Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Quản lý các kỳ vọng bốn năm giáo dục trình độ thạc sĩ về Quyền con người tại Việt Nam

Gisle Kvanvig

05/08/2016

Hà Nội, ngày 22-23/04/2015

QUẢN LÝ CÁC KÌ VỌNG BỐN NĂM GIÁO DỤC TRÌNH ĐỘ THẠC SĨ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM

Gisle Kvanvig*

Giới thiệu

Ở Jakata, người ta nói rằng nếu bạn nghĩ bạn biết chuyện gì đang xảy ra, bạn sẽ không nhận được thông tin chính xác nữa. Đây là một sự thật hiển nhiên. Bài viết này tập trung vào những dự đoán chi phối suy nghĩ của chúng ta về kết quả, và những giả định đặt ra. Năm 2009, Trung tâm nhân quyền Na Uy, Đại học Oslo (sau đây viết tắt NCHR), và trường Luật, Đại học quốc gia Việt Nam (sol/VNU) đã hợp tác trong một dự án đào tạo thạc sĩ về quyền con người ở Sol/VNU. Khi khởi động các chương trình đào tạo thạc sỹ về quyền con người năm 2011, dự án đã tạo ra nhiều dự đoán đa chiều với đông đảo sự tán thành. Có những kì vọng vượt xa các tác động dự kiến và kết quả nêu trong dự án. Nhìn nhận thực tế hơn về bốn năm đầu tiên của dự án cho thấy việc triển khai thực tế hầu hết các phần của dự án đưa ra cách làm thế nào để kiểm soát các kì vọng được xem là đang phát triển nhanh theo thời gian với cấp số mũ. cấu trúc bài viết này gồm 4 phần: 1) Lên kế hoạch và chuẩn bị; 2) Khởi động ; 3) Thông báo khởi động; 4) Thực hiện dài hạn, theo mức độ cảm xúc, và người ta có thể mô tả 4 giai đoạn đó theo 4 cung bậc cảm xúc: lo ngại, phởn phơ, hồ nghi và chán nản.

Giai đoạn lên kế hoạch - chuẩn bị - cảm xúc lo ngại

Năm 2009, Việt Nam thông qua đề xuất Kiểm tra định kì (UPR) về giáo dục quyền con người, đánh dấu điểm bắt đầu cho chương trình đào tạo thạc sỹ về quyền con người tại SoL/VNƯ. Việc lên kế hoạch và chuẩn bị cho chương trình đào tạo này được thực hiện khá lâu, cấu thành một phần trong việc chuẩn bị triển khai UPR tại Việt Nam. Các viện khoa học, các bộ, và các thành viên quốc hội đã tán thành việc các trường đại học Việt nam tiến hành giáo dục quyền con người. Tiếp theo sự chấp thuận đề xuất thực hiện IJPR, một đề xuất về việc bắt đầu tiến hành giáo dục quyền con người đã được trình lên Văn phòng Thủ tướng phê duyệt. Vào cuối năm 2009, Thủ tướng đã kí thỏa thuận và dự án này được khởi động. Giả định dễ thấy rằng một khi đã được đảm bảo bằng chữ kí và sự hỗ trợ của thủ tướng, những việc còn lại sẽ thuận buồm xuôi gió. Nhưng phải mất đến 2 năm lên kế hoạch và chuẩn bị, việc giảng dạy mới chính thức được bắt đầu vào tháng 11 năm 2011. Điều này được giải thích đơn giản rằng phê duyệt của thủ tướng chỉ đủ để bắt đầu. Rất nhanh chóng dự án ngay sau đó đã bị chuyển sang một bên. Các bên liên quan trước đó không biết cách nắm giữ dự án và quản lý dự án theo sự quan tâm của họ. Ví dụ như, vào mùa xuân năm 2011, NCHR nhận được thông tin có vẻ tốt lành: việc tuyển sinh đã hoàn thành và hai mươi cán bộ của bộ công an vượt trội hơn tất cả những ứng viên đăng kí thi tuyển khác. Nhưng NCHR không thể chấp nhận kết quả này và dự án đã bị tạm hoãn, không phải là lần đầu tiên.

