Quan hệ xã hội của cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội

Quan hệ xã hội của cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội

11/08/2021

Nguyễn Thủy Giang1

  

Tóm tắt: Sau gần 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hàn – Việt, nhiều thành tựu mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, giao lưu nhân dân giữa hai nước đã được xác lập. Một trong số đó là việc hình thành cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội, Việt Nam với số lượng ngày càng tăng. Một vấn đề đặt ra trong cộng đồng này là họ duy trì mối quan hệ xã hội như thế nào với các thành viên trong cộng đồng, người dân địa phương và gia đình, bạn bè của họ ở nước xuất cư – Hàn Quốc. Bài viết này sẽ sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học để đi sâu mô tả mối quan hệ xã hội của người Hàn Quốc ở Hà Nội theo ba nhóm cư dân được phân chia theo mục đích cư trú bao gồm: nhóm phái cử, nhóm kinh doanh tự do và nhóm du học sinh.

Từ khóa: Hàn Quốc, Việt Nam, quan hệ xã hội, cộng đồng địa phương

Summary: After nearly 30 years of establishing Korea-Vietnam diplomatic relations, many new achievements in the fields of economics, politics and people-to-people exchanges have been established. One of them is the formation of the Korean community in Hanoi - Vietnam with the increasing number. One issue in this community is how they maintain social relationships with community members themselves, local people and their families and friends in the country of origin – Korea. Through the ethnographic fieldwork method, the article describes the social relationship of Korean community in Hanoi in three groups of residents divided according to the purpose of residence, including: nomination group, freelance business group and international student group.

 

Là quốc gia có một tộc người duy nhất, cộng đồng người Hàn Quốc ở trong và ngoài nước có nhiều điểm chung về văn hóa, tôn giáo… Các yếu tố này trở thành sợi dây gắn kết người Hàn Quốc với nhau, đặc[1]biệt khi họ cư trú ở nước ngoài. Bài viết xem xét mối quan hệ xã hội của người Hàn Quốc ở Hà Nội trên ba chiều cạnh: (i) mối quan hệ bên trong cộng đồng, (ii) mối quan hệ với cộng đồng địa phương, và (iii) mối quan hệ với quê hương. Nghiên cứu này là một phần trong luận án có tên gọi Không gian xã hội của cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội được tác giả tiến hành trong khoảng thời gian 6 năm (từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2020). Trong toàn bộ nghiên cứu, tác giả sử dụng nhất quán phương pháp điền dã dân tộc học. Cụ thể tác giả tiến hành quan sát kết hợp phỏng vấn sâu để thu thập thông tin làm tài liệu gốc phục vụ cho nghiên cứu của mình. Qua các mối quan hệ quen biết đã có từ trước tác giả được giới thiệu để tiếp cận với người Hàn Quốc ở Hà Nội thuộc cả ba nhóm xã hội: nhóm phái cử, nhóm di dân tự do, nhóm du học sinh. Tác giả đã tiến hành gần một trăm cuộc phỏng vấn sâu để làm sáng tỏ những câu hỏi nghiên cứu trong 6 năm thực hiện nghiên cứu này. Tác giả thực hiện điền dã đa điểm tập trung ở các khu chung cư, khu phố ghi dấu sự cư trú của người Hàn Quốc trên địa bàn thành phố Hà Nội. Để làm sáng tỏ mối quan hệ xã hội của cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội trên ba chiều cạnh: nội bộ cộng đồng, với cộng đồng địa phương, với quê hương, tác giả đã thực hiện gần 20 cuộc phỏng vấn sâu.

1. Quan hệ bên trong cộng đồng

1.1. Quan hệ trong gia đình

Nhóm phái cử, nhóm di dân tự do và nhóm du học sinh mỗi nhóm có một đặc trưng riêng tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và mục đích cư trú. Trong ba nhóm cư dân này thì nhóm phái cử thường cùng gia đình sang Hà Nội cư trú nhiều nhất vì họ có chế độ phúc lợi dành cho các thành viên đi cùng[2]. Tìm hiểu về mối quan hệ trong nội bộ cộng đồng, điều đầu tiên người viết muốn làm sáng tỏ là sự thay đổi trong quan hệ gia đình khi họ duy trì cuộc sống ở một quốc gia khác mà cụ thể trong trường hợp này là Hà Nội, Việt Nam.

Điểm nổi bật trong các gia đình của người Hàn Quốc ở Hà Nội là họ duy trì hình thái gia đình hạt nhân gồm bố mẹ và con cái (1 đến 2 người) chưa lập gia đình. Hình thức gia đình hạt nhân với quy mô nhỏ này phản ánh tỷ lệ sinh thấp của Hàn Quốc. Theo báo cáo mới nhất vào ngày 27 tháng 11 năm 2019 từ Tổng cục Thống kê Hàn Quốc, tỷ suất sinh của quốc gia này đã giảm xuống 0,88 trong quý 3 năm 2019. Đây là con số thấp kỷ lục của Hàn Quốc, giảm mạnh từ mức 0,98 của năm 2018[3].

