Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Cơ hội hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục quyền con người

PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa, TS. Phan Nhật Thanh

19/08/2016

Buôn Ma Thuột, ngày 27/12/2014

CƠ HỘI HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI

PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa, TS. Phan Nhật Thanh*

Trong thời gian qua, hoạt động nghiên cứu và giáo dục quyền con người ở Việt Nam đã có những thay đổi, phát triển rõ nét cả về số lượng và chất lượng. Sự thay đổi này có thể quan sát được không chỉ ở trong khuôn khổ riêng lẻ của từng trường đại học, đơn vị nghiên cứu; mà trên diện rộng, đã có sự liên kết, trao đổi giữa các đơn vị nhờ vào sự hoạt động của mạng lưới nghiên cứu và giáo dục quyền con người. Kết quả của hoạt động nghiên cứu và giáo dục về quyền con người đã có những tác động tích cực đến quá trình lập pháp và nhận thức trong sinh viên nói riêng và cộng đồng nói chung. Để tiếp tục có những sự thúc đẩy cho sự phát triển hoạt động nghiên cứu và giáo dục quyền con người trong tương lai, chúng tôi thiết nghĩ chúng ta cần nhìn nhận, đánh giá về những cơ hội hợp tác trong lĩnh vực này.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích và đánh giá một số cơ hội hợp tác giữa các trường đại học và đơn vị nghiên cứu để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và giáo dục quyền con người. Chúng tôi cho rằng, chúng ta đang có những cơ hội họp tác trong nghiên cửu và giáo dục quyền con người từ các khía cạnh: những thay đổi trong cơ sở chính trị - pháp lý; nhận thức và sự quan tâm đến vấn đề quyền con người trong giảng viên, sinh viên; chương trình đào tạo; cơ sở vật chất và tài liệu nghiên cứu - giảng dạy; tài chính. Mặt khác, trong mỗi cơ hội chúng tôi cũng nhìn thấy một số khó khăn, hạn chế mà chúng ta cần phải vượt qua, khắc phục để tận dụng cơ hội được tốt hơn.

1.       CƠ SỞ CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ

Có thể thấy vấn đề nghiên cứu và giáo dục quyền con người liên tục phát triển, cả trên bình diện thế giới và ở các quốc gia. Nhìn từ góc độ toàn cầu, giáo dục quyền con người là một hình thức cơ bản không chỉ nhằm nâng cao nhận thức các giá trị quyên con người mà còn hoàn thiện đức tin và thái độ của cá nhân và cộng đông nhằm hiện thực hóa việc bảo vệ các quyền cơ bản.

Nội dung chủ yếu của giáo dục quyền con người tập trung vào các vấn đề cụ thể như quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử, không đối xử bạo lực cũng như tôn trọng quyền con người. Quyền con người phải được thực hiện một cách xuyên suốt trong cả hệ thống giáo dục và môi trường đào tạo.

Theo Chương trình hành động về giáo dục quyền con người của Liên hiệp quốc, các quốc gia cần có sự nhận thức, hợp tác nhằm thiết lập các trung tâm nghiên cứu và giáo dục về quyền con người.[1]

Nội dung chương trình bao gồm cung cấp thông tin và chương trình giáo dục mang tính thực tiễn về quyền con người để quyền con người có thể thực thi một cách hiệu quả nhất trên thực tế; khuyến khích các quốc gia thành viên các công ước quốc tế về quyền con người cần có những chương trình giáo dục mang tính phổ quát, rộng rãi cho tất các đối tượng đều được tham gia.[2]

Từ năm 2004, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thiết lập Chương trình thế giới về giáo dục quyền con người. Mục tiêu chương trình là phổ biến, giáo dục những nguyên tắc cơ bản và đặc biệt là các phương pháp giáo dục quyền con người với sự liên kết giữa các quốc gia, vùng và quốc tế. Chương trình xác định rõ 3 giai đoạn: 1) giai đoạn 1 (2005 - 2009) tập trung vào việc nâng cao giáo dục quyền con người ở bậc tiểu học và phổ thông cơ sở; 2) giai đoạn 2 (2010 - 2014) tập trung giáo dục quyền con người ở bậc đại học và sau đại học, giải viên, viên chức công chức nhà nước và quân đội; 3) giai đoạn 3 (2015 - 2019) là giai đoạn tập trung nâng cao vào việc thực hiện mục tiêu của hai giai đoạn đầu và giáo dục quyền con người cho giới truyền thông, báo chí.[3]