Tuy nhiên, ở Viêt Nam, luôn có chỗ cho các cuộc đàm phán, NCHR đã cố gắng kiểm soát để đảm bảo có được thỏa hiệp, trong đó hầu hết các cán bộ thuộc Bộ Công An có thể được tham gia các chương trình đào tạo thạc sỹ, đồng thời số lượng học viên trong lớp mở rộng lên 40 sinh viên nhằm đảm bảo tính đa ngành của học viên. Ngoài những học viên đến từ bộ Công An, có 5 người tới từ khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ quốc tế NGOs và xã hội dân sự. Trong suốt cuộc thảo luận giữa NCHR và các đối tác: SOL/VNU, các cơ quan chức năng của Việt Nam, và tham khảo ý kiến của Liên Họp Quốc, liên minh Châu Âu EU, cộng đồng tài trợ quốc tế và các tố chức như Human Rights Watch. Giai đoạn này không có dự đoán gì nhiều, hầu hết dựa theo thực tế. Có những người bình xét rằng việc đầu tư vào giáo dục đại học gây lãng phí nguồn tài nguyên vốn đã nghèo nàn, kể từ giáo dục tiểu học và trung học. Một số ít tin tưởng dự án thực sự bắt đầu trong khi một số khác nghĩ rằng dự án sẽ nhanh chóng vấp phải những rắc rối và chùn xuống trước khi đạt được mục tiêu. Tuy nhiên, cũng có những đánh giá khả quan hơn cho rằng NCHR đã tuyên bố rằng bất kỳ loại hình giáo dục quyền con người nào cũng sẽ đánh dấu một bước đột phá, và một số quan sát cho thấy ngay cả khi đào tạo thạc sỹ chỉ thực hiện đối với nhân viên bộ công an, thì đó cũng là một thành tựu. Những người bỏ phiếu sau này cũng nghĩ rằng NCHR không nên đàm phán thêm vê việc ghi danh, thay vào đó là tập trung hom vào việc bắt đầu, và sửa đổi dự án khi nó tiến triển.

Những điểm gắn kết chính trong các cuộc thảo luận xung quanh chương trình thạc sĩ là, ai có thể đăng kí, là các kì thi tuyển sinh, và đặc biệt là các yêu cầu về ngôn ngữ cụ thể là tiếng anh. NCHR chỉ ra rằng những sinh viên không thẻ đọc và hiểu tiếng anh sẽ có ít cơ hội thực sự để hiểu về chương trình đào tạo và giảng viên nước ngoài. Trong khi đó, SoL/VNU lại cho rằng nếu các yêu cầu tiếng anh quá khắt khe, họ sẽ bỏ qua nhiều học sinh có động lực. NCHR và SoL/VNU cùng đi đến thỏa thuận đánh giá các yêu cầu về ngôn ngữ vào giữa và cuối chương trình để quyết định cách thức đảm bảo khả năng tiếng anh tốt hơn cho sinh viên. Các lớp học tiếng anh đã được đưa vào thời khóa giảng dạy. Nhưng, một vấn đề khác đặt ra là các chương trình giảng dạy, và cụ thể là sự đóng góp của Việt Nam vào các chương trình giảng dạy, đều không đáp ứng các tiêu chuẩn khoa học. Đạt được tiêu chuẩn khoa học có nghĩa là các ấn phẩm không phải đưa ra xem xét đánh giá. Cũng có những cuộc thảo luận bên ngoài nội dung chương trình và bài giảng kèm theo. Chúng không phải là không thích hợp, nhưng lại nặng về tuyên truyền và lịch sừ xét lại. Không có cách nào để tránh những tư liệu này, nhưng NCHR và SoL /VNU đã bắt đầu thảo luận về việc làm thế nào để xây dựng một khóa học về quyền con người ở châu Á, mà những tư liệu này có thể được đưa vào trong các cuộc tranh luật khoa học rộng hơn về những giá trị Châu Á. Cũng có những cuộc thảo luận về phương pháp giảng dạy và các vấn đề hành chính, như các lớp học buổi tối, học bổng, kinh phí nghiên cứu và xuất bản, và một cuộc thảo luận về các chiến lược giải thoát và sự khép lại tình hình dự án.