Mối quan hệ trong các gia đình hạt nhân ở Hàn Quốc nhìn chung khá hài hòa, có sự phân vai rõ ràng. Người chồng đóng vai trò trụ cột, lo các vấn đề kinh tế, đảm bảo cuộc sống cho gia đình. Người vợ có nhiệm vụ nuôi dạy con cái và chăm lo việc nhà. Tuy nhiên, gần đây do áp lực về kinh tế nên cụm từ “vợ chồng công sở” (맞벌이부부)[4] đã xuất hiện và trở nên thông dụng ở Hàn Quốc. Các hộ gia đình Hàn Quốc ở Hà Nội cũng nằm trong xu hướng gia đình hạt nhân ở Hàn Quốc nói chung nhưng có một điểm khác biệt lớn nhất là nhóm phái cử thường đưa cả gia đình theo và trong khoảng thời gian duy trì cuộc sống ở Việt Nam, người vợ lo việc nội trợ và dạy dỗ con cái. Khi tiến hành quan sát tham dự và phỏng vấn, người viết nhận thấy lịch trình sinh hoạt của các gia đình Hàn Quốc ở Hà Nội có thể tóm tắt như sau:

Bảng 1 là lịch trình của đại đa số các gia đình Hàn Quốc thuộc nhóm phái cử ở Hà Nội mà người viết đã có một quá trình quan sát kết hợp phỏng vấn. Buổi sáng người chồng được xe công ty đón rời khỏi nhà và trở về khi công việc đã kết thúc. Khoảng thời gian từ 7 giờ sáng người vợ đưa con xuống sảnh chung cư đợi xe buýt của trường. Sau đó người vợ tự do thực hiện lịch trình riêng của mình. Nhìn chung những người này thường dành thời gian gặp bạn bè, sử dụng các dịch vụ làm đẹp hoặc tham gia các hoạt động theo nhóm hội. Họ trở về nhà sau 16 giờ và cùng người giúp việc (nếu có) chuẩn bị bữa tối. Đại đa số các gia đình thuộc nhóm phái cử có sử dụng người giúp việc để giải phóng sức lao động cho người phụ nữ trong gia đình.

Yếu tố quan trọng là điều kiện kinh tế được đảm bảo nên cuộc sống và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình người Hàn Quốc nhóm phái cử ở Hà Nội nhìn chung hài hòa, không có xung đột lớn. Đặc biệt người vợ thường có tâm lý chung là xả hơi, tận hưởng những ưu đãi trong khoảng thời gian này.

Thật may mắn vì chúng tôi đã có khoảng thời gian duy trì cuộc sống ở Hà Nội. Công việc với thu nhập của chồng tôi đủ để cả gia đình sống ổn thỏa mà vẫn có khoản tích lũy. Hai cậu con trai của chúng tôi đều theo học trường quốc tế, sử dụng tiếng Anh tốt, nhà tôi có người giúp việc, vì thế tôi không có điều gì phàn nàn. Tôi có thể gặp gỡ nhóm hội bạn bè nếu muốn, đi làm đẹp nếu có nhu cầu. Tôi hài lòng với cuộc sống này” (chị K., 39 tuổi, gia đình của nhóm phái cử, phỏng vấn tháng 3 năm 2019).  

Bảng 1: Lịch trình sinh hoạt hàng ngày trong tuần của gia đình người Hàn Quốc thuộc nhóm phái cử

Đối tượng

Thời gian

Lịch trình

Ghi chú

Người chồng

7h ~ tối

Đi làm

Có thể trở về nhà muộn nếu có lịch sau giờ làm chính thức

Người vợ

8h ~ 16h

Lịch trình tự do sau khi gửi con đến trường (giải trí, tham gia các hoạt động bên ngoài)

Tùy vào sở thích mà người vợ có lịch sinh hoạt khác nhau nhưng nhìn chung đều chủ động điều chỉnh lịch trình

Con cái

7h ~ 17h

Đi học

 

 

Nhìn chung mối quan hệ trong gia đình của người Hàn Quốc ở Hà Nội vẫn tuân theo quy chuẩn chung của hình thức gia đình hạt nhân ở Hàn Quốc. Người chồng đi làm và phụ trách vấn đề kinh tế, người vợ ở nhà đảm nhiệm việc nội trợ và chăm sóc, nuôi dạy con cái. Mối quan hệ này đã được đơn giản hóa hơn rất nhiều, không bị chồng chéo bởi các mối quan hệ với gia đình lớn.

Đối với nhóm thứ hai – nhóm kinh doanh tự do, nhóm này có một bộ phận sống cùng gia đình, một bộ phận sống xa gia đình (vợ con vẫn duy trì cuộc sống ở Hàn Quốc) cũng tương tự nhóm phái cử, họ duy trì mối quan hệ trong gia đình tương đối hài hòa ổn định. Điểm khác biệt lớn nhất là nhóm di dân tự do không được nhận bất kỳ ưu đãi hay sự đảm bảo từ một cơ quan, tổ chức nào nên họ buộc phải nỗ lực để duy trì hoạt động sinh kế. Vì thế cuộc sống của họ có thể coi là thiếu sự ổn định hơn nhóm phái cử vì hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan. Ngoài ra đối với những gia đình hạt nhân Hàn Quốc ở Hà Nội thuộc nhóm thứ hai, do đặc thù công việc kinh doanh nên họ không có sự thoải mái tự do sử dụng thời gian trong ngày với nhiều hoạt động khác nhau mà chủ yếu tập trung vào công việc kinh doanh. Với nhóm thứ ba – nhóm du học sinh, do chưa lập gia đình nên họ không duy trì mối quan hệ trong gia đình như hai nhóm kể trên.