Riêng về các quốc gia Đông Nam A, có thể thấy việc giáo dục về quyền con người ngày càng phổ biến và nâng cao rõ rệt, nhất là từ sau Tuyên bo cua Liên hợp quốc về Thập niên giáo dục nhân quyền (1995 - 2005). Có thể thấy hàng loạt các văn kiện chính trị - pháp lý liên quan đến quyền con người và giáo dục quyền con người như Tuyên bố về sự tiến bộ của phụ nữ của ASEAN (1988); Chương trình hành động Hà Nội (1997 - 2004); Chương trình hành động Viêng Chăn (2004 - 2010); Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực chống lại phụ nữ ở khu vực ASEAN (2004); Tuyên bố chống lại việc buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em ở ASEAN (2004). Năm 2007, các nước thành viên ASEAN đã thông qua Hiến chương của Hiệp hội các nước Đông Nam Á, bước đầu đã xây dựng được cơ chế bảo vệ quyền con người bao gồm các cơ quan: ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR); ủy ban thực hiện Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú (ACMW) và ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC).

Trên những cơ sở chính trị - pháp lý đó, các quốc gia như Việt Nam, Phipippines, Thái Lan đã xây dựng và giảng dạy môn học quyền con người cho các chương trình giáo dục quốc gia. Philippines có Chương trình giáo dục nhân quyền quốc gia và quy định hẳn trong Hiến pháp Philippines 1987, ngoài ra philippines còn có tổ chức Liên minh những người vận động nhân quyền Philippin (PAHRA) với mục đích kêu gọi thúc đẩy nhân quyền; Trung tâm thông tin nhân quyền Philippin (Philippine Human Rights Information Center - PhilRights) cũng được thành lập với chức năng là lưu trữ, nghiên cứu, phân tích và cung cấp các thông tin về quyền con người. Từ năm 1993, ủy ban chuyên giao quyền lực Liên hợp quốc tại Cambodia đã tuyển các chuyên gia giáo dục pháp luật quyền con người, đặc biệt tuyên truyền giáo dục cho đội ngũ hành nghề y. Riêng Thái Lan thành lập Quỹ TTF (Thongbai Thongpao Foundation) để trợ giúp pháp lý và các vấn đề liên quan đến quyền con người cho cư dân khu vực nông thôn...[4]

Đối với Việt Nam, nghiên cứu và giáo dục quyền con người được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Qua các Văn kiện của Đảng như Văn kiện đại hội Đảng lân thứ 5 năm 1982 và thứ 6 năm 1986, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 “2010, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) đều xác định lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất,[5] kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân.[6] Đặc biệt, các văn kiện gần đây xác định con người là trung tâm của chiến lược phát triển và là chủ thể cùa sự phát triển. Vì lẽ đó, giáo dục về quyền con người đã được xây dựng trong các chương trình giảng dạy từ bậc tiểu học đến bậc đại học. Không chỉ tư duy về mặt lý luận, bằng đường lối, chính sách cụ thể của mình, Đảng đã đề ra những cơ chế thực tiễn để nâng cao quyền con người, trong đó đặc biệt là giáo dục.

Trên sự định hướng của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tham gia nhiều công ước về quyền con người hay các công ước có liên quan đến quyền con người. Cho đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập hầu hết các điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người[7] như: Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng; Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác Apacthai; Công ước về các quyền dân sự và chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt, đối xử với phụ nữ; Công ước về không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống lại nhân loại, ... trong những năm 1981 - 1983 và đến năm 1989, Việt Nam đã tham gia ký kết và phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng như hàng loạt các công ước khác có liên quan đến quyền trẻ em do Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua. Có thể nói rằng, tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người là sự thể hiện cam kết chính trị pháp lý mạnh mẽ nhất của nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ quyền con người của Việt Nam trước nhân dân và cộng đồng thế giới.

Bên cạnh việc tham gia các công ước, Việt Nam đã nội luật hóa các điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật của mình nhằm thực thi và phổ biến rộng rãi quyền con người (ví dụ Hiến pháp 2013 quy định nội dung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Có thể nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quyền con người đã được thể hiện rõ ràng và trang trọng nhất). Nhìn từ góc độ giáo dục quyền con người. Việt Nam đã hình thành nhiều trung tâm nghiên cứu và giáo dục quyền con người trên cả nước, đưa môn học quyền con người vào các chương trình giảng dạy cụ thể ở các bậc học. Riêng tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, nhiều năm qua, “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” là một môn học bắt buộc trong chương trình cử nhân và sau đại học. “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” là một môn khoa học pháp lý - chính trị nghiên cứu những vấn đề chung nhất về các quyền cơ bản của con người và của công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Môn học này nghiên cứu những vấn đề vế quyền con người bao gồm lịch sử quyền con người, những học thuyết và pháp luật về quyền con người trên cả hai bình diện quốc tế và quốc gia. Cùng nhiều trung tâm và viện nghiên cứu khác, có thể nói vần đề quyền con người ngày càng được nghiên cứu sâu rộng và mang tính chuyên biệt cao.

Nhìn chung, pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia đều quan tâm một cách thiết thực đến việc nghiên cứu và giáo dục quyền con người. Tuy nhiên vẫn còn ít nhiều những hạn chế nhìn từ góc độ chính trị và pháp lý của quyền con người.

Thứ nhất, vẫn còn quan điểm khác biệt giữa cộng đồng quốc tế về quyền con người, vấn đề này đã tồn tại từ rất lâu, đặc biệt là từ khi Tuyên bố Bangkok (Bangkok Declaration 1993) nêu rõ quan điểm của các nước Đông Nam Á về tính phô quát và tính đặc thù của quyền con người đã gây ra những bất đồng nhất định đối với các quốc gia phương tây. Cho dù hơn 20 năm trôi qua nhưng vấn đề này vẫn còn tranh cãi (dù các nước đã cố gắng tìm tiếng nói chung) cho đến ngày nay.

Thứ hai, vấn đề về nội luật hóa các điều ước quốc tế. Các công ước quốc tế về quyền con người khi các quốc gia tham gia ký kết thường được đưa vào hệ thống pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, đây là một quy trình lập pháp mang tính chuẩn mực nên cần nhiều thời gian với nhiều trình tự và thủ tục khác nhau. Do đó, việc phổ cập nội dung các công ước vào các chương trình giáo dục vẫn tồn tại những bất cập nhất định.

2.       NHẬN THỨC VÀ SỰ QUAN TÂM VÊ QUYỀN CON NGƯỜI

Ở nước ta, vấn đề quyền con người được quan tâm từ rất sớm. Nhận thức về vấn đề này được khẳng định rõ ràng nhất có thể lấy mốc thời gian từ Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Lời nói bất hủ ấy mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập được trích trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, không chỉ là tư tưởng lớn về độc lập, tự do của dân tộc mà còn là tư tưởng cơ bản về quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, trong các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau, vấn đề quyền con người ngày càng được quan tâm đúng mực không chỉ trong quan niệm mà còn trong thực tiễn ứng dụng, cụ thể là sự chỉ đạo sâu sát về giáo dục nhận thức quyền con người trong hệ thống các khối phổ thông và Đại học trong cả nước.

Tương tự như ở nhiều nước khác trên thế giới, ở Việt Nam các nội dung về quyền con người chủ yếu được nghiên cứu, giảng dạy tại các trường Đại học chuyên ngành Luật, Chính trị, Quan hệ quốc tế,... Năm 1994, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) thành lập Trung tâm nghiên cứu nhân quyền (nay đã được đôi tên thành Viện nghiên cứu quyền con người), đây là cơ quan nghiên cứu về quyên con người đầu tiên ở Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, trung tâm này chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về nhân quyền, chứ không thực hiện chức năng giảng dạy. Sau đó, một loạt các Trung tâm nghiên cứu về quyền con người ở các đơn vị khác cũng dần được thành lập, có thể kể đến: Viện Nghiên cứu con người (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); Khoa Luật (Đại học Quốc gia Hà Nội); Trung tâm nghiên cứu pháp luật về Quyền con người và quyền công dân (Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng kết quả nghiên cứu và giảng dạy trong thời gian đầu mới thành lập còn rất khiêm tốn. Trong vài năm gần đây, sự hỗ trợ của những Trung tâm nghiên cứu quyền con người với những hoạt động cụ thể đã góp phần không nhỏ giúp các cơ sở đào tạo Luật tại Việt Nam (gồm Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Tp. HCM, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Kinh tế-Luật thuộc Đại học quốc gia Tp. HCM, Khoa Luật - Đại học KHXH&NV thuộc Đại học Huế, Khoa Luật - Đại học cần Thơ, Khoa Luật - Đại học Đà Lạt, Khoa Luật Kinh tế - Đại học Kinh tế quốc dân và Khoa Luật kinh tế - Đại học Kinh tế TP.HỒ Chí Minh) gia tăng nhận thức về quyền con người trong cả giảng viên và sinh viên.