Khởi động - phởn phơ

Vào tháng mười một năm 2011, các giảng viên Việt nam đã kết hợp cùng các giảng viên quốc tế bắt đầu giảng dạy với sự phấn khích, sự gẳn kết, sự rộng mở, và ý thức tập thể. Trong một thời gian ngắn, chương trình thạc sỹ đưực nhắc đến với khẩu hiệu “của chúng ta”, “chúng ta làm được”. Việc giảng dạy được bắt đầu đã trở thành sự giải tỏa, sự giải phóng đáng hoan nghênh sau hai năm ròng đàm phán, tranh luận bế tắc và trì hoãn. Cảm nhận về thành tựu chung cũng rất nồng nhiệt và hợp pháp. Một số nhà hoạt động và tổ chức của Việt Nam và quốc tế đã thâm nhập vào giáo dục và quyền con người. Trong số đó có Viện nhân quyền Đan Mạch, Viện Roal Wallenberg, Đại học Luceme, một số tổ chức kể trên tiếp tục thực hiện giáo dục quyền con người ở Việt Nam song song với NCHR. Chính điều này đã tạo cơ hội lớn, giúp các tổ chức bổ sung cho nhau cùng làm việc. NCHR và SoL/VNU đã phải để tâm tới những nỗ lực trước đó, những thành tựu và ý nghĩa của chúng liên quan tới việc làm thế nào để các kết quả được tính toán, và được khớp nối với nhau. Một kết quả ngoài dự tính đã đến như một bất ngờ. Một khi, chương trình đào tạo thạc sỹ được khởi động, một số trường đại học Việt Nam đang tiến hành lồng ghép quyền con người vào chương trình giảng dạy hiện hành hoặc xây dựng những khóa học riêng biệt, đã liên hệ với NCHR. Đương nhiên, NCHR thu hút được tài chính, nhưng thường chỉ giải ngân khi các yêu cầu liên quan đến việc chia sẻ các chương trình học, giáo trình và phương pháp giảng dạy. Giáo dục quyền con người đã được mở rộng và duy trì thực hiện tới ngày nay. Trường Đại học Luật Hồ Chí Minh, Đai học Huế, Đại học cần Thơ, Đại học Đà Lạt, Đại học Hải Phòng, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Hồ Chí Minh, và có lẽ nhiều các tổ chức học thuật đã tiến hành giảng dạy về quyền con người dù có hay không có sự hỗ trợ từ các tổ chức nước ngoài đã đề cập.

Phát động khởi động - hồ nghi

Cảm giác thành tựu qua đi, không phải vì mất dần giá trị, mà vì tính mới lạ đã giảm dần, thế chỗ bởi những thói quen hằng ngày. Thời khóa giảng dạy, các bài viết, kì thi, sự phát triển chương trình giảng dạy, thư viện và các cơ sở dữ liệu cấu thành một khuôn khổ không thích hợp với dự án. Đối với các giảng viên nước ngoài, thách thức về lóp học riêng biệt đã làm chậm dự án. Các sinh viên không tin tưởng lẫn nhau để có thể thảo luận về các chủ đề được xem là nhạy cảm. Quyền con người vốn mang tính tranh luận và đã gây ra nhiều tranh cãi, không thờ ơ với chính trị, mà can thiệp vào trật tự chính trị và kinh tế. Quyền con người can thiệp vào cả chủ quyền quốc gia và quốc tế như cam kết nhà nước về nhân quyền buộc các nước phải tự chủ. Khi các quốc gia phê chuân các công ước hoặc chấp nhận các khuyến nghị thực hiện UPR, tức đã rút gọn nghĩa vụ thực thi của nhà nước. Khoảng cách thực hiện quyền con người nằm giữa cam kết mang tính quốc tế của nhà nước và các nỗ lực thực tế để nhận thức quyền con người. Theo cách này, lập chính sách và quy trình lập pháp cũng gặp thách thức khi thực hiện, nhưng việc thực hành quyền con người vẫn là khó khăn nhất.

