Nguy cơ tác động của các hoạt động phát triển đến thiên nhiên và môi trường Việt Nam
  • 3.5 top logo - tin hoi nghi hoi thao

Nguy cơ tác động của các hoạt động phát triển đến thiên nhiên và môi trường Việt Nam

16/11/2021

Thực hiện nhiệm vụ được Lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) giao về “Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người lao động của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam về bảo vệ môi trường”, chiều ngày 16/11/2021, tại trụ sở số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Địa lý Nhân văn (đơn vị thuộc Viện Hàn lâm) tổ chức Hội thảo với chủ đề “Nguy cơ tác động của các hoạt động phát triển đến thiên nhiên và môi trường Việt Nam”. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến, gồm đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học, các chuyên gia; các đồng chí lãnh đạo đại diện một số đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm; các đồng chí trong BCH Công đoàn Viện Hàn lâm và BCH Đoàn Đoàn Thanh niên Viện Hàn lâm; cùng đông đảo cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Viện Địa lý Nhân văn và phóng viên một số cơ quan báo chí …

PGS.TS. Phạm Minh Phúc, Chủ tịch Công đoàn Viện Hàn lâm và TS. Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn <br> chủ trì Hội thảo

Chúng ta biết rằng, hệ sinh thái đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người, cung cấp cho con người những lợi ích vô giá như ổn định khí hậu, lọc không khí, cung cấp oxy, cung cấp nguồn nước, thức ăn, thuốc men… Ngoài ra, các hệ sinh thái còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã quý hiếm.

Tuy nhiên, các hệ sinh thái hiện đang có tốc độ suy thoái nhanh nhất trong lịch sử loài người vì đang phải đối mặt với các mối đe dọa vô cùng to lớn như nạn chặt phá rừng; ô nhiễm nước hồ, sông suối; các vùng đất ngập nước trở nên khô hạn; vùng biển và ven biển bị suy giảm chất lượng và bị khai thác quá mức.

Theo nghiên cứu của Diễn đàn chính sách- khoa học liên Chính phủ về Đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái (2020), 75% diện tích mặt đất đã bị biến đổi đáng kể, 66% diện tích đại dương đang chịu tác động tích lũy ngày càng tăng và hơn 85% diện tích đất ngập nước đã bị mất đi.

Phục hồi hệ sinh thái là tiến trình ngăn chặn và đảo ngược suy thoái môi trường, khiến không khí và nước sạch hơn, giảm khắc nghiệt thời tiết, nâng cao sức khỏe con người và phục hồi đa dạng sinh học, bảo vệ trái đất.

Để ứng phó với thực trạng này, ngày 01/3/2021, Đại hội đồng LHQ đã ra tuyên bố giai đoạn 2021 - 2030 là “Thập kỷ về phục hồi Hệ sinh thái” nhằm nhân rộng trên quy mô lớn việc phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái và bị phá hủy để chống lại cuộc khủng hoảng khí hậu, tăng cường an ninh lương thực, nguồn nước và đa dạng sinh học.

TS. Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn <br> phát biểu khai mạc Hội thảo  

Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Nguyễn Song Tùng nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu tham dự Hội thảo và nhấn mạnh chủ đề năm 2021 được lựa chọn ”Hành động vì thiên nhiên”, đây là nội dung thiết thực hưởng ứng Thập kỷ về phục hồi hệ sinh thái 2021 - 2030 do Liên hợp quốc phát động.

TS. Nguyễn Song Tùng cho biết, Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm và suy thoái đa dạng sinh học với tốc độ rất nhanh. Ngoài các nguyên nhân do tự nhiên thì nguyên nhân do các hoạt động của con người đã gây tác động lớn đến việc tàn phá thiên nhiên. Trong quá trình phát triển, thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội, hàng loạt diện tích rừng và lớp phủ tự nhiên đã bị xâm chiếm khiến cho môi trường bị xâm hại, mất chức năng bảo vệ trước các hiện tượng thiên tai và thời tiết cực đoan.

Trên thực tế cho thấy, chúng ta sẽ phải hứng chịu hậu quả khôn lường nếu mất đi sự cân bằng giữa mối quan hệ con người và tự nhiên. Những nước đang phát triển và một số khu vực trên thế giới vẫn đang khai thác kinh tế dựa vào tài nguyên, trong khi nền kinh tế tuần hoàn, các bon thấp… vẫn chưa thực sự ảnh hưởng rộng trên phạm vi toàn thế giới cũng như ở Việt Nam.

Nguyễn Song Tùng nhận định, để giải quyết được bài toán này, trong bối cảnh khi mô hình cũ, tư tưởng cũ vẫn còn thì cần có những phân tích để làm cơ sở hoàn thiện thực hiện những chủ trương lớn, phải nhận thức phát triển dựa vào bảo tồn, hành động phải mang tính thực tiễn cao và phải có lộ trình điều kiện để thực thi. Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2020 đã thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý môi trường thông qua thể chế hóa chính sách phát triển dựa trên quy luật tự nhiên, không hy sinh môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế; BVMT không chỉ là phòng ngừa, kiểm soát, xử lý chất thải; các hoạt động sản xuất, phát triển phải hài hòa với tự nhiên, khuyến khích bảo vệ và phát triển tự nhiên.

Thông qua Hội thảo này, TS. Nguyễn Song Tùng mong muốn, các nhà khoa học, quản lý, chuyên gia, những người làm công tác môi trường ngoài tri thức, tình yêu với môi trường còn cần có ứng xử, trách nhiệm truyền tải thông điệp bảo vệ môi trường đến với người dân để giải quyết mối quan hệ con người với tự nhiên. Với lực lượng đông đảo người lao động có trình độ, việc nhận thức đầy đủ những tác động của con người với thiên nhiên, môi trường là rất quan trọng, bên cạnh việc góp phần bảo vệ môi trường sống ngày càng trong sạch hơn, các nhà khoa học Viện Hàn lâm sẽ có thêm những thông tin, ý tưởng trong thực hiện các nghiên cứu của mình nhằm đề xuất các chính sách có liên quan đến vấn đề này.

GS.TSKH. Đặng Huy Huỳnh, Anh hùng đa dạng sinh học ASEAN, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam <br> phát biểu tại Hội thảo

Hội thảo nhận được nhiều báo cáo tham luận của các nhà khoa học, trong đó có 04 tham luận được trình bày về các chủ đề: (1) Giải pháp phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học ở Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), của GSTSKH. Đặng Huy Huỳnh, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam; (2) Suy thoái môi trường, hệ sinh thái toàn cầu và thập kỷ phục hồi hệ sinh thái của Liên hợp quốc, của TS. Nguyễn Đình Đáp, Viện Địa lí nhân văn, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; (3) Phát triển thủy điện và những vấn đề môi trường: Nhìn từ các dự án thủy điện ở miền Trung thời gian qua, của TS. Trần Thị Tuyết, Viện Địa lí nhân văn, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; (4) Giải pháp phục hội hệ sinh thái và Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học ở Việt Nam, của TS. Trần Ngọc Cường, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học.

  Tiến sỹ Nguyễn Đình Đáp, Viện Địa lý nhân văn <br> trình bày tham luận tại Hội thảo

Đánh giá về suy thoái môi trường, hệ sinh thái toàn cầu và thập kỷ phục hồi hệ sinh thái của Liên hợp quốc, TS. Nguyễn Đình Đáp, Viện Địa lý nhân văn cho rằng, hiện nay các nước đang cùng nhau xây dựng Khung Chiến lược toàn cầu về đa dạng sinh học sau 2020 (GBF) với mục tiêu đến năm 2050 con người sống hài hòa với thiên nhiên; đa dạng sinh học được coi trọng, bảo tồn, phục hồi và sử dụng một cách khôn ngoan. Việt Nam cũng đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm và suy thoái đa dạng sinh học với tốc độ rất nhanh và chúng ta sẽ phải hứng chịu hậu quả khôn lường nếu mất đi sự cân bằng giữa mối quan hệ con người và tự nhiên. Do đó, để ứng phó với suy thoái môi trường, hệ sinh thái toàn cầu và thập kỷ phục hồi hệ sinh thái, thời gian tới, Việt Nam cần khuyến khích và nâng cao năng lực rộng rãi về trách nhiệm môi trường và thiên nhiên; thực hiện các hành động có tính ngăn chặn và phòng ngừa trong các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp để tránh, giảm thiểu và khắc phục sự suy thoái của thiên nhiên. Cùng với đó, quản lý các hệ thống xã hội và sinh thái có khả năng chống chịu khi đối mặt với sự không chắc chắn và phức tạp, để đưa ra các quyết định chắc chắn trong nhiều kịch bản; tăng cường thực thi chính sách và luật pháp môi trường và tài nguyên…

Đề xuất giải pháp phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư, GS.TSKH. Đặng Huy Huỳnh, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam cho rằng, trong Chiến lược quốc gia bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 có nêu rừng, đa dạng sinh học là nền tảng quan trọng của nền kinh tế - bảo vệ rừng, trồng rừng phục hồi rừng nghèo là một trong các giải pháp then chốt thích ứng với biến đổi khí hậu. Để thực hiện hiệu quả phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học thì giải pháp "Dựa vào thiên nhiên trong phát triển kinh tế - xã hội” trên nguyên tắc thuận thiên với thiên nhiên là rất cần thiết. Theo đó, sống hài hòa với thiên nhiên trong quá trình xây dựng các quy hoạch cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh; mở rộng việc thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, các hành lang xanh - hành lang đa dạng sinh học; tăng cường đầu tư các nguồn lực về tài chính, chính sách, khoa học - công nghệ, kể cả thu hút sự tham gia của cộng đồng bản địa trên phương châm xuyên suốt vì hạnh phúc - bình an của con người.

 GS.TSKH. Đặng Huy Huỳnh nhấn mạnh, “Thời gian tới, Việt Nam cần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, quản lý, kỹ thuật chuyên sâu về kỹ năng phục hồi các hệ sinh thái nghèo kiệt trên cạn, vùng biển cũng là giải pháp quan trọng trong công tác phục hồi, làm giàu  hệ sinh thái theo như Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã đề cập”.

TS. Trần Thị Tuyết, Viện Địa lí nhân văn trình bày tham luận tại Hội thảo TS. Trần Ngọc Cường, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học trình bày tham luận tại Hội thảo

Tại hội thảo, các chuyên gia đã đề xuất giải pháp phục hồi hệ sinh thái và Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học của Việt Nam; trong đó nhằm hỗ trợ cho quá trình phục hồi hệ sinh thái thì việc huy động mạnh tổng hợp của nhân dân trong việc tổ chức bảo vệ cây xanh cổ thụ trên mọi vùng, miền của đất nước cũng có vai trò chức năng quan trọng đối với môi trường, sức khỏe của cộng đồng, đối với việc chống đỡ giảm thiểu các tác hại do biến đổi khí hậu kể cả ngăn ngừa dịch bệnh.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo

Tổng kết hội thảo, TS. Nguyễn Song Tùng đánh giá cao ý nghĩa, chất lượng của buổi Hội thảo và cho biết Hội thảo được tổ chức nhằm mục tiêu nhận diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về những vấn đề môi trường toàn cầu như suy giảm hệ sinh thái, đa dạng sinh học; nhận diện những tác động của các dự án phát triển KTXH đối với thiên nhiên và môi trường Việt Nam. Đây chính là một trong những hoạt động thiết thực, cụ thể, phù hợp với chuyên môn, khả năng nghiên cứu của các nhà khoa học, đồng thời gợi mở, đề xuất những ý tưởng, giải pháp góp phần xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể đưa Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.

 

PV.

Các tin đã đưa ngày: