Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ

Sự chuẩn bị của thanh niên đối với việc gia nhập cộng đồng ASEAN và các khuyến nghị

Hà Thị Hồng Hạnh

07/10/2016

Hà Nội, 24/5/2016

SỰ CHUẨN BỊ CỦA THANH NIÊN ĐỐI VỚI VIỆC GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG ASEAN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ

Hà Thị Hồng Hạnh

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.Tổng quan về hội nhập quốc tế, thời cơ và thách thức

Chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ XI đánh dấu giai đoạn mới của hội nhập quốc tế Việt Nam nhằm phục vụ phát triển và nâng cao vị thế đất nước và triển khai đường lối đối ngoại. Xuất phát từ xu thế khách quan và nhằm đáp ứng nhu cầu mới của đất nước, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với các cơ quan, hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, vấn đề cần thiết là nhận thức đầy đủ hơn tính tất yếu của hội nhập, liên kết quốc tế, nội dung hội nhập trong thời kỳ mới, cũng như thời cơ và thách thức. Từ đó, xác định các giải pháp để tham gia, đóng góp đối với tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước. 

Hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế và nước ta hiện nay hoàn toàn khác trước, kể cả giai đoạn kể từ khi nước ta gia nhập WTO năm 2007 đến nay. Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 đã thúc đẩy nhanh những chuyển dịch trên phạm vi toàn cầu cũng như ở từng nước, khu vực cũng như tương quan sức mạnh kinh tế giữa các trung tâm. Xu hướng đa trung tâm, đa tầng nấc đang ngày càng khẳng định. Nền tảng kinh tế thế giới có những chuyển dịch căn bản, toàn cầu hóa và công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ.

Với những thành tựu của 30 năm đổi mới và chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập quốc tế trở thành nhân tố quan trọng hơn bao giờ hết để tạo thế và lực của Việt Nam trong cục diện đang định hình. Do đó, hội nhập quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới.

- Trước hết, khác với các giai đoạn trước, hội nhập quốc tế giai đoạn hiện nay đòi hỏi đổi mới tư duy, chuyển từ “mở rộng quan hệ, gia nhập và tham gia hợp tác quốc tế” sang “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”. Với tầm và quy mô hội nhập hiện nay, các mối quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam không đơn thuần là “hội nhập” mà ở tầm “liên kết”.

- Thứ hai, cần tăng cường cách tiếp cận đa ngành, liên ngành và đa phương. Đây là xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, các nội hàm liên kết trở nên sâu rộng hơn, với nhiều đối tác hơn, mang tính liên ngành, đa lĩnh vực, đa tầng nấc, ở mọi cấp độ tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu.

- Thứ ba, phát triển bền vững, sáng tạo và ứng phó với các thách thức toàn cầu là nội hàm quan trọng của hội nhập quốc tế. Điều này là phù hợp với xu thế chuyển đổi sang mô hình bền vững và sáng tạo, tăng trưởng xanh, từ tư duy kinh tế, tư duy phát triển, cách tiếp cận đến cách thức quản trị kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh trên mọi tầng nấc.

- Thứ tư, để có thể tận dụng cơ hội, tiềm năng của liên kết quốc tế về công nghệ, quản lý, nguồn lực và tham gia vào tầng nấc cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, cần có sự đột phá trong cải cách, đổi mới trong nước, nhất là về thể chế, khuôn khổ pháp lý, năng lực thực thi hội nhập quốc tế, trình độ, kỹ năng, ngoại ngữ của nguồn nhân lực. Cùng với đó là việc hình thành các chính sách tham gia hội nhập, liên kết quốc tế trong từng lĩnh vực và thiết lập các cơ chế chỉ đạo, phối hợp phù hợp với tình hình mới.

Từ những yêu cầu đặt ra cho Hội nhập quốc tế, cần xác định các thời cơ và thách thức để đưa ra các giải pháp có hiệu quả.

1. 1. Thời cơ và thuận lợi là rất cơ bản

- Với triển vọng hoàn tất đàm phán và triển khai 15 hiệp định FTA trong giai đoạn đến năm 2020, lần đầu tiên Việt Nam sẽ trở thành một mắt xích quan trọng của mạng lưới liên kết kinh tế rất rộng lớn với tất cả các trung tâm và các nền kinh tế hàng đầu thế giới. Các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp ta đứng trước những thuận lợi lớn chưa từng có để mở rộng thị trường xuất khẩu, với tư cách là một đối tác bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, theo mức thuế ưu đãi, thậm chí là 0%, với 58 đối tác mà ta có hiệp định FTA. Ðây là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ của nước ta, tạo thêm việc làm, góp phần tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

- Hội nhập quốc tế sâu rộng tạo động lực mới để thúc đẩy đổi mới sâu rộng, hoàn thiện môi trường pháp lý, thể chế kinh tế thị trường, cải cách hành chính, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước ngày càng minh bạch hơn, làm thông thoáng môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia có tiềm lực tài chính lớn, công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến. 

- Hội nhập quốc tế sâu rộng tạo thời cơ, thuận lợi mới để triển khai chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, làm sâu sắc và nâng tầm các quan hệ đối tác, tạo thế đan xen lợi ích dài hạn với tất cả các trung tâm kinh tế - chính trị hàng đầu thế giới, đem lại thế và lực mới cho đất nước, củng cố môi trường hòa bình, ổn định.

- Với chủ trương “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”, nước ta có điều kiện cùng các nước hoạch định các chính sách toàn cầu, nhất là về kinh tế, thương mại, thúc đẩy hình thành một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, trong đó có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp Việt Nam trong tranh chấp thương mại quốc tế.

- Các hiệp hội và doanh nghiệp trong nước có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào với giá cạnh tranh hơn, dịch vụ hỗ trợ tiện lợi hơn, chất lượng cao hơn, tiết kiệm chi phí sản xuất…, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh. Người dân trong nước có thêm nhiều sự lựa chọn phong phú về hàng hóa, dịch vụ với chất lượng cao và giá cả cạnh tranh.

1.2. Thách thức, khó khăn

- Thách thức lớn và trực diện nhất là sức ép cạnh tranh gay gắt hơn trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia. Các sản phẩm và doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm và doanh nghiệp nước ngoài không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay trên thị trường nội địa. Chính phủ Việt Nam phải cạnh tranh với chính phủ các nước trong cải thiện môi trường thu hút đầu tư, nguồn nhân lực... Các lĩnh vực kinh tế vốn được bảo hộ bị thách thức gay gắt do việc cắt giảm thuế quan, như ngành sản xuất ô-tô, mía đường, gạo, xăng dầu…

- Các Bộ, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp đứng trước đòi hỏi phải hiểu biết nhiều và vận dụng hiệu quả các luật lệ, quy định kinh tế, thương mại cũng như văn hóa kinh doanh của nhiều nước và nhiều thị trường hơn trước, đặc biệt trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại. Các FTA mới đòi hỏi phải điều chỉnh luật lệ, chính sách không chỉ về kinh tế, thương mại mà cả các vấn đề phi thương mại, như quyền của người lao động, tiêu chuẩn lao động, tự do hiệp hội - công đoàn, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ…

- Với xu thế chuyển dịch lao động giữa các nước tham gia FTA, thách thức đối với các cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội, người lao động trong nước là sức ép về trình độ, tri thức và tay nghề, nguy cơ tranh chấp quốc tế (các FTA mới có quy định cao về giải quyết tranh chấp)… Trong khi lực lượng lao động Việt Nam chưa qua đào tạo còn chiếm tỉ trọng lớn, số lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao còn thiếu; Đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam thiếu và hạn chế về năng lực hội nhập; thiếu đội ngũ luật sư giỏi để giải quyết các tranh chấp thương mại và tư vấn cho các doanh nghiệp.

- Hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, những biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường hàng hóa quốc tế, xung đột, tranh chấp sẽ tác động nhanh hơn, mạnh hơn đến nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển bền vững của Việt Nam; thách thức về bảo đảm an ninh, giữ gìn bản sắc dân tộc, sự phát triển không đều...

- Những yếu kém, bất cập trong nước bộc lộ rõ hơn và nếu không được xử lý kịp thời và thỏa đáng thì sẽ làm gia tăng nguy cơ tụt hậu của Việt Nam. Chuyển biến trong tư duy trong nước chưa kịp với tình hình quốc tế và tốc độ hội nhập quốc tế của Việt Nam. Khu vực tư nhân còn manh mún, quy mô nhỏ, thiếu nguồn vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị… Các hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp hiểu và tham gia hội nhập rất hạn chế, thụ động. Cơ chế điều phối còn bất cập.

1.3. Một số giải pháp chung

Từ những thuận lợi và khó khăn thách thức nêu trên, cần đổi mới cách nghĩ, cách làm trong tham gia các hoạt động hội nhập, liên kết quốc tế theo hướng “chủ động tham gia, tích cực đề xuất và đóng góp”. Tư duy mới là nâng lên tầm khu vực và toàn cầu - đó là tư duy của một Cộng đồng ASEAN trên 600 triệu dân, một thị trường, không gian kinh tế rộng lớn của 56 đối tác FTA đại diện 65% dân số, 95% GDP và 84% thương mại thế giới. Cách làm mới là liên kết, hợp tác liên ngành, đa ngành và đa phương, bền vững, nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh của địa phương, doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh gay gắt với các đối tác lớn, mạnh hơn.

- Đẩy mạnh phổ biến nội dung các cam kết hội nhập của Việt Nam, nhất là các hiệp định FTA, chính sách, biện pháp cụ thể để tận dụng thời cơ, xử lý thách thức của hội nhập.

- Hoàn thiện thể chế pháp lý hướng tới hài hòa hóa chính sách với các
cam kết quốc tế; hình thành các chiến lược lớn về hội nhập quốc tế, tham gia FTA; rà soát và đẩy mạnh triển khai lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế… Hiện nay rất cần hiệp hội và doanh nghiệp đóng góp ý kiến, đề xuất để hình thành các yêu cầu, cam kết của ta trong tham gia các thỏa thuận quốc tế, các đàm phán FTA.

- Đẩy mạnh nâng cao năng lực thực thi hội nhập quốc tế; tăng cường xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, có tri thức, kiến thức, kỹ năng hội nhập và kỹ năng nghề, đồng thời các cơ quan, hiệp hội cần đẩy mạnh đổi mới quản lý phù hợp tình hình, nhất là trong tình hình có nhiều yếu tố bất ổn, bất định. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ, đội ngũ luật sư, đào tạo nghề, gắn với nhu cầu xã hội và yêu cầu của hội nhập quốc tế. 

- Đổi mới cách thức, kiện toàn cơ chế phối hợp liên ngành, phù hợp với những chuyển biến nhanh của tình hình và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Công tác chuẩn bị trong nước để hội nhập quốc tế đang có những bước chuyển quan trọng, nổi bật là việc ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, trong đó đề ra các định hướng lớn về hội nhập và xác định hội nhập kinh tế là trọng tâm.

2.Sự chuẩn bị của thanh niên đối việc gia nhập Cộng đồng ASEAN

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc Việt Nam tham gia vào cộng đồng ASEAN và các cộng đồng kinh tế khác sẽ tạo ra nhiều thời cơ và thách thức đối với nền kinh tế. Xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN vì mục tiêu hòa bình, ổn định, phát triển và hướng tới người dân là dấu mốc quan trọng trong lịch sử của ASEAN. Dưới một mái nhà chung, các dân tộc ở Đông Nam Á sẽ chung sống, gắn kết, chia sẻ lợi ích và phát triển trên chặng đường mới của mình. Để hiện thực hóa điều này, các quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam chúng ta đã đề ra những mục tiêu, biện pháp cụ thể, thiết thực trong lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời phát huy vai trò, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân trong việc chung tay xây dựng “Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng”, trong đó tuổi trẻ thanh niên được đánh giá là một phần không thể thiếu trong việc đẩy nhanh việc hoàn thiện cộng đồng. Thanh niên với vai trò là lực lượng chính, nòng cốt trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc có trách nhiệm xung kích thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của mình nhằm góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đưa đất nước ta hội nhập mạnh mẽ, bền vững với thế giới và khu vực các nước trong khối ASEAN.

Nhận thức được điều này, thế hệ trẻ Việt Nam cần không ngừng tự học, tự rèn luyện và đặt ra cho mình những mục tiêu nghề nghiệp để tham gia thị trường lao động quốc tế. Gia nhập cộng đồng chung ASEAN, cho phép người lao động di chuyển trong khu vực, điều này đồng nghĩa lao động Việt Nam sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh việc làm từ lao động các nước. Bên cạnh sự thay đổi từ hệ thống đào tạo các trường đại học, cao đẳng, bản thân người học, những lao động trẻ cần có sự chuẩn bị nghiêm túc về văn hóa, chuyên môn và kỹ năng hội nhập để trở thành một công dân toàn cầu.

Mỗi thanh niên phải có những hiểu biết nhất định về ASEAN và tiến trình phát triển của cộng đồng chung để có những chuẩn bị cần thiết về các mặt như: cần học hỏi, đáp ứng vốn kiến thức ngoại ngữ sâu rộng cùng với thanh niên các nước Đông Nam Á, các kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, tìm hiểu về văn hóa các nước bạn, có thể mở các lớp học về văn hóa các nước ASEAN nói chung. Việc hiểu được văn hóa các nước sẽ giúp ích cho việc hội nhập và phát triển một cách bền vững.

Vấn đề nâng cao kỹ năng của thanh niên Việt Nam vẫn là đề tài xuất hiện trong nhiều hội thảo, từng được các chuyên gia trong và ngoài nước phân tích, mổ xẻ và cũng là vấn đề khiến nhiều sinh viên khi ra trường khó tìm kiếm công việc phù hợp. Các kỹ năng như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, giao tiếp và ngoại ngữ… được đánh giá là thiếu và yếu của thanh niên. Bản lĩnh và sự tự tin của thanh niên Việt Nam hiện nay chưa cao. Ngay từ khi được đào tạo trong nhà trường, có thể do phong cách giảng dạy của các thầy cô, phương pháp học khiến cho học sinh, sinh viên trở thành đối tượng chỉ ngồi phía dưới và hướng lên phía trên để nghe thầy nói, chứ không phải cấu trúc mà trong đó sinh viên có thể trao đổi ý kiến với thầy cô giáo. Thứ hai, điều kiện để thế hệ trẻ tiếp xúc với doanh nghiệp, với xã hội chưa sớm và chưa nhiều. Sinh viên từ năm thứ nhất cần phải được tham gia sinh hoạt cộng đồng, tham quan thực hành tại các xí nghiệp nhiều hơn. Từ những nguyên nhân đó hình thành nên tâm lý thiếu tự tin, ngại thể hiện của Thanh niên Việt Nam.

Để chuẩn bị cho hội nhập quốc tế nói chung và cộng đồng ASEAN nói riêng, cần phải xây dựng khung đào tạo chuẩn để bằng cấp của ta tương thích với bằng cấp các nước ASEAN sẽ giúp cho sinh viên tốt nghiệp ra trường dễ dàng cạnh tranh với lao động trong khu vực. Lao động Việt Nam có thể đi tới các quốc gia ASEAN làm việc và cùng được trả một mức lương, vì cùng một khung trình độ năng lực với các nước trong khu vực.

Việc chuẩn bị được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai từ rất sớm, nhằm chuẩn hóa trình độ đào tạo. Rõ ràng là chuẩn bị cho quá trình hội nhập cộng đồng chung ASEAN phải được sinh viên, những người lao động trẻ tương lai đầu tư ngay từ bây giờ. Muốn thành công trong môi trường cạnh tranh, người Việt trẻ phải có ý thức mở rộng kiến thức nghề nghiệp, nâng cao năng lực tư duy khoa học, độc lập, lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, áp dụng công nghệ mới không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp… để hình thành một thế hệ thanh niên có tri thức, bản lĩnh, vững vàng hội nhập quốc tế, góp phần mang trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam sánh cùng với bạn bè quốc tế.

Việc lựa chọn nghề nghiệp và định hướng công việc cũng là vấn đề cần được thanh niên quan tâm.  Khi chính thức thành lập, AEC sẽ thực hiện tự do luân chuyển năm yếu tố căn bản: vốn, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động lành nghề. Các chuyên gia cho rằng, sự “tự do” này vừa là cơ hội cho thị trường lao động Việt Nam, đồng thời cũng là thách thức không nhỏ khi một lượng lớn lao động từ các nước ASEAN vào Việt Nam sẽ tạo nên cuộc cạnh tranh với lao động trong nước. Ngoài ra, khi tham gia AEC, ngoài việc có kỹ năng nghề nghiệp giỏi, người lao động còn cần có ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác để có cơ hội tham gia làm việc tại các quốc gia thành viên. Nếu lao động Việt Nam không ý thức được điều này thì sẽ thua ngay trên “sân nhà” bởi chúng ta khó cạnh tranh về trình độ tay nghề, chuyên môn với nhiều quốc gia trong Cộng đồng.

Để thích ứng với hoàn cảnh mới, người lao động nói chung và thanh niên nói riêng cần phải học hỏi, cập nhật và rèn luyện kỹ năng mới để theo kịp các nước trong khu vực. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập vào Cộng đồng ASEAN, tuổi trẻ chúng ta đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức lớn đó là: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của một số bộ phận thanh niên nhìn chung còn thấp. Trong thanh niên nhận thức về học nghề, chọn nghề, định hướng nghề nghiệp còn nhiều lệch lạc, việc làm và thu nhập thấp vẫn đang là những vấn đề bức xúc trong thanh niên, ngôn ngữ giao tiếp, nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế của các nước chưa nhiều; chất lượng tay nghề còn thấp và còn khoảng cách khá lớn so với các nước trong khu vực. Sức khoẻ và thể chất của thanh niên còn thấp hơn các nước trên thế giới rất nhiều, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ trong thanh niên thiếu ý thức rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của mình, non kém về nhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn…

Trước những thời cơ thuận lợi và những thách thức mới khi Việt Nam trong quá trình gia nhập cộng đồng ASEAN và hội nhập kinh tế quốc tế, bản thân chúng ta, hơn lúc nào hết phải nhận thấy rõ vị trí, vai trò của mình đối với sự phát triển của đất nước, nhận thức được khó khăn lớn nhất của mình trong giai đoạn này là sự cạnh tranh quyết liệt về trí tuệ để đạt tới những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng như trình độ quản lý để không lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Mỗi một thanh niên cần nhận thức và ý thức được vai trò của mình trong tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN, cần tích cực tự học tập, tự rèn luyện và tự nghiên cứu để nâng cao trình độ về mọi mặt, phải trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đồng thời cần tìm hiểu về văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế, ngôn ngữ,… của các nước trong khu vực để chủ động nâng cao năng lực hội nhập. Đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của thanh niên, của tổ chức Đoàn các cấp để cùng đất nước gặt hái được nhiều thành công trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế năm 2016 và những năm tiếp theo.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      ĐỀ ÁN Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho sinh viên Việt Nam, giai đoạn 2015 – 2018 (Ban hành kèm theo Quyết định số:02 QĐ/TWHSV ngày 13 tháng 11 năm 2015 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam.

2.      Nguyễn Nguyệt Nga (2016), Một số vấn đề đối với nước ta khi tham gia TPP và các FTA thế hệ mới , Hội thảo Ngành Ngân hàng Việt Nam và một số vấn đề đặt ra khi nước ta tham gia TPP và các FTA thế hệ mới, ngày 2/3/2016.

3.      TS. Nguyễn Bích Thủy,  Những tác động của hiệp định thương mại tự do đối với kinh tế Việt Nam,   đăng trên website tapchitaichinh.vn ngày 27/1/2016: http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/nhung-tac-dong-cua-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-doi-voi-kinh-te-viet-nam-75864.html

Các tham luận khác