Trong bối cảnh của chương trình đào tạo thạc sỹ, khoảng trống trong thực hiện đã nổi lên tại các lóp học. Làm thế nào để vượt qua nỗi sợ hãi và nghi ngờ trong quá trình nhận thức quyền được giáo dục về nhân quyền? Điều này đã được chính các sinh viên giải quyết từng phần. Họ đã đạt được thỏa thuận rằng những gì đã được thảo luận trong lóp học sẽ ở lại lớp học, trừ khi có thoả thuận khác. NCHR đã không thể ủng hộ một thỏa thuận như vậy, và các sinh viên và giảng viên tại SoL / ĐHQG có uy tín xứng đáng để đạt được điều này.

Một thách thức khác xuất hiện khá nhanh chính sự là đấu đá trong nội bộ tổ chức. Vấn đề tài chính và thực trạng chương trình thạc sĩ được đưa ra. Ngoài ra, chương trình không được phổ biến với từng phân khúc rồ ràng của việc thiết lập. Tìm kiếm kẽ hở, áp lực và các mối đe dọa gia tăng sự căng thẳng và áp lực hiện có lên các giảng viên và sinh viên tại SoL / ĐHQGHN. NCHR và SoL / ĐHQGHN, những người đã nỗ lực xây dựng lòng tin liên tục, trong khi những áp lực bên ngoài đã gây căng thẳng cho các quan hệ vào thời điểm đó. Từ quan điểm của NCHR cho rằng điều quan trọng là phải hiểu áp lực đến từ đâu, và ai là người đã chỉ ra các mối đe dọa dù họ hành động một mình hoặc phối hợp với những người khác, và trong trường họp phối hợp với những người khác thì cụ thể là với ai. Thật là dễ dàng để gạt bỏ ý nghĩ chủ nghĩa độc tài ỉà vô vị, nhưng đã có những tranh luận đưa ra thảo luận giữa những gì mà cảm nhận giống như những nỗ lực để rút ngắn dự án. Quyền con người đang thử thách một cách đầy trí tuệ trong một xã hội, một nền văn hóa nơi tư duy phân đôi theo luồng phổ biến của giới học thuật phương Tây là một khái niệm xa lạ. Những nhóm đối lập nhị nguyên, mà các học giả phương Tây sử dụng, chẳng hạn như cá nhân - xã hội, cá nhân - nhà nước, công — tư không đơn thuần phức tạp đối lập với tính nhất quán của Hiến pháp Việt Nam về tiền để của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), tất cả đều rất lạ lẫm. Những gì thường được lĩnh hội là một sự cố hữu độc đoán về việc ghép cặp quyền lợi và nhiệm vụ đã tiết lộ trên cơ sở nghiên cứu kĩ lưỡng hon, những khác biệt về mặt triết học pháp luật giữa luật Khổng tử, luật Anh- Mỹ và luật thuộc địa châu Âu (Shin 2012). Đối với việc thực hiện các quyền con người, những cuộc tranh luận không được phép biện hộ cho các vi phạm nhân quyền, mà chỉ nhằm nâng cao sự hiểu biết và nhận thức nhân quyền. Đây là trách nhiệm và nhiệm vụ khoa học của các nhà học giả.