Hàng năm, mạng lưới các Trung tâm nghiên cứu quyền con người tại các Sở đào tạo luật đều tổ chức các buổi Tọa đàm, hội thảo về quyền con người, các khóa tập huấn kỹ năng giảng dạy môn học có lồng ghép pháp luật quyền con người thu hút sự tham gia của đông đảo chuyên gia, giảng viên đang nghiên cứu và giảng dạy về lĩnh vực này. Có thể kế đến một số hoạt động tiêu biểu như: Khóa tập huấn "Luật nhân quyền quốc tế và hoạt động cảnh sát" do Học viện CSND phối hợp với Viện nhân quyền Đan Mạch tổ chức năm 2008; tập huấn "Giảng dạy lồng ghép quyền con người trong các môn học ngành luật" do Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội tổ chức năm 2014; Tọa đàm "Phương pháp giảng dạy các môn học có lồng ghép quyền con người” do Đại học Luật TP.HCM tổ chức năm 2014... Không chỉ giới hạn ở các chương trình trao đồi trong nước, mạng lưới quốc gia về giáo dục quyền con người trong những năm qua đã không ngừng mở rộng và phát triển, kết nối được với các trường đại học, các giảng viên và các chuyên gia nghiên cứu về quyền con người trong nước và quốc tế. Từ đó, các Hội thảo quốc tế đã được tổ chức thường xuyên tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo Luật nhằm giúp các chuyên gia tìm hiểu sâu sắc hơn về lý luận, khái niệm về quyền con người trên thế giới, từ đó đề cập đến những chủ đề cần nghiên cứu và giảng dạy về quyền con người đối với bộ môn Luật ở các trường đại học tại Việt Nam.

Sự chủ động của các trường Đại học đào tạo Luật trong việc khuyến khích giảng viên nghiên cứu, giảng dạy về quyền con người còn được thể hiện ở những khóa học kỹ năng với chuyên gia Nhân quyền của nước ngoài. Viện Nhân quyền Đan Mạch trong khuôn khổ Dự án DANIDA mỗi năm đều cử chuyên gia đến làm việc với các trường Đại học trong mạng lưới nhằm phối hợp tổ chức các buổi trao đổi, tập huấn kỹ năng nghiên cứu, giảng dạy về quyền con người dành cho giảng viên, các buổi nói chuyện chuyên đề với sinh viên. Ngoài ra, có thể kế đến các khóa học mùa hè về quyền con người theo từng chủ đề do Viện Raoul Wallenberg về Nhân quyền và Luật Nhân đạo (RWI) thuộc Đại học Tổng hợp Lund, Thụy Điển tổ chức cũng tạo được nhiều sự quan tâm và thu hút nhiều giảng viên trẻ tham gia. Một số chuyến tham quan, học tập về quyền con người tại các cơ sở đào tạo Luật tại nước ngoài được tổ chức cũng tạo điều kiên để giảng viên trong nước tiếp cận và học hỏi được nhiều kiến thức bổ ích, nâng cao khả năng chuyên môn phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật quyền con người sau này.

Đối với sinh viên, nhu cầu tìm hiểu về pháp luật quyền con người cũng ngày càng được nhân rộng. Bên cạnh hoạt động học tập, sinh viên Luật hiện nay rất tích cực tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, cũng như các phong trào do Nhà trường và Đoàn thanh niên tổ chức. Nắm bắt được những nhu cầu đó, từ năm 2008 đến nay, dưới sự tài trợ của Dự án DANIDA, không chỉ riêng Trường Đại học Luật TP.HCM mà đổi với các Trường khác trong cùng mạng lưới, việc ưu tiên cấp kinh phí hỗ trợ để sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật quyền con người đã góp phần thúc đẩy cho hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu về quyền con người trong sinh viên, số lượng đề tài nghiên cứu khoa học về pháp luật quyền con người tăng dần theo từng năm, các đối tượng, chủ thể trong vấn đề "quyền" được sinh viên quan tâm ngày càng được mở rộng, mang tính thời sự. Cuộc thi tìm hiểu về quyền con người do Đoàn thanh niên phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu pháp luật về quyền con người và quyền công dân trường Đại học Luật TP.HCM tổ chức đã tăng từ 1446 sinh viên trong năm đầu tiên thành 4312 sinh viên tham gia trong năm thứ hai tổ chức. Các buổi nói chuyện chuyên đề về quyền con người do các giảng viên trong nước và chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy cũng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao nhận thức về quyền con người trong sinh viên.