1.2. Quan hệ theo “nhóm chat”

Ở phần này, tác giả muốn nhấn mạnh thêm về các hoạt động theo “nhóm chat”[5] để làm rõ hơn quan hệ xã hội trong cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội. Một số nghiên cứu đã cho thấy mạng xã hội là một phần quan trọng trong các tương tác xã hội của con người[6]. Đối với người Hàn Quốc, công nghệ số đóng vai trò thiết yếu để họ có thể duy trì các mối quan hệ xã hội. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm thay đổi phương thức giao tiếp, tần suất tương tác giữa các cá nhân trong xã hội. Người Hàn Quốc đặc biệt ưa thích sử dụng phần mềm Kakaotalk – một ứng dụng miễn phí dành cho điện thoại thông minh, bao gồm chức năng gọi và nhắn tin miễn phí. Rất nhiều người Hàn Quốc ở Hà Nội kết nối với nhau thông qua các “nhóm chat” của phần mềm này để chia sẻ thông tin trong sinh hoạt hàng ngày. Đặc biệt những người Hàn Quốc thuộc nhóm di dân tự do rất ưa chuộng hình thức quảng cáo dịch vụ kinh doanh của mình thông qua các “nhóm chat” trên mạng. Ngoài ra ở mỗi chung cư có người Hàn Quốc, họ đều tạo ra một group cư dân riêng để trao đổi thông tin, kinh nghiệm cho nhau. Người Hàn Quốc trong cùng chung cư có sự tương tác tốt, kịp thời thông báo cho nhau những thông tin mới nhất của chung cư nói riêng và của Hà Nội, Việt Nam nói chung. Thông báo về điện, nước, chỉ dẫn về việc đăng ký sử dụng internet, truyền hình cáp đều được những người Hàn Quốc nhanh chóng cập nhật lên các group chung cư.

Nước giặt Hàn Quốc loại tốt bán ở đâu?”, “Thời gian hoạt động siêu thị Lotte mart là từ mấy giờ đến mấy giờ?” (thông tin từ “nhóm chat” của người Hàn Quốc ở chung cư thuộc quận Thanh Xuân); “Cần tìm người nối tiếp hợp đồng thuê nhà” (thông tin từ “nhóm chat” của người Hàn Quốc ở quận Hà Đông) (Tài liệu điền dã tác giả thu thập trong các “nhóm chat” của cư dân quận Cầu Giấy - Hà Nội).

Hay như khi có thông báo bằng tiếng Việt, người Hàn Quốc cũng đưa lên lên group để xin ý kiến từ các thành viên khác.

Tháng 1 năm 2020 này tôi nhận được thông báo kèm với chỉ số nước lại còn bao gồm cả phí bảo hiểm cháy nổ. Chi phí này là do chủ nhà nộp chứ không phải người thuê nhà nộp có phải không nhỉ?”. “Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc cơ sở Keangnam có phòng cấp cứu khoa Nội không nhỉ?Không chỉ có sự trao đổi những thông tin hữu ích mà còn có rất nhiều những thông tin phàn nàn về những bất tiện trong sinh hoạt.

Hàng đêm cứ vào 10h tôi lại nghe thấy tiếng đàn piano, thực sự tôi không thể ngủ được vì tiếng ồn này. Không biết người chơi đàn có ở trong group này không. Rất mong bạn rút kinh nghiệm và hãy điều chỉnh.

Ồ đúng rồi đấy. Đúng là cứ khoảng 9 – 10h tối là tiếng đàn piano lại vọng từ tầng trên xuống tầng 22 nhà chúng tôi” (tài liệu điền dã tác giả thu thập trong “nhóm chat” của cư dân thuộc quận Hà Đông).

Có một điểm đặc biệt và thú vị là người Hàn Quốc có sử dụng mật ngữ khi có trao đổi liên quan đến giao dịch tiền tệ. Có ba loại tiền tệ thường xuyên được trao đổi đó là: tiền đô la Mỹ (USD), tiền won của Hàn Quốc và tiền đồng của Việt Nam. Người Hàn Quốc sử dụng những đồ uống đặc trưng của ba quốc gia này khi có giao dịch liên quan. Cụ thể là “trà đá”, “americano” và “sikhye” (là một đồ truyền thống của Hàn Quốc được làm từ gạo, có vị ngọt thanh mát) khi đề cập tới đơn vị tiền tệ của Việt Nam, Mỹ và Hàn Quốc. Những tin nhắn liên quan đến giao dịch ngoại tệ chỉ đơn giản và ngắn gọn như sau: “Có 80 triệu (trà đá). Cần sikhye” (được hiểu là cần đổi 80 triệu tiền Việt Nam đồng sang tiền won), “có nước gạo, tìm americano – 3.000” (có tiền won, cần đô la Mỹ 3.000 USD) (tài liệu điền dã tác giả thu thập trong các “nhóm chat” của người Hàn Quốc ở Hà Nội).

1.3. Quan hệ theo hội

Ngoài việc tận dụng tiện ích của các “nhóm chat”, người Hàn Quốc có xu hướng duy trì mối quan hệ theo các nhóm hội. Trong cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội có một số lượng đáng kể hội có tính phi quan phương (tự nguyện) như: hội đồng hương, hội đồng môn, hội những người cùng sở thích… Các nhóm hội này có sự gắn kết thông qua các hoạt động đặc thù. Tất nhiên các nhóm hội cũng nằm trong xu hướng chung là tận dụng sự tiện ích của các “nhóm chat” như đã đề cập ở trên để duy trì các hoạt động cả trực tuyến và trực tiếp. Thực tế này là minh chứng cho thấy sự gắn bó khăng khít của những người Hàn Quốc ở Hà Nội trong nội bộ cộng đồng. Người viết đã tiến hành khảo sát về tình hình duy trì hoạt động của các hội người Hàn Quốc ở Hà Nội và cụ thể hóa về các hội này qua bảng 2.

Bảng 2: Danh mục các hội phi quan phương của cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội

TT

Tên hội

Số lượng

Ghi chú

1

Hội đồng môn

48

Đại học Korea, Đại học Kyunghee, Đại học Busan, Đại học Ngoại ngữ Busan, Đại học Seoul, Đại học Sungkyunkwan, Đại học Yonsei, Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc...

2

Hội đồng hương

12

Hội đồng hương tỉnh Gangwon-do, Honam, Busan, Chungcheong-do

3

Hội cùng sở thích

23

Hội nhóm nhảy cha cha cha, hội những người cùng sở thích câu cá, hội những người chơi cờ vây, cầu lông, tennis, chụp ảnh, hội kèn saxophone, hội nhảy dancesport, bóng đá, bóng rổ, xe đạp, đá cầu.

4

Các nhóm hội tổ chức tôn giáo

18

Cộng đồng Tin lành Saeng Myeong namu, cộng đồng Tin lành Sarang, cộng đồng Tin lành, cộng đồng Tin lành Dream, cộng đồng Phật giáo Hà Nội.

 
Nguồn: Tư liệu điền dã (Tác giả tổng hợp thông tin từ các tạp chí và trang web, các “nhóm chat” của Hàn Quốc ở Hà Nội).

 

Các thành viên trong các hội ở trên đều có mối liên hệ và giao lưu với nhau tùy theo tính chất đặc thù của mỗi hội. Việc sinh sống ở một quốc gia khác chính là yếu tố thúc đẩy mối quan hệ của những người dân cùng một quốc gia trở nên khăng khít hơn. Các hội vì thế ra đời và vận hành với mục đích thiết lập thêm mối quan hệ, tạo sự gắn kết, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau. Các hội này thường có sự thống nhất với nhau về mặt thời gian, địa điểm để họp nhóm triển khai các hoạt động.

Qua mối quan hệ trong cộng đồng người Hàn Quốc tại Hà Nội, sự tương trợ, phụ thuộc lẫn nhau giữa họ càng trở nên rõ nét. Quan hệ tương trợ trong cộng đồng người Hàn Quốc không hoàn toàn giống nhau giữa ba nhóm cư dân vì sự khác biệt trong địa vị xã hội và bản chất công việc của họ. Thông qua câu chuyện của người viết với người cung cấp thông tin trong nhóm phái cử và hai nhóm còn lại, có thể thấy nhóm phái cử không quan tâm nhiều đến việc xây dựng và duy trì mối quan hệ với các thành viên thuộc hai nhóm còn lại vì. Nhóm phái cử là những người có năng lực, kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác nên họ khá độc lập trong cuộc sống. Ngoài ra vì khoảng thời gian ở Hà Nội không dài nên họ không quan tâm nhiều tới các mối quan hệ xung quanh. Khoảng cách này giữa nhóm phái cử và hai nhóm còn lại là biểu hiện cho thấy có sự phân tầng xã hội trong cộng đồng Hàn Quốc.

Khác với nhóm phái cử, những người Hàn Quốc ở hai nhóm còn lại, đặc biệt là nhóm di dân tự do có sự gắn kết chặt chẽ, dựa vào nhau để sinh tồn. Đây là một thực tế dễ hiểu vì các hoạt động kinh doanh của nhóm này phụ thuộc vào các thành viên trong cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội. Cụ thể họ cần dựa vào nhau để ứng phó và nhận sự hỗ trợ trước các tình huống khó khăn. Do đó nhóm di dân tự do có xu hướng mở rộng quan hệ xã hội trong cộng đồng để phục vụ cho mục đích sinh kế.

Với những người kinh doanh tự do như tôi, tôi hiểu sâu sắc việc giữ mối quan hệ với những người Hàn Quốc ở đây (Hà Nội) quan trọng như thế nào. Đặc biệt những người Hàn Quốc sang Hà Nội theo diện phái cử, họ có đời sống kinh tế ổn định và sung túc hơn chúng tôi rất nhiều. Họ còn có cả những mối quan hệ có thể giúp ích cho việc kinh doanh của tôi. Để duy trì được mối quan hệ với những người này, phục vụ cho hoạt động kinh doanh, tôi cũng dành riêng những ưu đãi với những khách hàng đặc biệt.” (anh Y., 58 tuổi, nhóm di dân tự do, phỏng vấn tháng 9 năm 2018).