Giai đoạn này của dự án không những trở nên phức tạp mà còn trở nên rắc rối. Đây là giai đoạn yếu ớt nhất của một dự án khi nó phải chuyển đổi liên tục loanh quanh lợi ích của các bên liên quan. Việt Nam đã đưa ra một vài dự đoán, nhưng cộng đồng quốc tế dàn dần đã trở nên hồ nghi. Sự phán đoán thứ hai và sự hồ nghi bắt đầu bao chùm các cuộc tọa đàm. Ngay sau khi khởi động, một số trường đại học nước ngoài đã tỏ ý trợ giúp về đội ngũ giảng viên. Trong một thời gian ngắn, dự án đã bị cuốn theo việc mời các giảng viên từ Mỹ, Châu Âu và Úc, và một một số đại lục khác. Giảng viên khách mời trở thành một vấn đề phức tạp. Các học giả nước ngoài giảng dạy chương trình thạc sỹ đã cấu thành một phần của thỏa thuận với các nhà chức trách Việt Nam. Điều này đã gây khó khăn cho SoL / ĐHQG khi đàm phán lại danh sách các giảng viên. Điều này đã nhanh chóng bị chỉ trích làm mất đi tính tự do khoa học. Có những lập luận có giá trị, nhưng cũng có nhiều giải thích rất bỗ bã mà bất kỳ trường đại học nào cũng nhận ra. Khi thời khóa giảng dạy đã được quyết định, khoảng trống cho các bài giảng bổ sung sẽ bị hạn chế. Thêm vào đó, ở giai đoạn này, không thể biết rõ hoàn toàn cách thức để các bài giảng có thể phù hợp với bất kể ai. SoL / ĐHQGHN và NCHR vẫn chưa có được những kinh nghiệm cần thiết để xác định những nhu cầu tiềm ẩn có thể cần các giảng viên khách mời đáp ứng. về sự cứng nhắc trong thỏa thuận về người có thể giảng dạy tại SoL / ĐHQG, các đối tác dự án phải chọn lựa chiến thuật của họ một cách khôn ngoan. Với tâm trạng băn khoăn trong nhóm sinh viên và giảng viên, cũng như mối quan hệ căng thẳng giữa NCHR và SoL / ĐHQGHN, có vẻ không khôn ngoan nêu mở ra vân đề tranh luận khác và phá vỡ nhiều rào cản hơn vào thời điểm đó. Đây là một vấn đề pháp luật thực sự.

Đến năm 2012, năm thứ hai của chương trình đào tạo thạc sĩ. Các sinh viên đang trong giai đoạn viết luận án và tham gia các kỳ thi. Một thành viên của cộng đồng tài trợ quốc tế tại Hà Nội tiếp cận NCHR và đưa ra lời bình xét rằng chương trình đào tạo thạc sĩ đang không được triển khai. Đây có lẽ là lời chỉ trích tồi tệ nhất đối với dự án bởi vì tính mơ hồ, có điểm vô nghĩa, và không để lại bất kể sự thay thế hành động nào. Luận điệu cho ràng chương trình này không hoạt động đã tóm tắt lại nguyên nhân dẫn đến thất bại trong việc dân chủ hóa Việt Nam. Không có điểm nào trong tài liệu dự án được đề cập với ý nghĩa như một mục tiêu cụ thể. Đây là một dự án về nghiên cứu và giáo dục về nhân quyền. Các đối tác nòng cốt là các trường đại học. Đâu là điểm xuất phát của dự đoán này? Sự giải thích tốt nhất hiện có đó là giả định rằng giáo dục quyền con người có nghĩa là dân chủ hóa. Dân chủ hóa tại Việt Nam là một vấn đề hoàn toàn khác, mà bài viết này sẽ không nhắc đến, nhưng lại là điều đáng quan tâm mà dự đoán này thể hiện.

Khi vấn đề này nảy sinh, NCHR nhận ra rằng sau giai đoạn hồ nghi được mô tả phần trước là giai đoạn tạm dừng để làm một số công việc thực thế, đã trở thành một cơn bão hoàn hảo. Sự im lặng đã đánh dấu chấm dứt vài tháng giảng dạy. Những người ban đầu lấy ý kiến về dự án đã tiết lộ. Đối với hầu hết các phần, cần kiên nhẫn, nhưng trong một số trường hợp sự hồ nghi đã lấn lướt qua. Chương trình đào tạo thạc sỹ có thực sự lớn đến thế? Làm thế nào để giáo dục quyền con người có thể thực hiện tốt ở Việt Nam? Những kiểu câu hỏi không thể giải đáp như vậy đã được đặt ra, và trở nên quan trọng trong khi phân biệt những góp ý có thông tin tốt và những lời phê bình xuất phát từ tin đồn. Một người ban đầu đã chỉ trích dự án cho thiếu tham vọng. Tranh luận cho quan điểm này đã đề cập đến hàng ngàn người Việt Nam có trình độ lừ nước ngoài cư trú tại Việt Nam, và những người đã vắng mặt trong dự án. Một dự án với mục tiêu ít ỏi như vậy sẽ thất bại trong việc thúc đẩy. Nếu NCHR mong đợi nhiều hơn thế. Mười tám tháng tham gia dự án, tuy nhiên, cùng một người đã nhận xét rằng NCHR trước đây quá lạc quan trong những đánh giá của họ về những thành tựu có khả năng đạt được tại Việt Nam. Có lẽ cách tiếp cận cân bằng về các kết quả đã định ra những điểm dự đoán không tưởng và bi quan. Phần tới sẽ quan sát các kết quả đã được khớp nối như thế nào, đồng thời quan sát các công cụ tùy ý sử dụng mơ hồ như thế nào.

