Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Những thành tựu về đảm bảo thúc đẩy quyền con người bằng cơ chế quốc gia ở Việt Nam

PGS.TS. Phạm Hữu Nghị

03/08/2016

Hà Nội, ngày 22-23/04/2015

NHỮNG THÀNH TỰU VỀ BẢO ĐẢM, THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CƠ CHẾ QUỐC GIA Ở VIỆT NAM

PGS.TS. Phạm Hữu Nghị

 Viện Nhà nước và Pháp luật

Trong tham luận này, tôi trình bày về việc bảo đảm, thúc đẩy quyền con người bằng cơ chế quốc gia ở Việt Nam thông qua các nội dung: Tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người; ghi nhận các quyền con người và tạo ra cơ chế pháp lý về bảo vệ quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc gia; các cơ quan, tổ chức có vai trò, chức năng, nhiệm vụ thực hiện, bảo đảm, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam; Việt Nam hợp tác với các cơ quan, tổ chức quốc tế về bảo vệ quyền con người; nhận thức về quyền con người và giáo dục, đào tạo về quyền con người ở Việt Nam.

1. Tham gia các đỉều ước quốc tế về quyền con người

Tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người là căn cứ, điều kiện quan trọng để đánh giá quốc gia có tôn trọng quyền con người và sẵn sàng thực thi các cam kết về bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người xuất phát từ các đỉều ước quốc tế mà mình là thành viên hay không.

Việt Nam đã gia nhập hầu hết các công ước nhân quyền quốc tế chủ chốt, trong đó có Công ước về Quyền Dân sự, Chính trị, Công ước chống phân biệt Chủng tộc, Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; là nước tham gia rất sớm Công ước Quyền Trẻ em; phê chuẩn 17 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế, trong đó có 5/8 Công ước cơ bản (Công ước số 29 về lao động cưõng bức, Công ước số 100 về trả công bình đẳng, Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc, Công ước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc và Công ước số 182 về loại bỏ mọi hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất). Việt Nam đã là thành viên chính thức của Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật và Công ước chống Tra tấn.

Các văn bản pháp luật trong nước được ban hành hoặc sửa đổi theo hưóng nội luật hóa các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đồng thời không làm cản trở việc thực hiện các công ước này (Điều 3 và Điều 82 Luật Ban hành Văn bản Quy phạm Pháp luật 2008).

2. Ghi nhận các quyền con người và tạo ra cơ chế pháp lý về bảo vệ quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc gia

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá việc thực thi quyền con người ở Việt Nam. Từ khi đổi mới đến nay, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, Việt Nam đã ban hành và sửa gần một vạn rưỡi văn bản luật và dưới luật, trong đó các quyền về dân sự, chính trị được quy định ngày một cụ thể hơn và toàn diện hơn.

Năm 2013 Việt Nam thông qua Hiến pháp mới. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã đề cao vấn đề quyền con người, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Quyền con người được quy định trong Chương II của Hiến pháp 2013 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại Chương V của Hiến pháp năm 1992 (Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân), so với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 bổ sung nhiều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều này được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu như sau:

Một là, đưa vị trí Chương "Quyền và Nghĩa vụ cơ bản của công dân" từ Chương V trong Hiến pháp năm 1992 về Chương II trong Hiến pháp 2013. Việc thay đổi vị trí nói trên không đơn thuần là sự thay đổi về bố cục mà là một sự thay đổi về nhận thức. Với quan niệm đề cao chủ quyền Nhân dân trong Hiến pháp, coi Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, thì quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải được xác định ở vị trí trang trọng hàng đầu trong một bàn Hiến pháp. Việc thay đổi này là sự kế thừa Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới, thể hiện nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Hai là, Điều 14 Hiến pháp 2013 khẳng định “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhện, tôn trọng, bảo vệ, bảo đăm theo Hiến pháp và pháp luật". Quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 1992 đã thừa nhận thuật ngữ "quyền con người" thông qua quy đỉnh “quyền con người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hôi được thể hiện trong quyền công dân” tại Điều 50. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 lại quy quyền con người vào quyền công dân. Khắc phục thiếu sót đó, Hiến pháp năm 2013 đã có sự ghi nhận rõ ràng: Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Theo đó, quyền con người được quan niệm là quyền tự nhiên vốn có của con người từ lúc sinh ra (kể cả đối với người quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch, người có quốc tịch Việt Nam đã bị tước hoặc hạn chế một số quyền công dân); còn quyền công dân, trước hết cũng là quyền con người, nhưng việc thực hiện nó gắn với quốc tịch, tức là gắn với vị trí pháp lý của công dân trong quan hệ với nhà nước. Hiến pháp 2013 đã sử dụng từ “mọi người” khi thể hiện quyền con người và dùng từ “công dân99 khi quy định về quyền công dân.

Bên cạnh đó, nhằm khắc phục sự tùy tiện ra các quy định trong viêc han chế quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 đã quy định nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lỷ do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng99. Theo đó, không ai được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền, ngoại trừ các trường hợp cần thiết nói trên do Luật định. Điều này xác lập nguyên tắc quyền con người, quyền công dân chỉ bị hạn chế bằng Luật chứ không phải các văn bản dưới luật.

Ba là, trách nhiệm của Nhà nước và những đảm bảo của Nhà nước trong việc ghi nhận, tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân được quy định đầy đủ trong Hiến pháp. Ngoài nguyên tắc như: “Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”(Điều 14), ở hầu hết các điều đều quy định ừách nhiệm và đảm bảo của Nhà nước như Điều 17: “Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài"; Điều 28: “Nhà nước tạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân"... và ở nhiều điều khác.

Bốn là, Hiến pháp mới bổ sung một số quyền mới là thành tựu của gần 30 năm đổi mới đất nước. Đó là Quyền sống (Điều 19), Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21), Quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), Quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36), Quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41), Quyền xác định dân tộc (Điều 42), Quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43)... Việc ghi nhận các quyền mới này hoàn toàn phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộnẹ hòa XHCN Việt Nam là thành viên, thể hiện nhận thức ngày càng rõ hơn về quyền con người và khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thưc hiện quyền con người.

Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 cần đưa các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền công dân vào nhiều chương khác của Hiến pháp nhằm tạo ra cơ chế hiến định bảo đảm, bảo vệ qụyền con người, quyền công dân.

Hiến pháp sửa đổi khẳng định nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (khoản 3 Điều 2). Hiến định việc kiểm soát quyền lực, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chính là tạo ra cơ chế ngăn ngừa chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng trong quá trình thực hiện quyền lực. Quyền con người, quyền công dân chỉ được bảo đảm, bảo vệ có hiệu quả khi ngăn ngừa, kiểm soát được chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng.

Tại Điều 3 trong Chương I Chế độ chính trị đã ghi nhận quan điểm, chính sách của Nhà nước Việt Nam là công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Từ đây đặt ra nghĩa vụ của tất cả mọi chủ thể ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều phải công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người.

Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người là trách nhiệm, nghĩa vụ của tất cả các cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp.

Các quy định tại Chương ni của Hiến pháp sửa đổi về chính sách phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường có vai trò rất quan trọng đối với thực hiện quyền con người, quyền công dân. Đây chính là điều kiện để bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. Chẳng hạn, khoản 3 Điều 51 quy định về chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước; tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa. Chính sách này của Nhà nước là những bảo đảm kinh tế - pháp lý cho các quyền kinh doanh, quyền tài sản của mọi người.

Để bảo đảm quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của công dân, Hiến pháp sửa đổi đề ra quan điểm, chính sách: Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiềm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Điều 58).

Quốc hội với chức năng thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69) có vai trò quan trọng trong việc thông qua các đạo luật về quyền con người, quyền công dân, giám sát thực hiện quyền con người, quyền công dân, quyết định các chương trình kinh tế - xã hội lớn bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc phê chuẩn, gia nhập các điều ước quốc tế về quyền con người (khoản 14 Điều 70).

Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của Chính phủ là bảo vệ quyền con người, quyền công dân (khoản 6 Điều 96). Bảo vệ quyền con người, quyền công dân được khẳng định là nhiệm vụ của Tòa án nhân dân (khoản 3 Điều 102). Bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng được quy định là nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân (khoản 3 Điều 107).

Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp trực tiếp quy định nhiệm vụ của Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân về bảo vệ quyền con người, quyền công dân - một nhiệm vụ hiến định. Từ đây, xã hội, nhân dân, mọi người có quyền đặt ra yêu cầu ngày càng cao hơn đối với Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện nhiêm vụ hiến định về bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Hiến pháp sửa đổi dự liệu việc xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam: Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định (khoản 2 Điều 119). Cơ chế bảo vệ Hiến pháp cũng chính là cơ chế bảo vệ quyền con người, vì Hiến pháp là văn bản tôn vinh con người, công nhận, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở nước ta. Một cơ chế bảo hiến hiện đại, phù hợp với nguyện vọng nhân dân phải là cơ chế bảo vệ quyền con người đã được long trọng công nhận trong Hiến pháp.

Có thể nói, việc hiến định, hiện thực hóa quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp sửa đổi là sự tiếp nối, kế thừa các bản Hiến pháp trước đây, đồng thời, chuyển hóa sâu sắc nhiều nội dung, tinh thần các Công ước quốc tế về quyền chính tri, dân sự, quyền kinh tế, văn hóa, nhân quyền tạo nền tảng pháp lý cao nhất bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Nội dung các quyền con người được thể hiện trong tinh thần và lời văn của các chương, mục của Hiến pháp và được cụ thể hoá tại nhiều văn bản pháp luật quan trọng như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng Nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và ủy ban Nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát Nhân dân, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Khiếu nại, Tố cáo, Luật Đặc xá, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo... Đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do bày tỏ chính kiến và quyền được thông tin cho mọi người dân là chính sách nhất quán cùa Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật phòng chống tham nhũng, Luật khiếu nại, Luật tố cáo... đều quy định về đảm bảo sinh hoạt báo chí, tự do ngôn luận tự do và cởi mở tại Việt Nam, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế. Hiện nay, ở Việt Nam đã soạn thảo Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trưng cầu ý dân nhằm bảo đảm tốt hơn quyền thông tin của cá nhân, tổ chức.

Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử là nền tảng xuyên suốt các văn bản pháp luật của Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho việc đảm bảo và phát huy các quyền của người dân trên từng lĩnh vực cụ thể.

Tuy nhiên, như Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ thực hiện quyền con người ở Việt Nam có đưa ra nhận xét: hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung, trong lĩnh vực quyền con người nói riêng, còn chưa đồng bộ, có chỗ còn chồng chéo, mâu thuẫn dẫn tới khó khăn, thậm chí hiểu sai, trong quá trình vận dụng và thực thi pháp luật ở cơ sở. Đây chính là vật cản lớn nhất đối với sư phát triển của xã hội cũng như trong việc thực thi các quyền con người. Nhận diện thách thức đó, Chính phủ Việt Nam đang tiếp tục triển khai Chiến lược Xây dựng và Hoàn thiện Hệ thống Pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, rà soát lại toàn bộ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật từ tiêu chí tuân thủ các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người; bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất, tính khả thi, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và dễ thực hiện của các văn bản quy phạm pháp luật này.

Một số quyền con người như quyền tự do lập hội, quyền thông tin, quyền tự do ngôn luận, quyền đình công, quyền được thể hiện ý chí qua trưng cầu ý dân chưa có được cơ sở pháp lý vững chắc.

3. Các cơ quan, tổ chức có vai trò, chức năng, nhiệm vụ thực hiện và bảo đảm, thúc đẩy quyền con người ở Vỉệt Nam

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đã xây dựng những cơ chế khác nhau về đảm bảo quyền con người tuỳ theo hoàn cảnh riêng của mỗi nước. Luật pháp quốc tế về quyền con người coi trọng các cơ chế. biện pháp đảm bảo quyền con người nhưng không áp đặt một mô hình duy nhất trong lĩnh vực này. Trên thế giới, hiện có trên 60 quốc gia đã thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia, song cơ quan nhân quyền quốc gia ở mỗi nước khác nhau có đặc điểm riêng về tính chất, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn. Trên thực tế, cũng như đối với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá khác nhau, hiện nay chưa thể nói đến một mô hình đảm bảo duy nhất nào1.