Như vậy, có thể thấy rằng sự quan tâm của giảng viên, sinh viên về vấn đề quyền con người ngày càng gia tăng trong từng đơn vị và ở mỗi mạng lưới. Sự nhận thức và quan tâm về vấn đề quyền con người là một cơ hội để các trường, các đơn vị đào tạo hợp tác với nhau trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về quyền con người.

3.       CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

Giáo dục về quyền con người đã được phổ cập trong chương trình học của các bậc từ tiếu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đến đại học và sau đại học. cấp tiểu học thì quyền con người thể hiện trong môn đạo đức với nội dung cơ bản là giúp các em tiếp cận quyền con người thông qua những vấn đề cụ thể như tôn trọng người khác, giáo dục hình thành nhân cách. Cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông giáo dục quyền con người trong môn Giáo dục công dân và nội dung cũng được nâng cao khi các em được học về các công ước quốc tế về nhân quyền và một số quyền cơ bản được quy định trong Hiến pháp Việt Nam. Bậc đại học và sau đại học bên cạnh những môn học có liên quan đền quyền con người thì đặc biệt có những môn học nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người.[8] Chương trình đào tạo thường tập trung vào những kiến thức chung sẽ bao gồm các vấn đề: (i) Các khái niệm cơ bản liên quan đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân cũng như đặc điểm, lịch sử hình thành và phát triển của quyền con người và quyền công dân; (ii) Quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam về quyền con người và quyền công dân như Bộ luật nhân quyền, các công ước và nghị định thư khác liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể, pháp luật Việt Nam về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; (iii) Cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền con người và quyền công dân; Dự báo được xu hướng phát triển cơ bản của pháp luật và cơ chế bảo đảm việc thực hiện pháp luật về quyền con người và quyền công dân. Môn học về quyền con người có thể môn bắt buộc (như các trường chuyên ngành luật) hoặc tự chọn (đối với một số trường không chuyên ngành luật).

Hiện nay, Việt Nam có nhiều trung tâm quyền con người. Có thể liệt kê như Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu con người (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); Trung tâm nghiên cứu pháp luật về Quyền con người và quyền công dân (Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh)... Có thể nói đây là minh chứng hết sức rõ ràng thể hiện việc nghiên cứu và giảng dạy quyền con người ở Việt Nam. Giữa các trường và đơn vị nghiên cứu, giảng dạy đã có những quan tâm chung về các vấn đề quyền con người, điều này tạo thuận lợi cho chúng ta có thể hợp tác với nhau trong những dự án liên kết nghiên cứu (joint research), trao đổi giảng viên, sử dụng các tài liệu nghiên cứu và giảng dạy của nhau để làm giàu thêm kho tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên trong hoạt động nghiên cứu và giáo dục quyền con người.

Tuy nhiên, trong quá trình giáo dục về quyền con người, có thể có những khó khăn sau:

Thứ nhất, có thể thấy rằng nội dung môn học mới, có những giá trị nhận thức mang tính khác biệt về quan điểm quyền con người trên thế giới và giữa các quốc gia. Điều này sẽ gây nhiều khó khăn cho người dạy lẫn người học vì người học ít tiếp cận lý luận nên lý luận sẽ không đủ thuyết phục. Ngoài ra, nhiều thuật ngữ còn xa lạ đối với người học (ví dụ thuật ngữ người bản địa, dân tộc thiểu số, bộ tộc...) nên giảng viên phải mất nhiều thời gian giải thích thuật ngữ (và đôi khi có phải giải thích nguồn gốc thuật ngữ cũng như sự nhận thức khác nhau về thuật ngữ giữa các quốc gia).

Thứ hai, khó khăn về nguồn tài liệu. Giảng viên sử dụng tài liệu tiếng Anh là chủ yếu. Tuy nhiên, điều này hết sức khó khăn vì tiếng Anh học viên còn hạn chế (mà giảng viên lại không thể dịch tất cà các tài liệu cho học viên). Một số văn bản pháp lý về quyền con người tuy có dịch ra tiếng Việt nhưng nếu người đọc nghiên cứu được bản gốc tiếng Anh vẫn tốt hơn.

Thứ ba, tâm lý ngại trình bày về vấn đề nhạy cảm. Có thể đây là bản tính chung của người Châu Á nói chung và của người Việt Nam nói riêng - ít tranh cãi về một vấn đề nhạy cảm như nhân quyền. Lý do có thể là họ cho rằng mình chưa hiểu rọ vấn đề nên không nói. Tuy nhiên, cũng có khi họ sợ khi trình bày ỉại sai quan điểm, không đủ lập luận để bảo vệ cho quan điểm của mình.

Thứ tư, có thể xảy ra căng thẳng trong tranh luận và thảo luận nhóm. Điều này nghe có vẻ mâu thuẫn với khó khăn thứ ba nhưng đây là một kinh nghiệm thực tiễn. Điều này là do chủ đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân bao trùm lên tất cả các quan hệ xã hội. Khi người học chuyên sâu về một lĩnh vực mà họ quản lý, họ sẽ có kiến thức thực tiễn tốt và đây là nguyên nhân dẫn đến tranh luận với các nhóm khác. Ngoài ra, đối khi vấn đề liên quan đến tôn giáo, quyền bình đẳng nam, nữ, quyền được sống và quyền được chết, hay việc nhiều quốc gia còn áp dụng biện pháp tử hình... cũng là những chủ đề nóng, gây nhiều tranh luận căng thẳng.

Thứ năm, áp lực thời gian và khối lượng công việc nên thời gian nghiên cứu và học tập bị hạn chế. Thời lượng môn học đối với chương trình có thể giao động từ 1 đền 3 tín chỉ. Thời gian nghiên cứu không đủ. Ngoài ra, đa phần là tài liệu đều do giảng viên cung cấp. Người học không đủ thời gian để nghiên cứu sâu.

4.       CƠ SỞ VẬT CHẤT, TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU - GIẢNG DẠY

Việc tiếp cận, nghiên cứu và giáo dục quyền con người đòi hỏi phải có cơ sở nghiên cứu và nguồn tài liệu ổn định, về cơ sở vật chất, mặt tích cực mà chúng ta có thê thấy được là việc giáo dục quyền con người ngày càng được nhân rộng và phô biên thông qua các trường học, việc nghiên cứu và nhất là các trung tâm nghiên cứu về quyền con người. Đây có thể xem là xuất phát điểm mang tính chuyên nghiệp cho việc nghiên cứu và giáo dục quyền con người. Các cơ sở này không những góp phần nâng cao nhận thức quyền con người mà còn là nơi triển khai những kết quả nghiên cứu hoặc chuyển giao những kết quả nghiên cứu đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phập luật quốc gia, nhất là pháp luật về quyền con người.

Bên cạnh việc hình thành các cơ sở nghiên cứu và xây dựng chương trình giảng dạy quyền trong người tại các viện và trường học, tài liệu về quyền con người cũng được tập hợp và bổ sung một cách đáng kể. Tại các trung tâm nghiên cứu về quyền con người (như Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội) đều có tủ sách nhân quyền. Một số trường khác như Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh có riêng thư viện nhân quyền - thư viện mang tính chất chuyên biệt dành cho các đối tượng nghiên cứu chuyên về lĩnh vực quyền con người. Tài liệu bằng bản in và đặc biệt là tài liệu số hóa cũng như tài liệu trên các trang mạng cũng được đầu tư và bổ sung liên tục.

Hiện nay tuy mạng lưới internet phổ biến nhưng điều đó không có nghĩa là việc tiếp cận quyền con người được dễ dàng. Như cũng đã được đề cập ở phần trên, tài liệu nghiên cứu và giáo dục quyền con người tuy ngày càng phổ biến và dễ tìm nhưng đa phần được viết bằng tiếng Anh (nguồn tài liệu tiếng Việt đôi khi quan điểm trùng nhau nên hạn chế trong việc nhận thức mang tính so sánh). Ngoài ra, nguồn tài liệu trên các trang mạng rất nhiều nên việc tìm kiếm cần có chọn lọc. Một số tài liệu quý thì phải qua các trang mạng có thu phí, việc này cùng gây ít nhiều khó khăn cho người đọc.

5.       TÀI CHÍNH

Tài chính và cơ chế tài chính là một trong những yếu tố then chốt, quan trọng đối với sự phát triển các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy pháp luật về quyền con người. Vì vậy, vấn đề tài chính là một trong những thách thức lớn đối với việc tiếp tục duy trì và phát triển các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về quyền con người cả ở phương diện số lượng và chất lượng. Đối với hoạt động nghiên cứu, tài chính cần thiết cho việc thu thập, tham khảo tài liệu, khảo sát thực tiễn và kể cả thu nhập cho người nghiên cứu. Đối với hoạt động giảng dạy, tài chính cần thiết cho việc đầu tư, trang trải cho chi phí về cơ sở vật chất; tài liệu học tập, giảng dạy; công cụ, phương tiện giảng dạy và chi phí cho nhân sự tham gia gián tiếp và trực tiếp vào hoạt động giảng dạy.

Trong những năm qua, sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ Đan Mạch đóng một vai trò rất quan trọng đối với việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và giáo dục về quyền con người ở Việt Nam, và đặc biệt là ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Trường Đại học Luật TPHCM và Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội. Sự hỗ trợ tài chính này đã tạo được một bước ngoặt quan trọng và tạo ra sự phát triển mạnh mẽ về nghiên cứu và giáo dục về quyền con người ở các đơn vị đã nêu. Nấu không còn sự hỗ trợ tài chính này nữa, các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về quyền con người sẽ bị ảnh hưởng. Nhưng trong hai hoạt động này, theo chúng tôi, hoạt động giảng dạy về quyền con người ít bị ảnh hưởng hơn; bởi vì trong thời gian vừa qua, các môn học đã được sửa đổi, bổ sung hồ sơ môn học để lồng ghép về quyền con người. Các tài liệu học tập và giảng dạy cũng đã được biên soạn. Chi phí giảng dạy cho giáo viên sẽ được các cơ sở đào tạo chi trả từ ngân sách chung cho hoạt động giảng dạy của nhà trường. Hơn nữa, chúng ta cũng đã có được nhiều giảng viên có kiến thức vững vàng và quan tâm thật sự về vấn đề quyền con người cho nên họ sẽ tự nguyện lồng ghép trong giảng dạy. Mặt khác, hoạt động nghiên cứu về quyền con người sẽ bị ánh hưởng lớn. Do vậy, để tiếp tục duy trì các hoạt động này, trong thời gian tới, các đơn vị cần tìm kiếm những nguồn tài chính thay thế hoặc bù đắp.

Theo chúng tôi, nguồn tài chính cho hoạt động nghiên cứu và giảng dạy vê quyên con người trong thời gian tới cần được phát huy từ cả ngân sách cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của mỗi đơn vị. Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 25/10/2014 quy định việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học, trong đó các nguồn chi cho hoạt động khoa học và công nghệ được tăng lên.[9] Đây là một cơ hội để các đơn vị dành một phần ngân sách cho hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về quyền con người của đơn vị mình. Các loại hoạt động được sử dụng từ nguồn ngân sách này cũng rất đa dạng, như: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ quản lý khoa học và công nghệ; Xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học trẻ tài năng; Xây dựng hệ thống thư viện, tạp chí, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu về khoa học và công nghệ; Mua tài sản trí tuệ, bản quyền truy cập cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ của nước ngoài; Tồ chức các hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; Hỗ trợ kinh phí công bố bài báo trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín; Thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp.[10]

Tuy nhiên, trong cơ hội này, cũng càn phải thấy một số khó khăn. Thứ nhất là khó khăn về cơ chế thanh toán. Với tư cách là người quản lý đồng thời là những người nghiên cứu thụ hưởng một số khoản đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, chúng tôi nhận thấy cơ chế tài chính chi cho hoạt động nghiên cứu vẫn còn một vài hạn chế cần tiếp tục được xem xét, khắc phục:

-        Các quy định về quản lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học trong các văn bản quản lý nhà nước được thiết kế thiên theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát các khoản chi cho khoa học và công nghệ. Chính vì vậy, các khoản chi thường được chia nhỏ thành các hạng mục chi tiết, có định mức chi giới hạn. Các chủ nhiệm đề tài, dự án cũng phải xây dựng các dự toán kinh phí chi tiết ngay từ đầu và các khoản kinh phí không được chi sai so với dự toán. Các khoản chi cũng thường phải có hóa đơn, chứng từ để chứng minh...

-        Các quy định về quản lý chi tiêu như vậy một mặt là góp phần đảm bảo chi ngân sách đúng theo mục đích ban đầu khi lập dự toán, tuy nhiên, mặt khác, các các định mức chi quá cụ thể và cứng nhắc, chậm thay đổi, nên rất dễ lạc hậu sau một thời gian áp dụng.

-        Các quy định cứng, không cho phép sự linh hoạt so với dự toán ban đầu, trong nhiều trường hợp, cũng khiến cho những người nghiên cứu gặp khó khăn trong việc xử lý các chi phí phát sinh, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu. Hơn nữa, do nhiều quy định về thủ tục, giấy tờ cần thiết cho việc chứng minh các khoản chi là hợp lệ người nghiên cứu phải giành nhiều thời gian cho các công việc mang tính hành chính gây ảnh hưởng đến tâm lý và nhiệt tình của những người nghiên cứu.

Thứ hai, nguồn ngân sách này dùng cho nhiều lĩnh vực, không chỉ nghiên cứu, giảng dạy về quyền con người. Do vậy, đối với những cơ sở đào tạo không có môn học về quyền con người hoặc lồng ghép về quyền con người sẽ gặp khó khăn.

Ngoài ra, đối với nguồn tài chính cho hoạt động nghiên cứu và giáo dục về quyền con người, các tài trợ của Chính phủ Đan Mạch trong suốt nhiều năm vừa qua đã có vai trò rất quan trọng. Nếu những tài trợ này chấm dứt, chúng ta sẽ gặp những khó khăn nhất định trong việc tiếp tục triển khai các hoạt động. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, nhiều quốc gia bị ảnh hưởng vì thế khoản đầu tư cho khoa học, giáo dục bị giảm sút. Trong bối cảnh đó, việc thuyết phục, thu hút các nguồn đầu tư, tài trợ cho hoạt động nghiên cứu, giáo dục về quyền con người từ bên ngoài sẽ khó khăn, không thuận lợi.

Tóm lại, theo chúng tôi chúng ta đang có những cơ hội để thúc đẩy sự hợp tác về hoạt động nghiên cứu, giảng dạy về quyền con người. Tuy nhiên, trong mỗi cơ hội đó đều có những khó khăn, thách thức nhất định, do vậy, để hợp tác được và hợp tác tốt, chúng ta cần phải cùng nhau xem xét sâu hơn về những thách thức, khó khăn để vượt qua chúng, khai thác những cơ hội vì lý tưởng chung là thúc đẩy, tăng cường các hoạt động nghiên cứu và giáo dục về quyền con người ở mỗi đơn vị và cả mạng lưới.

* Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh


[1] General Assembly, United Natỉons, Human Righis Education Decade (General Assembly Resolusion 48/127 ngày 14/02/1994.

[2] General Assembly, United Nations, United Nations Decade for Human Rịghts Education, 1995-2004, and public information activities in the field o/human right (Report of the Secretary-General), par. 14.

[3] United Nations Human Rights, World Programme for Human Rights Education (2005-ongoing) http://www.ohchr.oni/EN/lssiies/Education/Trainining/Pagcs/Programme.aspx (truy cập ngày 13/10/2015).

[4] Richard Pierre Claude, Educating for Human Rights: Asian Challenges and Achievements lìHp://\v\vw.carnegiecouncỉl.ori>/piiblications/archive/dialouue/l 09/articles/565.html (truy cập 13/10/2015

[5] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sàn Việt Nam, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,

http://123.30.190.43:8080/tienaviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=l 9l&subtopic=8&leader topic =223&Ìd=BT2540631692 (truy câp ngàv 29.12.2013).

[6] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chù nghĩa xã hội 1991, Bào điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,

http://123.30.190.43:8080/tienaviet/tulieuvankien/vankiendanư/details.asp?toDÌc=l9l&subtODÌc=8&leader topic =224£id=BT2440654662 (truy cập ngày 29.12.2013).

[7] Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người: tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 2010. tr 339.

[8] Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay http://www.nhanquyen.vn/modules.php?name=:Ne\vs&op=detailsne\vs&mid=l04&incid=ĩl6 (truy cập 21/10/2015)

[9] Xem Điều 12 Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 25/10/2014 quy định việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giảo dục đại học.

[10] Xem Điều 4 Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 25/10/2014 quy định việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học.

 

Các tham luận khác