Phân biệt tính phức tạp có thể giải thích và tính phức tạp rắc rối

Theo một số nghiên cứu sâu gần đây, các phương pháp tiếp cận công cụ chúng ta dùng để giải thích lịch sử và phát triển khiến chúng ta mất đi sự hiểu biết về các khía cạnh rời rạc, gia tăng, và trùng khớp ngẫu nhiên của sự phát triển các quy định dân chủ của nhà nước luật pháp phương tây. Những gì mà chúng ta để lại chính là một bài tường thuật rõ ràng đơn giản mà tất cả những gì quá thường xuyên đều đã được chuyển thành chương trình phát triển rõ ràng công bằng mà những mối quan hệ nhân quả của dự án không bao giờ diễn ra ở phương tây, nhưng chúng ta lại kì vọng xảy ra ở một nơi nào đó. (Kvanvig 2015, Judt 2008 , Moyn năm 2012 và năm 2014, Agamben 2011, Waldron 2011).

Chúng ta thường nhầm lẫn giữa những gì mang tính phức tạp không thể tháo gỡ và những gì chỉ mang tính phức tạp đơn thuần. Lý thuyết hệ thống giúp giải quyết vấn đề này. Ví dụ, một máy sấy có tính phức tạp, khi nó có một bộ cài đặt kép và hầu hết mọi người sẽ đưa ra lý luận giải thích một cách chính xác về các cách cài đặt khác nhau để tạo ra nhiệt và cường độ. Các máy sấy sẽ thực hiện những gì bạn mong muốn về nó khi bạn chọn một chế độ cài đặt. Và kết quả là có thể đoán được. Trong khi đó, hệ sinh thái, hệ thống tài chính, và xã hội lại có tính phức tạp và không thể dự đoán được. Chúng ta không thể đơn giản chỉ nhấn một nút để quyết định kết quả. Hệ thống phức tạp đặc trưng bởi sự đa dạng và tăng trưởng theo cấp số mũ trong các mối quan hệ nhân quả. Thật là hữu ích khi xem xét về dự án theo cách này. Như đã đề cập trước, chương trình đào tạo thạc sĩ về nhân quyền đã được Thủ tướng chính phủ chấp thuận, nhưng cũng không đủ để đảm bảo việc thực hiện. Xung quanh dự án có nhiều bên liên quan với nhiều mối quan tâm và chương trình nghị sự khác nhau. Tăng cường hỗ trợ cho các dự án đặt ra hàng loạt các mối quan hệ nhân quả có hiệu lực giữa các cử tri. Khả năng có thể dự báo được không được đặt ra. Điều này giải thích cho việc làm thế nào mà khi thiết kế dự án có tính phức tạp đơn thuần, có biện pháp thực hiện, nhưng trên thực tế nó trở lên rắc rối phức tạp, không thể lường được.

Kể từ những năm 1980, mô hình bao quát toàn bộ mà được khuyến nghị khi phát triển công tác đã biến đổi nhiều so với những gì mà ngày nay được biết đến là cách tiếp cận quản lý dựa trên kết quả (RBM). RBM là một công cụ quy hoạch và quản lý hữu ích, nhưng nó không phải là một cơ chế thực hiện, và cách nó được sử dụng ngày nay chính nó đoạt lấy việc báo cáo cơ hội tạo ra kiến thức, học tập, và cải thiện. Những sai lầm thiết yếu mà chúng ta thường mắc phải khi sử dụng RBM là chúng ta đã đặt các mối quan hệ nhân quả được dự đoán lên trước giá trị.

Chương trình đào tạo thạc sĩ là mục tiêu lên kế hoạch RBM ba năm với mục tiêu tổng thể hỗ trợ thành lập một cộng đồng khoa học tự duy trì về nhân quyền tại Việt Nam. Không có gì sai khi thiết lập các mục tiêu. Điều này đã giúp duy trì sự tập trung. Tuy nhiên, trong đó các tác động và kết quả được khớp nối cùng các chỉ số đo lường mang tính hai chiều. Nó chỉ tồn tại chỉ trên giấy tờ và thể hiện điều gì đó rất phức tạp chứ không chỉ là phức tạp đơn thuần. Đây là một mô hình đặt ra các dự đoán về các mối quan hệ nhân quả tương lai nhưng hầu như không bao giờ diễn ra. Khi chúng tôi chuyển sang báo cáo, chúng tôi báo cáo theo khuôn khổ tác động - kết quả, kết quả và các chỉ số và do đó tạo thêm vẻ bề ngoài khoa học cho công việc. Tuy nhiên, hàu hết thời gian, những báo cáo như vậy không phản ánh đầy đủ những gì thực sự diễn ra. Các báo cáo miêu tả những gì đã được mong đợi và điều chỉnh các kết quả hoặc thiếu dự đoán. Nhiều tác động phức tạp không thể lường trước được phát hỉện ra để đạt được kết quả mà hiếm khi được phản ánh cụ thể. Những sự tương tác phức tạp không thể lường được này nghe có vẻ tiến bộ, nhưng nếu được miêu tả, chúng lại tương đối tầm thường. Chúng thường đòi hỏi các cuộc họp chính thức và không chính thức, các cuộc cà phê, trà và bia, và cả những cuộc ăn uống. Trong cuốn từ điển bách khoa hiện tại về báo cáo phát triển, không có cách diễn đạt nào về việc một kết quả rút gọn việc có được một lon bia với những người không có vẻ là không khoái bia. Cuối cùng, không có một thỏa thuận tuyệt vời nào để học hỏi từ các báo cáo hoặc đánh giá dựa RBM đối với vấn đề đó. Tiếp cận thực thi trở thành công cụ, và do đó kỳ vọng của chúng ta trở nên yểu bệnh.

Sự kỳ vọng chương trình đào tạo thạc sĩ dân chủ hóa Việt Nam đã là một sự may mắn trá hình bởi vì nó buộc NCHR phải suy nghĩ tới những dự đoán. Nếu có thể lên kế hoạch một cách đơn giản cho các kết quả, thì hầu như điều gì cũng có thể đạt được. Thất bại thường được mô tả theo nghĩa thiếu quyết tâm chính trị, và ở Việt Nam không thiếu những quyết tâm chính trị ở Việt Nam; Có rất nhiều sự quyết tâm, quyết tâm trong các chương trình nghị sự và các quá trình phát triển ngày càng gia tăng theo cấp số mũ. Các cử tri ở Việt Nam làm việc hướng tới phê chuẩn hiệp ước hoặc khuyến nghị UPR có quyết tâm và có năng lực lớn trong việc đảm bảo kết quả. Tuy nhiên, một khi các điều ước quốc tế đã được phê duyệt hoặc các khuyến nghị được chấp nhận, trong khi tìm cách thực thi quyền con người, họ phải đối mặt với sự phản đối tương tự mà họ đã gặp phải trong khi cân nhắc phê chuẩn.

Thưc hiên dài han - chán nản

SoL / ĐHQGHN và NCHR cùng xử lý những lời chỉ trích xấu nhất, thiết lập niềm tin và tiếp tục hợp tác. Những thách thức trọng yếu đối với giáo dục nhân quyền tại Việt Nam vẫn còn, nhưng dự án đang đứng vững chắc hơn so bản thân nó. Những gì có thể thay đổi là không quá nhiều để các đối tác trong dự án có thể xoa dịu những lời chỉ trích, nhưng nhiều khả năng là họ đang dần chán nản với dự án. Tin tức cũ hiếm khi được lan truyền, và dự án tiếp tục làm những gì nó được cho là phải làm; giáo dục học sinh về quyền con người và tạo ra các ấn phẩm nghiên cứu về nhân quyền tại Việt Nam.