Ở Việt Nam, hiện có nhiều cơ chế tham gia vào việc giám sát việc thực hiện các quyền trong từng lĩnh vực. Chẳng hạn, hệ thống các cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền trẻ em bao gồm ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Hội Bảo vệ Quỵền Trẻ em, Hội Cứu trợ Trẻ em Tàn tật, Hội Bảo trợ Người Tàn tật và Trẻ Mồ côi Việt Nam. Hệ thống tổ chức của các cơ quan này được thiết lập và phát triển ở tất cả các cấp trong toàn quốc.

Các cơ quan, tổ chức tham mưu và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ của Quốc hội Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Ủy ban Quốc gia vì sự Tiến bộ của Phụ nữ và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Hệ thống tổ chức của các cơ quan, tổ chức này được thiết lập và phát triển ở tất cả các cấp trong toàn quốc.

Hệ thống các cơ quan, tổ chức tham mưu và giúp thực hiện các quyền của người dân tộc thiểu số bao gồm: Ủy ban Dân tộc (cơ quan ngang Bộ), Hội đồng Tư vấn Dân tộc, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em Việt Nam vói phạm vi hoạt động ờ tất cà các cấp trong toàn quốc.

Tại Quốc hội liên quan đến bảo vệ quyền của ừẻ em, quyền của phụ nữ, quyền của người dân tộc thiểu số có: ủy ban về các vấn đề xã hội, Ủy ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Hội đồng Dân tộc.

Có thể thấy, hệ thống thể chế đảm bảo quyền con người cũng rất đa dạng, gồm các cơ quan nhà nước, các tồ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các cơ quan thông tin đại chúng và quần chúng nhân dân. Pháp luật có những quy định cụ thể nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế đảm bảo quyền con người trên các lĩnh vực, như đảm bảo quyền giám sát, phản biện chính sách của Nhà nước, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội, quyền khiếu nại, tố cáo...Trong những năm qua, Việt Nam không ngừng đẩy mạnh cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan trong hệ thống Nhà nước, nhất là vai trò lập pháp và giám sát của Quốc hội, nhằm tăng cường hiệu quả, tính minh bạch và dân chủ của các thiết chế Nhà nước. Mặt trận Tồ quốc Việt Nam, tổ chức liên minh các dân tộc, tầng lớp nhân dân, cũng có vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước và đại biểu dân cử, đồng thời tham gia phản biện xã hội đối với các chính sách của Nhà nước trước khi được thông qua. Sự tham gia trực tiếp của người dân thông qua các cơ chế pháp lý như bầu cử, ứng cử, chất vấn, khiếu nại, tố cáo và quy chế phát huy dân chủ ở cơ sở thực sự là cơ chế giám sát có hiệu quả đối với hoạt động của Nhà nước trong việc tôn trong và bảo đảm thực hiện quyền con người.

Ở Việt Nam hiện nay có Ban chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ được thành lập theo Quyết định số 63/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Về thành phần, Ban chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ có Trưởng ban là một Phó Thủ tướng Chính phủ (hiện nay là ông Phạm Gia Khiêm), một Phó Ban thường trực (lãnh đạo Bộ Công an), một Phó ban (lãnh đạo Văn phòng Chính phù), các ủy viên: lãnh đạo các Bộ Tư pháp, Ngoại giao, ủy ban Dân tộc, Ban Tôn giáo, ủy ban Pháp luật, ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Ban Tuyên giáo, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Văn phòng Trung ương Đảng, Tòa án nhân dân tối cao, Ban Nghiên cứu của Bộ Chính trị về an ninh quốc gia. Giúp việc Ban chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ có một Văn phòng thường trực đặt tại Tổng cục An ninh, Bộ Công an. Chức năng của Ban chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ như sau:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và pháp lý, các thông lệ quốc tế làm cơ sở cho cuộc đấu tranh chống các luận điểm không đúng về Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Phản bác những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền.

- Đề xuất các biện pháp bảo vệ các quyền hợp pháp của công dân.

- Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền.

- Tuyên truyền về nhân quyền2.

Qua xem xét thành phần, chức năng, nhiệm vụ, có thể thấy, Ban chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ chưa phải là Cơ quan nhân quyền Quốc gia.

4. Hợp tác với các cơ quan, tổ chức quốc tế về bảo vệ quyền con người

Với nhận thức sự nghiệp bảo vệ và thúc đây quyền con người là một quá trình liên tục và luôn cần sự quan tâm của cà cộng đồng thế giới, Chính phủ Việt Nam đã hợp tác khá chặt chẽ với các quốc gia khác, với Liên hợp quốc và các cơ quan của tố chức này để đảm bảo ngày càng tốt hơn việc thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản của con người trên lãnh thổ Việt Nam và trên toàn thế giới.

Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực về quyền con người Việt Nam cam kết thực hiện các nghĩa vụ của các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam ngày càng tích cực tham gia vào các cơ chế, hoạt động chung ở khu vực và quốc tế về quyền con người như tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng nhân quyền, Ủy ban 3 Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng Kinh tế - Xã hội, cơ chế hợp tác Á-Âu (ASEM) và hiện đang bàn bạc vói các nước khác ở Đông Nam Á xây dựng cơ chế nhân quyền của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Việt Nam có hợp tác kỹ thuật, đối thoại về quyền con người với Na Uy, Ôt-xtra-li-a, Thuỵ Sĩ, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) và nhiều nước, tổ chức quốc tế khác.

Việt Nam hết sức coi trọng đối thoại và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người. Đối thoại và hợp tác quốc tế vừa là đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế, vừa giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau; qua đối thoại và hợp tác quốc tế Việt Nam đã giúp bạn bè và cộng đồng quốc tế hiểu hơn về tình hình và hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, vừa là cơ hội đe Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước trong việc xây dựng và thực thi pháp luật, bảo đảm tốt hơn các quyền con người ở Việt Nam và đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ nhân quyền trong khu vực và trên thế giới.

Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng và có cơ chế hợp tác tốt với cơ chế Báo cáo viên đặc biệt, các chuyên gia độc lập của LHQ, thể hiện qua việc trả lời thường xuyên, cung cấp thông tin đầy đủ đối với các kháng thư của các cơ chế này. Chính phủ Việt Nam đã mời và đón Nhóm làm việc về vấn đề giam giữ độc đoán vào năm 1994, Báo cáo viên đặc biệt về tự do tôn giáo năm 1998. Trong tinh thần thiện chí và hợp tác với Liên họp quốc nói chung và các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc nói riêng, và trên cơ sở đề nghị của các Báo cáo viên đặc biệt, vừa qua Chính phủ Việt Nam đã chuyển lời mời đến Báo cáo viên đặc biệt về Quyền lương thực, Báo cáo viên về Giáo dục, Chuyên gia độc lập về Nhân quyền và đói nghèo, Chuyên gia độc lập về tác động của nợ nước ngoài đối với việc hưởng thụ quyền và Báo cáo viên về sức khoẻ vào thăm Việt Nam trong một vài năm tới.

Việt Nam luôn mong muốn và sẵn sàng có sự hợp tác thường xuyên vói các Báo cáo viên đặc biệt. Tuy nhiên, như nhiều Chính phủ khác, Chính phủ Việt Nam chưa đưa ra lời mời ngỏ vào lúc này (cho đến nay, cũng mới chỉ có 60 nước đưa ra lời mời ngỏ đến các Báo cáo viên đặc biệt). Việc thu xếp, bố trí thời điểm và khả năng đón tiếp để đảm bảo chuyến thăm của các Báo cáo viên thành công phải có sự thảo luận và thỏa thuận của các bên liên quan, phải trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, không can thiệp. Việt Nam hoàn toàn ủng hộ Nghị quyết 5/1 ngày 18/6/2007 của Hội đồng Nhân quyền quy định các báo cáo viên đặc biệt cân đáp ứng các yêu câu vê chuyên môn, kinh nghiệm, tính độc lập, không thiên vị, trung thực và khách quan. Cũng như các nước, Việt Nam luôn mong muốn có sự hợp tác vói các Báo cáo viên đáp ứng những yêu cầu đó3.

Chỉ riêng trong quá trình chuẩn bị Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ thực hiện quyền con người ở Việt Nam (ƯPR) chu kỳ 1 và chu kỳ 2, Việt Nam cũng đã hợp tác chặt chẽ vớỉ các tổ chức quốc tế và nhận sự hỗ trợ của một sổ quốc gia. Việt Nam đã cử nhiều đoàn đi học hỏi kinh nghiệm quốc tế về soan thảo báo cáo Cơ chế Kiểm điểm Định kỳ (ƯPR) như tham dự Hội thảo tập huấn do Liên hợp quốc tổ chức và dự các phiên bảo vệ báo cáo UPR tại Hội đồng Nhân quyền; to chức các hội thảo trong nước có sự tham dự của chuyên gia Liên hợp quốc và một số nước đã bảo vệ báo cáo nhằm giới thiệu về cơ chế UPR và kinh nghiệm làm báo cáo của các nước này.

5.  Nhận thức về nhân quyền ở Vỉệt Nam

Ở Việt Nam nhận thức về nhân quyền ngày càng được nâng cao. Trong các văn kiện của các đại hội Đảng và hội nghị Ban chấp hành Trung ương đã đe ra một chính sách nhất quán là: đề cao, tôn trọng và bảo đảm quỵền con người. Có thể nêu ra những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề quyền con người:

1. Quyền con người là giá tri chung của nhân loại. Đó là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới chống lại mọi áp bức, bóc lột và khẳng định quyền con người làm chủ thiên nhiên.

2. Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người có tính giai cấp sâu sắc.

3. Giải phóng con người (trong đó cổ việc đảm bảo các quyền con người) gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, chỉ có dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới có điều kiện được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất.

4. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi tích toàn xã hội kết hợp chặt chẽ với nhau; lợi ích cá nhân được coi trọng vì đó là mục tiêu, là động lực của sự phát triển xã hội, song cần chú trọng đảm bảo lợi ích của tập thể và của cả cộng đồng dân tộc.

5. Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

6. Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia. Đảm bảo quyền con người trước hết và chù yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia.

7. Quyền con người luôn luôn gắn với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.

Nghiên cứu quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về quyền con người của Đảng cộng sản Việt Nam qua các văn kiện Đại hội Đảng, có thể đưa ra một số nhận định sau đây:

Thứ nhất, Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam càng ngày càng có nhận thức rõ hơn về vấn đề quyền con người. Từ chỗ không đề cập trực tiếp vấn đề nhân quyên trong các văn kiện của Đảng đến chỗ có đề cập và đề cập ngày càng đầy đủ hơn, nhất quán hơn.

Thứ hai, Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam thường đề cao việc đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” với lập luận: Các thế lực thù địch lợi dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng thay đổi chế độ chính trị Việt Nam.

Thứ ba, Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam gắn vấn đề quyền con người với quyền công dân, gắn quyền của cá nhân với quyền của tập thể, quyền của dân tộc, nhân dân, quyền làm chủ; quyền đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.

Thứ tư, tính đến nay Đại hội XI là Đại hội thể hiện rõ nhất quan điểm của Đảng ta về nhân quyền. Quan điểm này được ghi nhận nhất quán trong tất cả các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người đã trở thành sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta, trở thành vấn đề có tính chiến lược. Nhà nước với tư cách là tổ chức công quyền có nghĩa vụ tôn trong, bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

6. Giáo dục, đào tạo về quyền con người

Việt Nam đã tăng cường và mở rộng chương trình giáo dục. đào tạo về quyền con người cho các cán bộ của các cơ quan nhà nước. Nhiều hội thảo, hội nghị liên quan đến quyền con người đã được tổ chức với sự tham gia của đông đảo đại diện nhiều bộ, ngành, các trung tâm nghiên cứu và cơ sở đào tạo chuyên sâu về quyền con người như Viện Nghiên cứu quyền con người (thuộc Học viên Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Khoa học xã hội, Viện Nghiên cứu con ngươi (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh… mở nhiều lóp giảng dạy thường xuyên về quyền con người, trong đó có chương trình đào tạo thạc sĩ về quyền con người tại Học viện Khoa học xã hội và Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Quá trình mở rộng tuyên truyền và giáo dục về quyền con người đã trang bị kiến thức cơ bàn cho cán bộ Chính phủ cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Việt Nam cũng đẩy mạnh đào tạo kiến thức nhân quyền cho các cán bộ công chức, viên chức địa phương nhằm tăng cường nhận thức, năng lực và hiệu quả công tác nhân quyên ở cơ sở.

Các nội dung giáo dục về quyền con người đã và đang từng bước được đưa vào chương trình dạy học ở các trường phổ thông, lồng ghép vào một số môn học chuyên sâu trong các trường đại học có đào tạo chuyên ngành luật. Thực hiện khuyến nghị ƯPR, Việt Nam đã đưa nội dung giáo dục về nhân quyền vào chương trình giảng dạy tại các trường đào tạo cảnh sát, đồng thời mở nhiều lóp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về nhân quyền để trang bị và nâng cao nhận thức, năng lực cho toàn bộ lực lượng cảnh sát, đặc biệt là các đơn vị có liên quan đến việc bảo đảm quyền con người.

Việc giáo dục về quyền con người còn được lồng ghép vào các chương trình giáo dục, đào tạo các cấp trong các môn học như Giáo dục công dân, Pháp luật, Pháp luật đại cương.

Ở Việt Nam đã cổ những đợt tuyên truyền khá sôi nồi, rộng khắp sau khi Nhà nước ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới...

Tuy vậy, có thể thấy, ở Việt Nam chưa xây dựng được một chương trình giáo dục về quyền con người, trong Chiến lược giáo dục, vấn đề giáo dục nhân quyền chưa được quan tâm đúng mức. Để nâng cao nhận thức, đồng thời tạo ra kỹ năng bảo vệ và tự bảo vệ quyên con người của người dân Việt Nam thì cần xây dựng thì việc xây dựng một Chương trình giáo dục quyền con người là rất cần thiết.

*          *

*

Trong thời gian sắp tới, Việt Nam tiếp tục tăng cường công tác kiện toàn hệ thống pháp luật trên nguyên tắc phát huy nhân tố con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân, đảm bảo hệ thống pháp luật quốc gia hài hòa và phù hợp với các chuẩn mực pháp luật quốc tế. Chính phủ Việt Nam nỗ lực đẩy mạnh các chương trình cải cách hành chính nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, phát huy dân chủ và nâng cao hiệu lực của Nhà nước pháp quyền, tăng cường các thể chế quốc gia bảo vệ quyền con người, trong đó có việc nghiên cứu khả năng thành lập Cơ quan nhân quyền quốc gia.

-----------------------

1Xem:

-           Vũ Công Giao: Những vấn đề khái quát về cơ quan nhân quyền quốc gia, Kỷ yếu hội thảo Cơ quan nhân quyền quốc gia, Hà Nội. 12- 2009

-           Bộ Ngoại giao: Phụ lục Trả lời của Việt Nam về các khuyến nghị của các nước về quyền con người

2Xem:

Huỳnh Thị Sương Mai: Quyền con nguời: Sự vi phạm và cứu trợ- Cơ chế bảo trợ quyền con người ờ Việt Nam và một số nước trên thế giới, tạp chí Nghiên cứu Con người, số 4(37)/2008, tr. 12-tr.20.

3. Bộ Ngoại giao: Phụ lục Trả lời của Việt Nam về các khuyến nghị của các nước về quyền con người