầy tính cạnh tranh. Chính phủ Myanmar sẽ phải đối mặt với những thách thức tương tự, và phân quyền càng nhanh thì càng sớm giành được lợi ích cho nhân dân. Myanmar còn nhiêu chương trình cải cách rộng lớn và toàn diện về chính sách ở phía trước và đất nước này không phải cô độc. Kinh nghiệm của các quốc gia khác như Việt Nam, có thể cho chúng tôi một số gợi ý và khích lệ để phát triển.

Hợp tác kinh tế Việt Nam - Myanmar

Quan hệ ngoại giao thân thiện giữa hai nước sẽ đạt mốc 40 năm vào năm 2015. Là những người anh em trong khối ASEAN, hai nước còn hợp tác hướng tới hợp nhất ASEAN vào năm 2015 nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự thành lập của Hiệp hội Đầu tư Việt Nam tại Myanmar (AVIM) trong chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vào năm 2010 là một dấu ấn quan trọng trong quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia. Văn phòng thông tin của AVIM mở tại Yangon từ tháng 4/2010 tạo điều kiện nâng cao quan hệ hợp tác kinh tế bằng cách tổ chức một sổ phái đoàn kinh tế Việt Nam ở Myanmar trong suốt 3 năm qua.

Văn phòng chính thức của AVIM còn cung cấp một số thông tin cần thiết và hỗ trợ những thương nhân Myanmar có nguồn vốn lớn đầu tư vào Việt Nam. Những thành quả quan trọng của hoạt động này được thể hiện ở những kế hoạch đang tiến hành được thực hiện bởi thành viên của AVIM. Trong số đó, Dự án của Hoàng Anh Gia Lai về việc xây khu tổng hợp văn phòng, khách sạn thương mại và chung cư; Dự án của Petro Việt Nam về việc khai thác dầu khí ngoài khơi; Dự án đá hoa cương của công ty Simco Sông Đà và dự án liên doanh của công ty dược ASV đang tiến triển rất tốt.

Myanmar và Việt Nam còn tăng cường mối quan hệ và hiểu biết thân thiện giữa hai nước. Một phái đoàn Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu đã đến thăm chính thức Myanmar vào tháng 4/2010 và thảo luận về việc thúc đẩy hợp tác, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế. Cuộc họp về hợp tác đầu tư kinh tế Việt Nam - Myanmar được tổ chức và hai nước đã ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác đầu tư. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã mở trong suốt chuyến thăm. Tập đoàn Sovico Holding Việt Nam đã làm việc với Bộ Công nghiệp số 1 của Myanmar về việc hợp tác trên lĩnh vực đầu tư, kinh doanh xi măng và cônẹ nghiệp ngày 05/6/2013. Tuyến hàng không Yangon - Hà Nội cũng được thành lập nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa hai nước.

Việc tăng cường và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Myanmar trên các lĩnh vực Nông nghiệp, Công nghiệp, Ngư nghiệp, Ngân hàng, Hàng không, Giao dịch và Đầu tư có tiềm năng rất lớn để nhân rộng lợi ích hai bên. Mục tiêu về lượng giao dịch giữa Việt Nam và Myanmar tới năm 2015 là 500 triệu đô la Mỹ. Phó Tổng thống Myanmar U Nyant Tun đã có cuộc gặp và làm việc với các nhà thấu Việt Nam tại Hà nọi vào 20/03/2013 và thúc giục họ đầu tư nhiều hơn vào Myanmar. Các tập đoàn kinh tế Việt Nam như Hoàng Anh Gia Lai, Simco Sông Đà và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tham gia đầu tư vào Myanmar.

Mức giao dịch song phương đã đạt 270 triệu đô la Mỹ, nhiều hơn so với 04 năm trước. Việt Nam đứng thứ 10 trong số các nước xuất khẩu sang Myanmar và Myanmar đứng thứ 11 trong số các nước xuất khẩu sang Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã đồng ý hợp tác phát triển ngành công nghiệp cà phê với chính phủ Myanmar.

Cuộc họp ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Myanmar bắt đầu từ năm 1995 và cuộc họp ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Myanmar lần thứ 7 được tô chức năm 2010 đã thảo luận nhiều vấn đề hợp tác. Cuộc họp của ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Myanmar lần thứ 7 đã bàn về việc hợp tác khai thác dầu khí giữa hai nước. Việt Nam và Myanmar còn đồng ý hợp tác phát triển kinh doanh năng lượng và khai thác mỏ.

Lĩnh vực đầu tư

Theo Luật Đầu tư nước ngoài, có tất cả 772 doanh nghiệp nước ngoài trong 12 lĩnh vực từ 36 quốc gia được cấp phép với tổng tài sản thế chấp lên tới 49,408.972 tỉ đô la Mỹ tính tới cuối tháng 08 năm 2014. Trong đó, Việt Nam đứng thứ 08. Trong các khoản đầu tư, lĩnh vực dẫn đầu là năng lượng với 39,11%, đứng thứ 02 là Dầu khí chiếm 30,46%, tiếp theo là sản xuất với 8,74%. Lượng đầu tư của Việt Nam chiếm khoảng 1,04% trong tổng FDI của Myanmar. Có 07 doanh nghiệp nước ngoài được cấp phép với tổng tài sản thế chấp là 513,186 triệu đô la Mỹ tính tới cuối tháng 8 năm 2014. Hiện tại, 07 doanh nghiệp nước ngoài này đang đi vào hoạt động. Tính tới cuối tháng 6 năm 2014, có tất cà 45 công ty nước ngoài từ Việt Nam được đăng kí theo Luật Doanh nghiệp của Myanmar.

Cam kết thúc đẩy và cùng bảo vệ hiệp nghị đầu tư giữa Chính phủ liên bang Myanmar và chính phủ Việt Nam đã được ký kết vào ngày 12 tháng 5 năm 2000.

Lĩnh vực thương mại

Từ năm 2013 đến 2014, xuất khẩu tới thị trường Việt Nam tăng 36,83% so với năm ngoái, đạt 111,16 triệu đô la Mỹ. Nhập khẩu từ Việt Nam tăng 127,33%, đạt 169,86 triệu đô la Mỹ. Tông kim ngạch xuất nhập khẩu với Việt Nam tăng 80,19% so với năm trước, đạt 281,02 triệu đô la Mỹ. Thâm hụt cán cân thương mại với Việt nam đạt 58,70 triệu đô la Mỹ trong giai đoạn 2013 - 2014. Trong tổng kim nghạch xuất nhập khẩu, Việt Nam chiếm 0,86% trong giai đoạn 2012 - 2013 và 1,13% trong giai đoạn 2013 - 2014, đứng thứ 10 trong các nước đối tác. Từ năm 2013 tới 2014, các mặt hàng trọng điểm của xuất khẩu từ Myanmar tới Việt Nam là đậu, gỗ, gạo, quặng kim loại. Các mặt hàng trọng điểm nhập khẩu từ Việt Nam là quặng kim loại và đồ gia dụng, máy móc và thiết bị cơ khí, thiết bị điện, thiết bị thí nghiệm và xi măng,... Từ thảng 04 tới tháng 07 năm 2014, xuất khẩu tới Việt Nam giảm 20,97% so với năm ngoái, đạt 24,84 triệu dô ỉa Mỹ. Nhập khẩu từ Việt Nam tãng 56,40%, đạt 85,77 triệu đô la Mỹ. Kim ngạch xuất nhập khẩu với Việt nam tăng 28,21% so với năm ngoái, đạt 110,61 triệu đô la Mỹ.

Kết luận

Myanmar đang trong quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ chưa từng có trước đó. Chính phủ mới đang triển khai cải cách cả về chính trị lẫn kinh tế với quan điêm hòa bình và ổn định với việc phát triển kinh tế - xã hội.

Việt Nam và Myanmar đều là nước đang phát triển tại Đông Nam Á, đều có những điềm tương đồng trong đó có tiềm năng phát triển. Myanmar là quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên và hợp tác lâu đài và ổn định với Việt Nam sẽ giúp Myanmar tận dụng được hết tiềm năng phát triển. Đổi với Myanmar, hợp tác với Việt Nam sẽ giúp tái hòa nhập vào kinh tế khu vực, vì hòa bình, ổn định, và tăng trưởng kinh tế.