Lớp sinh viên thứ ba đã được tuyển sinh SoL / ĐHQGHN bảo đảm phục vụ các nhà khoa hoc trẻ Việt nam trong giảng dạy và nghiên cứu. Năm 2011 không có tố chức quốc tế nào xem xét các ấn phẩm nghiên cứu bởi các học giả Việt được đưa vào các tổ chức Việt Nam. Hiện nay đã có một số. Trong dự án này đã đạt được các tiêu chuẩn căn bản. Năng lực và chất lượng khoa học của các ấn phẩm đều được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn. Giáo dục được cải thiện đáng kể khi được các nhân viên có khả năng đăng tải các bài nghiên cứu trên trường quốc tế thực hiện. Tính bền vững có nhiều ý nghĩa và năng lực hơn so với chính các tổ chức. Tổ chức rất dễ bị thay đổi trong quản lý và nhân sự, nhưng các học giả có thể di chuyển tới những nơi có cơ hội, mà họ vẫn mang theo đầy đủ năng lực của mình. Do đó, kết quả kì vọng được xây dựng là một cộng đồng khoa học chứ không phải là một trường đại học.

Các nghiên cứu đã được ấn bản do các học giả Việt Nam như Vũ Công Giao, Đặng Dung, Bùi Thiêm Hải và Bùi Ngọc Sơn thực hiện, là vô giá đối với lĩnh vực này bởi vì chúng cung cấp các quan điểm về các cuộc tranh luận pháp lý và chính trị ở Việt Nam mà các đồng nghiệp nước ngoài không thể thực hiện được. Thật tự nhiên khi đó chính là điểm thuận lợi, sự hiểu biết tường tận khác biệt mới mẻ và tốt hơn so với các học giả tới từ Mỹ, Australia, và Châu Âu. Tuy nhiên, sẽ có những con cá mập giữa đại dương khi các học giả tiến bộ hơn nữa ở Việt Nam.

Tương lai của giáo dục quyền con người ở Việt Nam

Chúng ta đã đi đến bế tắc trong một vài phạm vi. Những cơ hội tiếp nối trong 4 năm ã được khai thác triệt để như có thể hiểu được. Chúng đã vượt qua những dự đoán ở một số lĩnh vực, nhưng vẫn rất mong manh. Các học giả ở Việt Nam phải chịu đựng cả sự thiếu tự do khoa học mà không chỉ thuộc về chính trị. Tham nhũng trong việc bao che, dung túng và chủ nghĩa dung túng đã gây cản trở việc thành lập một chế độ nhân tài khoa học. Học sinh lao động dưới những kì vọng sai lệch như sự khác biệt giữa những gì cấu thành nên giáo dục và đào tạo thường xuyên bị che khuất. Một cảm giác về quyền lợi giữa các giảng viên và sinh viên cung cấp cho các học giả tự do phóng nhiệm- tự do kinh tế, trí tuệ và sự chặt chẽ và phát triển phải chịu đựng. Từ góc nhìn của NCHR, không ở đâu có thể nhìn thấy rõ hơn trong cuộc thảo luận về các yêu cầu tuyển sinh. Giáo dục trình độ thạc sĩ theo định nghĩa là tinh hoa. Các học sinh không đủ tố chất, hoặc đủ siêng năng sẽ không thể hoàn thành chương trình để được nhận bằng.

Họ sẽ không được hưởng lợi từ các nghiên cứu của họ. Điều này chỉ ra một chân lý căn bản giữa giáo dục đại học và phát triển. Tại một số điểm xa dời mục tiêu, nơi sự phát triển tìm ra cách để tạo ra số lượng, giáo dục đại học dần dần thu hẹp các cấp bậc. Điều này mở rộng phạm vi trách nhiệm xã hội của học giả liên quan tới những gì đáp lại khoản xã hội đầu tư xứng đáng cho. Ở Việt Nam đây là một vấn đề.

---------------------------

* Trung tâm Nhân quyền Nauy