Trong thời gian điền dã tại các khu vực có nhiều nhà hàng của người Hàn Quốc như đường Trần Duy Hưng, Trung Kính (quận Cầu Giấy) và một số quán ăn trên địa bàn quận Nam Từ Liêm người viết ghi nhận nhiều đoàn khách tới và sử dụng dịch vụ của các nhà hàng này. Khách đi theo đoàn thường là khách của các công ty, khách du lịch nhưng không phải ngẫu nhiên mà những đoàn khách đến sử dụng dịch vụ tại các nhà hàng này. Bà Lee (54 tuổi) là chủ một nhà hàng ở phố Trung Hòa chia sẻ:

Trước khi sang Việt Nam kinh doanh tôi đã tìm hiểu và biết được tình hình của cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội. Tôi xác định nhà hàng của mình hướng tới người Hàn Quốc. Vì thế ngay cả cách bài trí cửa hàng cho đến hương vị của món ăn cũng làm theo khẩu vị của người Hàn Quốc. Tất nhiên trong quá trình vận hành cũng có một bộ phận khách hàng Việt Nam tìm đến quán để thưởng thức đồ ăn Hàn Quốc nhưng họ vẫn chỉ là thiểu số và do sự bất đồng ngôn ngữ nên tôi cũng không có cơ hội trò chuyện để lắng nghe ý kiến của họ về dịch vụ của nhà hàng.” (chị L., 54 tuổi, nhóm di dân tự do, phỏng vấn tháng 8 năm 2018).

Qua các ví dụ trên, có thể thấy hoạt động kinh doanh trong cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội không chỉ đơn thuần là việc duy trì các hoạt động sinh kế mà còn cho thấy mối quan hệ xã hội, sự tương trợ lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng. Đối với nhóm di dân tự do, mục tiêu sinh kế rõ ràng đã định hướng quan hệ xã hội của họ với các thành viên trong cộng đồng, nhất là với nhóm phái cử.

Sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng còn được thể hiện rất rõ khi có những sự cố của một cá nhân hoặc biến động chung của toàn xã hội. Mỗi khi có sự vụ liên quan đến cộng đồng Hàn Quốc, các thành viên trong cộng đồng rất tích cực hỗ trợ cho cá nhân gặp nạn. Ví dụ như trong trường hợp bị rơi vào tình thế khó khăn như: bị cướp giật, bị lừa lọc..., người Hàn Quốc đều nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình ngay sau khi công khai các thông tin trên các nhóm chat hoặc gọi điện tới hội người Hàn Quốc ở Hà Nội. Ngày 20 tháng 2 năm 2020 vừa qua, một người Hàn Quốc bị cướp giật ví tiền và điện thoại di động. Ngay khi thông tin được đăng tải trên group cư dân, người bị hại đã nhận được thông tin hỗ trợ hướng dẫn khai báo tới công an quận Nam Từ Liêm và ngày hôm sau công an quận Nam Từ Liêm đã hỗ trợ tìm ra thủ phạm (tài liệu điền dã của tác giả  tháng 2 năm 2020).

Gần đây, cả thế giới đang phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Trong hoàn cảnh này, tính tương trợ của cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội được phát huy cao độ. Toàn bộ thông tin về tình hình dịch bệnh, diễn biến trên thế giới, ở Hàn Quốc và đặc biệt là tại Việt Nam được cập nhật rất nhanh chóng và kịp thời ở mọi group. Ngoài ra một loạt cách phòng chống Covid-19 cũng được các thành viên chia sẻ với nhau.

Bên cạnh sự tương trợ, phụ thuộc lẫn nhau thì trong cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội cũng có những mâu thuẫn được thể hiện theo các hình thức khác nhau. Ở cấp độ nhỏ là những những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình giao tiếp trên mạng xã hội xuất phát từ những hiểu lầm lẫn nhau. Với tư cách là thành viên của 13 group do người Hàn Quốc lập nên trên mạng xã hội kakaotalk, qua quan sát khai thác người viết thấy những mâu thuẫn nhỏ có thể nảy sinh trong các group thường xuất phát từ những lý do đơn giản như: cách dùng từ không tôn kính, đăng quảng cáo tràn lan vi phạm nguyên tắc của group. “Ở đây rất đông người, sao lại nói trống không thế nhỉ?”, “Tôi đã nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, tại sao vẫn có những người đăng quảng cáo vào giờ không được phép vậy?”... (tài liệu điền dã của tác giả). 

Ở cấp độ lớn hơn, những mâu thuẫn thường xuất phát từ xung đột lợi ích trong cộng đồng. Trong vòng 4 năm (2016-2020), người viết đã tham gia công tác phiên dịch tại các phòng công chứng cho các trường hợp mâu thuẫn kinh doanh trong nội bộ cộng đồng người Hàn Quốc. Nguyên nhân mâu thuẫn của các trường hợp này đều nảy sinh từ việc vi phạm cam kết ban đầu giữa hai bên dẫn đến thiệt hại về kinh tế, do không thể tìm được tiếng nói chung nên cần có sự can thiệp của luật pháp.

Ngoài những mâu thuẫn kể trên còn có một phần mâu thuẫn nảy sinh từ những mối quan hệ tình cảm phức tạp đã được báo chí, truyền thông đề cập đến. Những mâu thuẫn về mặt tình cảm trái chiều dẫn đến cái kết tiêu cực tất nhiên chỉ là thiểu số nhưng cũng cho thấy trong cộng đồng này hội tụ đầy đủ những vấn đề không khác gì một xã hội Hàn Quốc thu nhỏ giữa lòng Hà Nội.

2. Quan hệ với cộng đồng địa phương và quê hương

2.1. Quan hệ với cộng đồng địa phương

Cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội không thể tách biệt với cộng đồng cư dân địa phương và chính quyền nước sở tại. Nhìn tổng thể, Hàn Quốc là một quốc gia phát triển, có mức thu nhập tính theo đầu người cao hơn nhiều so với Việt Nam. Trong bối cảnh sống ở Hà Nội, mối quan hệ giữa cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội với cộng đồng cư dân địa phương luôn diễn ra tốt đẹp giữa các nhóm. Đối với nhóm phái cử, vốn là những cư dân có thu nhập cao, có vị trí quản lý trong công sở, mối quan hệ quan trọng đầu tiên ở đây là nhóm phái cử luôn duy trì mối quan hệ xã giao và thân tình với đồng nghiệp người Việt Nam. Nhiều công ty, tập đoàn lớn của Hàn Quốc thường tổ chức các hoạt động ngoại khóa để tăng cường mối quan hệ đồng nghiệp giữa nhóm phái cử với đồng nghiệp, nhân viên người Việt Nam cũng như giữa các thành viên trong công sở với nhau.

Đối với nhóm di dân tự do, ban đầu họ xác định các hoạt động kinh doanh chủ yếu hướng tới những người Hàn Quốc ở Hà Nội, nhưng sau một thời gian sống ở Việt Nam, rất nhiều người đã chuyển hướng sang phục vụ cả nhóm đối tượng cư dân địa phương. Một chủ nhà hàng thịt nướng ở Mỹ Đình chia sẻ:

Công việc của tôi bên Hàn Quốc không được thuận lợi. Sau một thời gian tìm hiểu tôi đã chọn Hà Nội, Việt Nam. Ban đầu tôi hướng đến đối tượng khách hàng mà mình cung cấp dịch vụ là người Hàn Quốc. Tuy nhiên sau một thời gian vận hành tôi thấy mức giá dịch vụ mà tôi cung cấp cũng rất phù hợp với người dân ở đây nên tôi cũng xác định hướng đến cả đối tượng khách hàng là người dân địa phương. Vì thế mà tôi luôn duy trì mối quan hệ thân thiện tốt đẹp với người Việt Nam.” (anh H., 52 tuổi, nhóm di dân tự do, phỏng vấn tháng 10 năm 2019).

Một chủ quán ăn người Hàn Quốc ở phố Dương Đình Nghệ cũng cho biết:

Những người Hàn Quốc sang tìm kiếm cơ hội duy trì cuộc sống ở Việt Nam nếu không phải những người thuộc diện được phái cử và những bạn sinh viên sang học trao đổi thì phần còn lại đại đa số là tìm đến một cuộc sống tốt đẹp hơn ở nơi này. Tôi ý thức được mình là người làm dịch vụ cần giữ thái độ niềm nở, duy trì hòa khí với những người xung quanh – những người sử dụng dịch vụ của tôi. Suy cho cùng thì hoạt động kinh doanh – phương tiện duy trì cuộc sống của chúng tôi phụ thuộc vào một phần vào người tiêu dùng Hà Nội nữa” (Tài liệu điền dã của tác giả, tháng 10 năm 2019).

Nhóm du học sinh là những người Hàn Quốc ở Hà Nội có giao lưu với người dân địa phương nhiều nhất do mục đích học tập, tìm hiểu về Việt Nam và đặc biệt là do họ có khả năng tiếng Việt tốt hơn các nhóm còn lại. Nhiều người trong nhóm này cũng chọn ở tại các ký túc xá, các nhà trọ trong khu dân cư hay tại các làng/phường mới đô thị hóa để không chỉ giảm thiểu chi phí cuộc sống mà còn có nhiều cơ hội tương tác với con người, văn hóa và cuộc sống địa phương. Theo cách này, họ đồng thời cũng có các mối quan xã hội gần gũi hơn với người dân địa phương so với hai nhóm còn lại trong cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội.

2.2. Quan hệ với quê hương

Cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội vẫn duy trì mối quan hệ với quê hương Hàn Quốc cả trong cuộc sống hằng ngày và công việc. Trước hết, xét về khoảng cách địa lý thì Việt Nam và Hàn Quốc chỉ cách nhau 4 giờ bay, khoảng cách không xa về mặt địa lý cộng thêm sự phát triển phương tiện giao thông hàng không là một yếu tố rất quan trọng trong việc giúp người Hàn Quốc duy trì mối quan hệ gần gũi với gia đình, họ hàng, bạn bè ở quên hương. Người Hàn Quốc khi sang sinh sống và làm việc ở Hà Nội đều có chung một suy nghĩ là họ chưa xác định duy trì cuộc sống lâu dài ở Hà Nội. Công việc cùng với chế độ đãi ngộ tốt là yếu tố thúc đẩy họ sang Hà Nội nhưng chế độ phúc lợi tốt đảm bảo an sinh xã hội cho người hết tuổi lao động (người già) ở Hàn Quốc cũng là một yếu tố cuốn hút họ trở về quê hương.

Trong khoảng thời gian ở Hà Nội, phần lớn nhóm phái cử thường đưa cả gia đình sang sinh sống ở Hà Nội. Theo đó, quan hệ của nhóm này với quê hương Hàn Quốc chủ yếu là duy trì các mối quan hệ họ hàng, bạn bè song họ luôn bị phụ thuộc vào điều kiện công việc. Mặc dù bị gò bó vì phụ thuộc vào lịch trình làm việc của công ty, cơ quan mà họ được cử sang nhưng bù lại nhóm phái cử có chế độ đãi ngộ tốt giúp họ có điều kiện quan tâm hơn đối với gia đình, bạn bè, người thân ở quê hương, thi thoảng họ còn mời gia đình, họ hàng sang Việt Nam và tổ chức các tour du lịch cùng họ hàng, bạn bè.

Với những người không có gia đình sang cùng sinh sống tại Hà Nội thì họ thường về thăm gia đình và họ hàng ở Hàn Quốc. Thời điểm thăm gia đình của họ ở Hàn Quốc thường diễn ra vào những ngày lễ lớn trong năm như Tết Trung thu – ngày lễ lớn nhất của người Hàn Quốc hay kết hợp với các chuyến đi công tác của họ ở Hàn Quốc. Ngoài ra, họ còn chọn cách mời người thân ở Hàn Quốc sang du lịch ở Hà Nội. Với các ưu đãi họ được nhận, nhiều người trong nhóm phái cử, nhất là những người không mang theo gia đình, thường mời người thân ở Hàn Quốc sang Hà Nội du lịch.

Với nhóm di dân tự do, vì là những người kinh doanh tự do, và nhiều hoạt động kinh doanh của họ ở Hà Nội gắn với nguồn hàng từ Hàn Quốc nên họ thường xuyên giữ liên hệ với gia đình, họ hàng và đối tác ở Hàn Quốc. Trong nhóm di dân tự do tồn tại xu hướng cư trú là: (i) những người mới sang Hà Nội do chưa biết trước việc kinh doanh sẽ tiến triển ra sao nên chọn phương án an toàn là trước mắt sống một mình để kinh doanh; (ii) những người đã kinh doanh nhiều năm ở Hà Nội có sự ổn định và đưa cả gia đình sang sinh sống cùng; (iii) bên cạnh đó, cũng có một bộ phận kinh doanh ổn định ở Hà Nội nhưng do khó khăn trong việc hợp thức hóa gia đình nên chỉ có người chồng ở Hà Nội tiến hành hoạt động kinh doanh, còn gia đình (người bạn đời và con cái) vẫn sinh hoạt ở quê nhà.

Trong ba xu hướng kể trên, nhóm di dân tự do không đưa gia đình sang cùng không phải là ít. Những người này chọn cuộc sống một mình để kiếm tiền và gửi về cho gia đình ở Hàn Quốc. Trong xã hội Hàn Quốc đương đại, hình ảnh người bố đi làm xa kiếm tiền gửi về cho con cái đi du học là một hiện tượng phổ biến. Cụm từ “ông bố ngỗng” (기러기 아빠) là ám chỉ những người bố một mình kiếm tiền gửi cho con cái du học.

Đối với nhóm di dân tự do, khi các hoạt động kinh doanh đi vào ổn định, thu nhập tốt thì việc đi lại thăm gia đình, bạn bè ở Hàn Quốc trở nên dễ dàng hơn. Một số người cung cấp thông tin thuộc nhóm này cho biết ngoài việc gửi tiền về thì cứ khoảng 2 đến 3 tháng họ lại về Hàn Quốc thăm gia đình một lần trong khoảng 4-5 ngày.

Tôi duy trì hoạt động kinh doanh ở Hà Nội cũng được 4 năm rồi. Ban đầu tôi dự định sẽ đưa gia đình tới Hà Nội sống cùng khi ổn định nhưng sau này có một chút thay đổi trong kế hoạch nên chúng tôi đã quyết định chỉ có mình tôi duy trì hoạt động kinh doanh ở Hà Nội. Bà xã của tôi ở Hàn Quốc để tiện qua lại chăm sóc bố mẹ hai bên. Ngoài ra con chúng tôi cũng lớn, đang theo học đại học, không cần thiết phải theo tôi sang sinh sống ở Hà Nội.” (anh K., 56 tuổi, nhóm di dân tự do, phỏng vấn tháng 5 năm 2018).

So với nhóm phái cử và di dân tự do, nhóm du học sinh có mối quan hệ khăng khít hơn với gia đình ở quê hương. Thực tế này xuất phát một cách tự nhiên vì du học sinh là những người trẻ, phụ thuộc và chịu sự quản lý của bố mẹ ở quê nhà. Một du học sinh 20 tuổi đang theo học ở khoa Việt Nam học và Tiếng Việt (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) chia sẻ:

Em sang đây chỉ đơn thuần với mục đích trau dồi khả năng ngoại ngữ - là tiếng Việt. Em chưa có sự tự chủ về mặt kinh tế, chưa độc lập với cuộc sống của mình được nên em vẫn cần sự hỗ trợ của bố mẹ. Hàng tháng bố mẹ em gửi cho em một triệu won – 20 triệu tiền Việt để em trang trải cuộc sống.” (Anh J., 20 tuổi, nhóm du học sinh, phỏng vấn tháng 8 năm 2019).

Một số du học sinh đi làm thêm để có thu nhập trang trải cuộc sống nhưng tỷ lệ này chỉ chiếm phần nhỏ.

Em thực sự cảm thấy vui và tự hào khi một năm học tập và sinh sống ở Việt Nam, em hầu như không cần đến sự trợ giúp của bố mẹ bởi em có thể chủ động đi làm thêm trang trải sinh hoạt phí bằng khả năng ngoại ngữ tiếng Việt của bản thân. Sang Việt Nam em cũng gặp một số anh chị đã tốt nghiệp một trường đại học nào đó bên Hàn Quốc và tới Hà Nội để trau dồi tiếng và đi làm thêm. Tuy nhiên theo em tìm hiểu thì những trường hợp này chỉ chiếm khoảng 10%” (chị K., 21 tuổi, nhóm du học sinh, phỏng vấn tháng 9 năm 2018).

Ngoài ra, có một số trường hợp du học sinh người Hàn Quốc ở Hà Nội đã tìm được người bạn đời, lập gia đình và sống ở Hà Nội. Với số này, quan hệ hôn nhân và việc sinh sống ở Hà Nội đã phần làm cho họ bớt phụ thuộc hơn vào gia đình ở Hàn Quốc do một phần họ phải lo kiếm sống và chăm lo cho gia đình nhỏ của mình đang cư trú ở Hà Nội.

Người Hàn Quốc luôn tự hào là một dân tộc đơn nhất cho nên dù ở đâu họ cũng hướng về đất nước của mình và đặc biệt quan tâm đến mọi sự kiện ở quê nhà. Đơn cử như cuộc tổng tuyển cử của Hàn Quốc diễn ra vào ngày 15 tháng 4 năm 2020 vừa qua cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của những người Hàn Quốc đang sinh sống ở Hà Nội. Trong các “nhóm chat”, thông tin về lịch trình được đăng tải chi tiết để người Hàn Quốc có thể tham gia bỏ phiếu bầu cử. Bên cạnh đó các cá nhân cũng thể hiện sự tự hào và mong mỏi được thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân Hàn Quốc. Điều này cho thấy sự gắn bó với quê hương của cộng đồng cư dân Hàn Quốc ở Hà Nội, họ sống ở Hà Nội những vẫn dõi theo những sự kiện của quê hương.  

Kết luận

Là một cộng đồng người nước ngoài lớn nhất ở Hà Nội với thành phần xã hội chủ yếu là ba nhóm cư dân: nhóm phái cử, di dân tự do, nhóm du học sinh, cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội đã cho thấy họ có các mối quan hệ xã hội đa dạng và đa chiều. Trong đó, quan hệ trong nội bộ cộng đồng người Hàn Quốc được xác lập theo các mối quan hệ nhỏ hơn bao gồm: quan hệ trong gia đình, quan hệ theo nhóm chat, quan hệ theo hội dưới các hình thức khác nhau. Các mối quan hệ này kết nối những người Hàn Quốc ở Hà Nội thành một cộng đồng có những đặc điểm gần như một xã hội người Hàn Quốc thu nhỏ ở Hà Nội.

Hai chiều cạnh quan trọng khác trong quan hệ xã hội của cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội là mối quan hệ với cộng đồng cư dân địa phương và quan hệ với quê nhà. Trong quan hệ với cộng đồng cư dân địa phương, người Hàn Quốc ở Hà Nội đã có ý thức tham gia vào các hoạt động để tăng cường quan hệ, gắn kết với văn hóa và xã hội người Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng. Trong khi đó, người Hàn Quốc vẫn duy trì các mối quan hệ gắn kết với gia đình, dòng họ ở quê hương. Tất cả các mối quan hệ này cho thấy cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội vừa có sự kết nối tốt trong nội bộ cộng đồng vừa hòa nhập tích cực với xã hội của người Việt Nam ở địa bàn cư trú, đồng thời không làm mất đi sự liên hệ, gắn kết với quê hương.

 

_________________

Ghi chú:

[1] ThS., Bộ môn Hàn Quốc học, Khoa Đông phương học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội

[2] Nguyễn Thủy Giang (2020), “Quá trình hình thành cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội”, Tạp chí Khoa học xã hội và nhân văn, tập 6, số 1, tr. 109-125.

[3] 정현수, “OECD 출산율 꼴지는 한국... 유일한 ‘초저출산국가’, 머니투데이, 2018 (Jeong Hyeonsu, “OECD, Hàn Quốc là quốc gia duy nhất có tỷ lệ sinh thấp kỷ lục”, Moneytoday, 2018).

[4] Đây là cụm từ miêu tả tình trạng gia đình có cả hai vợ chồng cùng đi làm kiếm tiền để trang trải sinh hoạt phí.

[5] “Nhóm chat” là cách gọi các group trên phần mềm kakaotalk – một kênh mạng xã hội được đại đa số người Hàn Quốc sử dụng để liên lạc với nhau.

[6] Nguyễn Thị Phương Châm (2013), Internet: Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lương Hồng Quang (2007), Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

2. Nguyễn Thị Phương Châm (2013), Internet: Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

3. Nguyễn Thị Thắm (2016), Xã hội Hàn Quốc truyền thống và biến đổi, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

4. Nguyễn Thủy Giang (2020), “Quá trình hình thành cộng đồng người Hàn Quốc ở Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 6 số 1.

5. Thăng Điệp, “Người Hàn Quốc lười đẻ, tỷ lệ sinh lập đáy mới”, Vneconomy, 2019.

6. 정현수, “OECD 출산율 꼴지는 한국...유일한 ‘초저출산국가’, 머니투데이, 2018 (Jeong Hyeonsu, “OECD, Hàn Quốc là quốc gia duy nhất có tỷ lệ sinh thấp kỷ lục”, Moneytoday, 2018).

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 2 (240) 2-2021

 

 

Các tin đã đưa ngày: