Hội nghị Dân tộc học năm 2021: Phát triển sinh kế bền vững của các tộc người ở nước ta hiện nay
  • 3.5 top logo - tin hoi nghi hoi thao

Hội nghị Dân tộc học năm 2021: Phát triển sinh kế bền vững của các tộc người ở nước ta hiện nay

02/12/2021

Thực hiện chương trình Dân tộc học quốc gia thường niên năm 2021, được sự đồng ý của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm), sáng ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Dân tộc học tổ chức Hội nghị Dân tộc học năm 2021 với chủ đề phát triển sinh kế bền vững của các tộc người ở nước ta hiện nay. Hội thảo được tham dự hai hình thức là trực tiếp và trực tuyến. PGS.TS. Bùi Nhật Quang, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm đã đến chủ trì và phát biểu khai mạc.

PGS.TS. Bùi Nhật Quang, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm phát biểu khai mạc và đề dẫn tại Hội nghị

Hội nghị vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách quý đến từ các tổ chức nghiên cứu, đào tạo và quản lý Nhà nước về lĩnh vực dân tộc. Về phía các tổ chức nghiên cứu, giáo dục và quản lý nhà nước có TS. Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội; PGS.TS. Bế Trung Anh, Ủy viên Hội đồng Dân tộc Quốc hội; PGS.TS. Lâm Bá Nam, Chủ tịch Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam; PGS.TS. Trần Trung, Giám đốc Học viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc; TS. Nguyễn Cao Thịnh, Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ủy ban Dân tộc; TS. Triệu Văn Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc, Văn phòng Quốc hội; PGS.TS. Nguyễn Văn Sửu, Trưởng khoa Nhân học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Về phía Viện Hàn lâm có; PGS.TS. Nguyễn Văn Minh, Viện trưởng Viện Dân tộc học và đại diện lãnh đạo các viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm.

Sinh kế là các hoạt động con người thực hiện dựa trên năng lực, các nguồn lực hay tài sản mình có để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, góp phần phát triển cộng đồng và xã hội. Sinh kế bền vững “là một sinh kế có khả năng thích ứng, hồi phục sau khi trải qua những cú sốc và những thời điểm khó khăn, đồng thời có khả năng duy trì và tăng cường các năng lực, tài sản trong hiện tại cũng như tương lai mà không làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có” (Bộ Phát triển Quốc tế Anh-DFID,2000).

Ở nước ta, hoạt động sinh kế của các dân tộc rất đa dạng, linh hoạt để sinh tồn và phát triển; phần lớn các dân tộc vẫn chủ yếu thực hành sinh kế theo truyền thống là sản xuất nông nghiệp kết hợp với các hoạt động kinh tế khác để đảm bảo đời sống. Bên cạnh đó, nền kinh tế tri thức, kinh tế xanh, kinh tế số bắt đầu định hình và phát triển, đã đóng góp quan trọng cho việc nâng cao chất lượng nền kinh tế đất nước, tăng năng suất lao động, giá trị và sức cạnh tranh của các sản phẩm tạo ra.

Phát biểu khai mạc và đề dẫn tại Hội nghị, PGS.TS. Bùi Nhật Quang nhiệt liệt chào mừng sự góp mặt đông đảo của các đại biểu tham dự trực tiếp và trực tuyến và bày tỏ niềm tin đây là Hội nghị có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Chủ tịch Viện Hàn lâm đã chỉ ra những mặt hạn chế về sự thiếu tính bền vững về sinh kế của các dân tộc ở nước ta hiện nay, mặc dù sinh kế của các dân tộc tuy đã có bước phát triển và chuyển đổi mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước, song vẫn còn thiếu tính bền vững, được thể hiện trên các mặt:

Thứ nhất, các hoạt động kinh tế - xã hội ở các địa phương, đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số và biên giới còn thiếu tính chủ động, sự điều tiết và kiểm soát của Nhà nước chưa đạt hiệu quả cao; phụ thuộc và chịu sự tác động nhất định của các yếu tố bên ngoài, nhất là từ những quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh.

Thứ hai, các hoạt động kinh tế - xã hội của nhiều dân tộc thiểu số chủ yếu vẫn tiến hành theo phương thức khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên để đổi lấy lợi ích trước mắt. Xu hướng này không chỉ thể hiện ở việc sản xuất ra hàng hóa và của cải vật chất mà còn đối với cả việc cho thuê, khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản, lâm thổ sản, cây thuốc dược liệu, thủy sản, nguồn lực con người.

Thứ ba, mặc dù cơ cấu kinh tế của các dân tộc thiểu số đã từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa thương mại, dịch vụ… nhưng chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp và khai thác nguồn lợi tự nhiên; chất lượng và số lượng hàng hóa phụ thuộc vào sự đầu tư, thu mua của các doanh nghiệp và thương lái ở trong và ngoài nước; thiếu tính chủ động trong cơ chế quản lý của nhà nước về qui mô sản xuất, loại hình sản phẩm, thị trường tiêu thụ, giá cả…

Thực tế đó đòi tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu tổng kết, bổ sung phát triển lý luận, thực tiễn về sinh kế và sinh kế bền vững nhằm góp phần làm rõ thực trạng phát triển sinh kế bền vững của các dân tộc ở nước ta hiện nay, nhất là vùng dân tộc, thiểu số, vùng biên giới, ven biển và hải đảo; đánh giá ảnh hưởng của phát triển sinh kế bền vững ở các dân tộc đến đời sống kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, chính trị của các vùng miền và đất nước; phân tích nguyên nhân tác động và dự báo xu hướng biến đổi sinh kế của các dân tộc ở nước ta trong thời gian tới…

PGS.TS. Bùi Nhật Quang đề nghị các đại biểu, các nhà khoa học tập trung trao đổi, thảo luận về một số nội dung trọng tâm: (1) Các vấn đề lý luận, cách tiếp cận, phương pháp và nội dung nghiên cứu về sinh kế và phát triển sinh kế bền vững trên thế giới nói chung và của các tộc người ở Việt Nam nói riêng; (2) Những vấn đề sinh kế, chuyển đổi sinh kế, phát triển sinh kế bền vững dựa trên các nguồn lực của các tộc người ở những vùng miền, địa phương trong nước và liên biên giới, xuyên quốc gia; (3) Ảnh hưởng của các vấn đề sinh kế, nhất là chuyển đổi các hình thức sinh kế đến phát triển bền vững kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, ổn định chính trị, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ tài nguyên và môi trường sống của các tộc người nói riêng và đất nước nói chung; (4) Những yếu tố tác động đến sinh kế, chuyển đổi sinh kế và phát triển sinh kế bền vững: chính sách, thị trường, chất lượng sản phẩm, môi trường sống, dịch bệnh, nguồn tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu, giáo dục và đào tạo, thông tin và tri thức, nguồn nhân lực, tôn giáo tín ngưỡng, văn hóa tộc người, phong tục tập quán, quan hệ tộc người ở trong nước và liên biên giới/ xuyên quốc gia, các yếu tố khu vực và thế giới…; (5) Dự báo các xu hướng và đề xuất những kiến nghị về chính sách nhằm phát triển bền vững sinh kế bền vững của các tộc người ở nước ta hiện nay.

Hội nghị nhận được 100 báo cáo tham luận từ các nhà khoa học, nhà quản lý ở Trung ương và địa phương quan tâm đến các vấn đề sinh kế của các dân tộc ở nước ta hiện nay. Các báo cáo tham luận đã đề cập đến những vấn đề mới trên nhiều lĩnh vực từ góc độ tiếp cận khác nhau.

Dưới sự đồng chủ trì gồm: PGS.TS. Bùi Nhật Quang, TS. Nguyễn Lâm Thành; PGS.TS. Lâm Bá Nam và PGS.TS. Nguyễn Văn Minh, Hội nghị được lắng nghe 05 tham luận được trình bày: PGS.TS. Vương Xuân Tình, Viện Dân tộc học – Văn hóa với sinh kế của các tộc người thiểu số ở Việt Nam; PGS.TS. Lâm Minh Châu, Đại học KHXH và NV, Hà Nội- Từ khả năng sản xuất đến tiềm năng tiêu thụ: Mở rộng cách tiếp cận về phát triển sinh kế bền vững cho các tộc người ở Việt Nam hiện nay; TS. Bùi Thị Bích Lan, Viện Dân tộc học- “Nguồn lực mềm” trong đời sống sinh kế vùng tái định cư thủy điện: vấn đề và giải pháp; TS. Nguyễn Công Thảo, Viện Dân tộc học – Thiên tai và thích ứng trong sinh kế của người dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt – Lào; ThS. Vũ Đình Mười, Viện Dân tộc học – Nội dung và hướng nghiên cứu về sinh kế tộc người ở Việt Nam hiện nay: Tổng quan và một số gợi mở.

Phát biểu tại Hội nghị, TS. Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc quốc hội đã đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của chủ đề cũng như các báo cáo của các học giả, đáp ứng được yêu cầu cho công cuộc đổi mới và đặc biệt là phục vụ cho việc thực hiện 02 Nghị quyết quan trọng của Quốc hội về Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Đồng thời, Tiến sỹ Nguyễn Lâm Thành cũng nhấn mạnh đến mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng giữa văn hóa và kinh tế. Theo đó, Đảng ta xác định, Văn hóa là động lực, trụ cột, nền tảng của sự phát triển. Trong mối quan hệ văn hóa và kinh tế, văn hóa là yếu tố nội sinh, biểu đạt trong sinh kế; văn hóa là nguồn lực cho sinh kế.  Kinh tế trong văn hóa sẽ là vai trò chủ đạo. Đây là cơ hội thuận lợi để phát triển văn hóa và sinh kế thúc đẩy phát triển kho tàng văn hóa.

Với góc độ quản lý nhà nước, Tiến sỹ Nguyễn Lâm Thành bày tỏ mong muốn, các nghiên cứu cần gắn kết chặt chẽ hơn nữa với thực tiễn cuộc sống. Theo đó, cần chỉ ra được nguyên nhân bên trong của vấn đề nghiên cứu là ở cơ chế, chính sách; cần nghiên cứu dân tộc học trong tổng thể các vai trò của Nhà nước, quan hệ quốc tế, kinh tế thị trường để xem xét được những tác động của cơ chế, chính sách, luật pháp đến vấn đề sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số; cần đẩy mạnh hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở góc độ khoa học và còn mở rộng ra góc độ quản lý nhà nước và luật pháp, gắn kết khoa học với quản lý, chính sách. Qua đó góp phần đưa các sản phẩm nghiên cứu đến với người dân nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Phát biểu Tổng kết Hội nghị, PGS.TS. Nguyễn Văn Minh trân trọng cảm ơn sự tham gia của các đại biểu trực tiếp và trực tuyến. Phó giáo sư Nguyễn Văn Minh cho biết thêm, vấn đề sinh kế là rất rộng, có nhiều vấn đề nghiên cứu mới, nhất là sự tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19 khiến luồng di dân ngược trở lại các miền quê, vùng núi gia tăng. Điều này đã làm nảy sinh nhiều vấn đề sinh kế, văn hóa ứng xử, về sự thích ứng của dịch bệnh…Qua đó, Viện trưởng Nguyễn Văn Minh mong muốn, các nhà khoa học sẽ có nhiều những nghiên cứu gắn kết chặt chẽ với thực tiễn nhiều hơn, góp phần phục vụ hiệu quả cuộc sống cho người dân ở các đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong thời gian tới.

Hội nghị Dân tộc học năm 2021 đã diễn ra thành công tốt đẹp. Những báo cáo khoa học và ý kiến thảo luận của các đại biểu tại hội nghị sẽ là nền tảng nghiên cứu quí báu, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện thành công các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chính sách phát triển sinh kế bền vững cho các dân tộc ở nước ta nói riêng, nhất là bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển và bình đẳng về cơ hội phát triển.

Nguyễn Thu Trang

 

 

Các tin đã đưa ngày: