Hai hình thức hôn nhân phổ biến trong văn học dân gian người Việt và một số tộc người miền núi phía Bắc

Hai hình thức hôn nhân phổ biến trong văn học dân gian người Việt và một số tộc người miền núi phía Bắc

28/07/2020

TS. BÀN THỊ QUỲNH GIAO

Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

Tóm tắt: Văn học dân gian là một tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam, là nơi lưu giữ những nét đẹp của đời sống tinh thần người Việt song hành cùng các giai đoạn lịch sử của dân tộc. Chủ đề hôn nhân là một trong những chủ đề được văn học dân gian đề cập đến khá nhiều, song có hai chủ đề hôn nhân được văn học dân gian người Việt và một số tộc người phía Bắc khai thác nhiều đó là chủ đề hôn nhân đơn hôn và hôn nhân phức hôn.

Từ khóa: Văn học dân gian, hôn nhân đơn hôn, hôn nhân phức hôn

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong các thể loại văn học dân gian, thần thoại, truyện cổ tích, sử thi, truyện thơ, ca dao, dân ca,… là những thể loại có lợi thế nhất trong việc thể hiện trí tưởng tượng phong phú cũng như bộc lộ tình cảm, suy nghĩ của con người một cách tự do nhất. Văn học bắt nguồn từ cuộc sống hay nói như M.Gorki “Văn học là tấm gương phản chiếu thời đại”, hiện thực cuộc sống chính là mảnh đất màu mỡ để văn học dân gian đâm chồi nảy lộc. Các thể loại văn học dân gian của người Việt và các tộc người phía Bắc đã phản ánh những mối quan hệ giữa gia đình với dòng tộc; hôn nhân và gia đình; gia đình với xã hội một cách sâu rộng và vô cùng phong phú. Qua khảo sát các thể loại văn học dân gian của người Việt và một số tộc người miền núi phía Bắc chúng tôi thấy có hai loại hôn nhân xuất hiện khá nhiều trong các thể loại văn học dân gian đó là: hôn nhân đơn hôn và hôn nhân phức hôn. Vì vậy, trong chuyên khảo này chúng tôi đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu hai hình thức hôn nhân này để làm sáng tỏ mối quan hệ qua lại giữa hôn nhân trong gia đình người Việt và hôn nhân trong gia đình một số tộc người sinh sống tại vùng miền núi phía Bắc Việt Nam.

II. NỘI DUNG

2.1. Hôn nhân phức hôn

Đây là hình thức nguyên nhân dẫn đến tình trạng rạn nứt mối quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong các thể loại văn học dân gian có dạng mô tả hôn nhân và gia đình phức hôn có hai mối quan hệ hôn nhân và gia đình như sau: nhất phu đa thê (polygyny) và nhất thê đa phu (polyandry). Khảo sát các thể loại văn học dân gian của người Việt và các tộc người phía Bắc chúng tôi thấy loạihôn nhân và gia đình nhất phu đa thê là loại phổ biến hơn và ngay trong xã hội có phức hôn thì hình thức đơn hôn vẫn là phổ biến. Loại hôn nhân, gia đình nhất phu đa thê (polygyny) thường thấy trong xã hội chưa có chữ viết, xã hội săn bắn, hái lượm và du mục, ở đó có sự phân hóa địa vị xã hội giữa nam giới và nữ giới. Người đàn ông trong mối quan hệ nhất phu đa thê ở đây thường là những người được ưu đãi về mặt kinh tế và có địa vị xã hội cao. Trong chế độ đa thê, quyền uy của người chồng trong gia đình rất cao, ngược lại, sự tự do của người phụ nữ là rất thấp.

Chúng ta bắt đầu đi từ câu chuyện cổ “Hoàng Đế bán hành”(1) của dân tộc Tày. Truyện kể rằng có một ông vua háo sắc, mặc dù đã có rất nhiều thê thiếp xong khi thấy dân gian bàn tán về sắc đẹp của vợ anh nông dân, ông ta bèn lấy quyền lực của mình bắt vợ anh nông dân vào cung bắt làm cung nữ. Từ hôm vị hoàng đế háo sắc bắt được người đẹp vào cung dù đã làm đủ mọi cách để cho nàng cười nhưng lúc nào nàng cũng buồn xo, ngày đêm khóc lóc. Qua câu chuyện này chúng ta có thể dễ dàng nhận ra được đặc điểm hôn nhân trong xã hội chưa có chữ viết, những người đàn ông có quyền uy thường “năm thê bẩy thiếp”, có những người phụ nữ bị ép vào cung làm vợ vua nhưng có khi cả đời vẫn chưa biết mặt chồng.

Tình cảnh thê, thiếp cũng xuất hiện trong ca dao người Việt. Khi đề cập đến hình thức hôn nhân đa thê ca dao phản ánh sự nhẫn nhịn, đành chấp nhận số phận chung chồng, đầy đắng cay, tủi nhục của những người phụ nữ trong xã hội xưa:

“Có ai lấy lẽ chú tôi thì vào

Thím tôi chả bảo làm sao

Nói lên vài tiếng lào nhào mấy câu(2)

          Hay:

“Đêm nằm thổn thức ngồi khêu đèn phụng

Canh sang  năm gần lụn khúc rồng

Trách ai ở chẳng hết lòng

Phụ tình gần gũi có chồng xa xôi.”(3)

Dân ca người Dao cũng coi vấn đề nhất phu đa thê như một nguyên nhân lớn dẫn đến tan vỡ gia đình. Bằng lối nói so sánh ví von người Dao đã nhắc nhở những người làm chồng chớ tham lam một nhà có hai vợ như đất nước sẽ loạn lạc khi phải thờ hai vua :

“Chá dậu nhây tảy chá dăm lo/

Cốc dậu nhây hùng cốc dăm ón”

          Dịch thơ:

“Nhà có hai vợ nhà chẳng vui

Nước có hai vua nước chẳng an”(4)

Hay người Thái thì lên án rất gay gắt hôn nhân nhất phu đa thê qua câu chuyện cổ tích “U Thềm”(5). Một ông vua có tới năm bà vợ nhưng với lòng tham của một người đàn ông có quyền uy, ông ta vẫn muốn kiếm thêm người phụ nữ khác làm vợ. Vì lòng tham ông ta đã trúng kế của yêu tinh, hại bốn bà vợ của mình và đứa con sắp chào đời, cuối cùng chính ông ta cũng bị yêu tinh hại chết, còn bốn bà vợ và đứa con của ông ta thì được tiên ông cứu sống. Người Thái muốn thông qua câu truyện cổ tích để giáo dục, răn đe những người đàn ông chớ nên tham lam, chiếm đoạt cùng lúc nhiều người phụ nữ cho riêng mình, đa thê ắt có ngày chết thảm. Trong truyện cổ tích của người Việt chúng ta cũng bắt gặp vô vàn những câu chuyện về những ông vua, ông chúa dùng quyền uy của mình để tạo nên một gia đình phức hôn, chẳng hạn như chuyện: Cô Mi, Ai mua hành tôi, Người vợ thông minh… song gia đình phức hôn được tạo ra bởi quyền lực không bao giờ có được tiếng nói, tiếng cười hạnh phúc.

Những câu chuyện cổ, hay những bài ca dao dân ca kiểu này, chính là sự phản ánh rõ nét nhất về sự tồn tại của kiểu gia đình nhất phu đa thê trong văn học dân gian người Việt và các tộc người phía Bắc. Với kiểu hôn nhân và gia đình nhất phu đa thê ít xuất hiện trong thể loại truyền thuyết nhưng trong truyện cổ tích và ca dao dân ca chúng ta thấy chúng xuất hiện với tần xuất lớn, chúng tôi khảo sát 41 câu truyện cổ tích trong cuốn Truyện cổ tích người Việt (tập 1) do nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Huế chủ biên thì có tới 13 truyện nhắc đến hình thức hôn nhân nhất phu đa thê. Tất cả những người phụ nữ khi được hoặc bị bắt về làm vợ, làm thê, làm thiếp họ rất ít được hưởng hạnh phúc. Bởi khi bước chân vào cuộc hôn nhân nhất phu đa thê họ phải dồn hết tâm trí phục vụ cho người chồng (giống như phục vụ một ông chủ), họ phải cắt đứt hết mọi mối liên hệ với bên ngoài, được đặt tên mới và học cách vâng lời. Họ sẽ phải sống chết tại nơi đó kể từ khi họ được mang về làm vợ, trong ca dao dân ca thường thể hiện thái độ lên án, phê phán gay gắt hình thức hôn nhân này bởi nó đã “giết chết” tâm hồn của những người phụ nữ trẻ mà họ đang mang trong mình khát khao được yêu, được hưởng hạnh phúc từ người chồng, từ gia đình riêng của mình. Với khát khao đó những câu chuyện cổ tích thường đem lại cho người đọc một kết thúc có hậu những người đàn ông đa thê thường bị trả giá thích đáng khi đưa những người phụ nữ vào tình cảnh chung chồng và thường những người phụ nữ chung chồng đó sẽ được giải thoát và có cuộc sống đơn hôn hạnh phúc. Đó là mơ ước chính đáng mà sau này khi con người và xã hội tiến bộ hình thức hôn nhân đơn hôn đã được thực hiện trong xã hội có chữ viết.

Trong xã hội mẫu quyền hình thức nhất thê đa phu (polyandry) cũng thấy xuất hiện, song hình thức này chúng ta gặp rất ít, theo các nhà nhân học thống kê, trên thế giới có ba nơi xuất hiện hình thức hôn nhân này, đó là trường hợp người Tây Tạng ở Himalaya, người Toda ở Nam Ấn Độ, người dân đảo Makesas, Polynesia(6). Trong văn học dân gian người Việt và văn học dân gian các tộc người phía Bắc chúng ta thấy xuất hiện hình thức hôn nhân này nhưng dưới dạng hôn nhân biết mẹ mà không biết cha (tức là kiểu hôn nhân sinh con mà không biết cha đứa trẻ là ai, hay còn gọi là hôn nhân chung chồng).

Chúng ta có thể tìm hiểu hình thức hôn nhân này bắt đầu từ truyền thuyết Sự tích vua bà bến nước và vua ông cội cây(7), mẹ Cội công và nàng Bến đều là những phụ nữ có chồng, dù là có chồng nhưng sự mang thai của họ phần nào chịu sự ảnh hưởng của thần thánh điều này trên thực tế đã cho thấy giữa những thánh nhân này với người chồng của người mẹ sinh ra họ chưa chắc đã có mối quan hệ huyết thống với nhau. Có thể thấy ở thời đó, trong quan niệm của họ có lẽ không tồn tại khái niệm “phụ thân” bởi người mẹ của những đứa trẻ cũng không xác định được “phụ thân” của chúng là ai, do vậy chúng cũng không thể xác định được ai trong số những người đàn ông đang sống cạnh chúng có quan hệ máu mủ với mình, chúng cũng chưa từng nghĩ đến việc tìm hiểu rõ chuyện này. Hơn nữa, trong điều kiện xã hội thời đó, việc xác định mối quan hệ huyết thống cha con là không thể thực hiện được. Chính vì thế mà đã lưu truyền trong dân gian rất nhiều truyền thuyết về việc trời cho con như: Tuyện Trung Định Công thời Hùng Vương hay Sự tích bảy anh em Lương, Hải, Long, Lôi, Sơn, Nhạc, Lĩnh thời Hùng Vương... là những câu chuyện như thế. Những người vợ sống với chồng cả cuộc đời, có những người vợ đã ngoài 50 tuổi mới được trời, phật ban cho con, họ sinh con ra nhưng những đứa trẻ đó đều không mang hình hài của người cha đang chung sống với mẹ chúng.

Không chỉ trong truyền thuyết mới xuất hiện hình thức hôn nhân này, trong truyện cổ tích của các dân tộc cũng xuất hiện nhiều mô típ hôn nhân như vậy. Nhân vật Nàng Út (8)trong truyện cổ tích cùng tên là một nhân vật được sinh ra trong sự cầu nguyện của một gia đình nông dân nghèo. Khi bố mẹ cô đã già tự nhiên mẹ cô có thai rồi sinh ra cô, do Nàng Út sinh ra chỉ bé bằng ngón tay nên cha mẹ cô không nuôi đem bỏ vào rừng. Ở trong rừng cô ăn vỏ quả dưa hấu do hoàng tử khi đi săn nhìn thấy ăn, ăn xong chỗ vỏ dưa hấu ấy cô mang thai rồi sinh ra một cậu con trai kháu khỉnh. Hoàng tử đi săn về cung luôn bứt dứt muốn quay trở lại ăn dưa hấu, khi chàng quay lại gặp Nàng Út đang bế con chàng đón hai mẹ con về cung. Các nhân vật trong quan hệ vợ chồng là người hoặc thần nhân do sinh đẻ thần kỳ mà ra, dạng truyện này hướng tới những người phụ nữ trong xã hội mẫu quyền. Những người phụ nữ như Nàng Út, Nàng Ả Voi (truyện cổ Mường)… mặc dù sinh con ra không biết cha của chúng là ai, thậm chí có những đứa con sinh ra còn mang hình hài kỳ dị (Sọ Dừa, Rắn, Dê…) bị xã hội kỳ thị, họ phải chịu “điều tiếng” thậm chí họ phải sống đơn độc vì bị chính người chồng của mình và làng bản tẩy chay. Bù lại những người phụ nữ ấy được an ủi khi thấy con mình càng lớn càng tài giỏi. Các thể loại văn học dân gian đã xây dựng được hình tượng phụ nữ trong hình thức hôn nhân nhất thê đa phu không phải để lên án, phê phán như nhất phu đa thê mà chính là đề cao đặc điểm của hôn nhân mẫu hệ, đây được coi là thiết chế xã hội đầu tiên của loài người ở thời kỳ công xã nguyên thủy(8)

Đó là những câu chuyện trong truyền thuyết, truyện cổ tích còn trong ca dao, dân ca khi phản ánh hôn nhân nhất phu đa thê lại có cách phản ánh khác. Không phải là những mối quan hệ chung chồng không xác định được phụ thân của đứa trẻ nữa mà là thái độ dè bỉu, khinh khi những người phụ nữ đang có quan hệ chung sống với chồng mà vẫn ăn ở với người đàn ông khác:

Không ngờ thuyền bè qua bến Bờ nghiêng ngả

Mọi đảo, khắp góc trời bình yên

Không ngờ em yêu lại gian tình theo trai

Không ngờ em mặc lụa diêm dúa tìm chồng

Không ngờ em chải tóc mượt đi với ai chờ đợi(9)

Người phụ nữ đang sống với chồng mà “Loạn trôn từ thủa vắng chồng tới nay”, “ve ông lái mành”…sẽ không có cuộc sống gia đình hạnh phúc điều này phản ánh rõ bước phát triển của hình thức hôn nhân phức hôn sang hình thức hôn nhân đơn hôn.

2.2. Hôn nhân đơn hôn

Ngược dòng lịch sử ta cũng thấy rằng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã dựa trên cách tiếp cận lịch sử về gia đình dựa trên qui luật phát triển của xã hội loài người khi bàn về: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước. Friedrich Engels đã viết rằng: “Gia đình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng yên tại chỗ mà chuyển từ một hình thức thấp lên hình thức cao khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên giai đoạn cao”(10)

Trong một số định nghĩa khác của các Từ điển được biết đến nhiều ở Châu Âu như Từ điển Xã hội (Nhà xuất bản Larousse, 1973): “Gia đình bao gồm một nhóm người gắn bó với nhau bằng một mối liên hệ hôn nhân, huyết thống hay là việc nhận con nuôi, có sự tác động qua lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh, chị em và họ hàng”(11). Từ điển Xã hội (Nhà xuất bản Les Encyclopedies du savoir moderne, 1973): “Gia đình là một nhóm xã hội không thể quy về các nhóm khác: Sự hình thành của nó, cấu trúc, các chiều hướng, các quan hệ giữa các thành viên và các quan hệ của nó với toàn bộ cơ chế xã hội, các chức năng biến đổi trong thời gian và không gian gắn liền với các hệ thống xã hội và các hình thức của nền văn minh”(12). Chính vì vậy, trong hình thức hôn nhân đơn hôn chúng ta thấy xuất hiện hai hình thức hôn nhân chính đó là hôn nhân với nhân vật mang lốt và hôn nhân tranh đoạt.

            Kết hôn với nhân vật mang lốt là một trong những biểu hiện của motif sự kết hôn. Lấy nhân vật mang lốt thường là nhân vật người con gái út hiền lành, tốt bụng trong gia đình giàu có, hoặc là những người con gái xấu xí trong gia đình nghèo nhưng giàu lòng vị tha, nhân hậu. Nhân vật mang lốt luôn phải phấn đấu để khẳng định mình với những thách thức lớn: gia đình nghèo khó, bị phân biệt đối xử, hoặc thuộc dòng dõi chúa tể các loài vật. Trong hôn nhân, cái lốt của nhân vật là thách thức lớn khi nhân vật đó muốn bảo vệ tình yêu chính đáng của mình. Có được hạnh phúc lứa đôi, cái lốt sẽ được cởi bỏ. Đó là nhân vật chàng Rắn trong truyện“Lấy chồng Rắn”(13)của dân tộc Cao Lan vùng Tuyên Quang,chàng trai mang lốt rắn đã kết hôn cùng người con gái xấu xí, con vợ cả của một người đàn ông hai vợ, mẹ cô gái mất nên cô phải sống trong sự ghẻ lạnh của mẹ kế và đứa em cùng cha khác mẹ, khi được cha ngỏ lời muốn một trong hai chị em kết hôn với rắn để gia đình được yên, không để rắn quấy phá cô chị đã nhận lời kết hôn và có một gia đình êm ấm, tràn ngập niềm vui. Qua đây, tác giả dân gian khẳng định quyền hạnh phúc của mỗi người trong xã hội, đồng thời cũng muốn khẳng định gia đình một vợ, một chồng con cái sẽ có cuộc sống hạnh phúc, giàu sang và quan niệm về sự hài hoà đạo đức và thẩm mỹ của con người.

        Hôn nhân đơn hôn với nền tảng, cơ sở là tình yêu, sự cảm thông, tin tưởng lẫn nhau luôn là khao khát của người bình dân.Các câu truyện cổ tích luôn đề cao, ca ngợi những người phụ nữ hiền dịu, chung thủy, hết mực yêu thương chồng. Những con người độc ác, muốn phá vỡ quan hệ hôn nhân một vợ, một chồng đều bị lên án, trừng phạt. Nhờ sự trợ giúp của bạn bè và lực lượng thần kỳ các ông chồng đã thoát khỏi âm mưu phá vỡ hạnh phúc gia đình để rồi cuối cùng được đoàn viên, sum họp với người vợ thủy chung, sống hạnh phúc bên nhau đến trọn đời, như truyện “Sọ Dừa”(14)của người Việt, “Người vợ thông minh” (15) của người Mèo... Các câu truyện đều kết thúc có hậu, hôn nhân đơn hôn vẫn được duy trì cho dù nó bị những thế lực xấu luôn tìm cách phá vỡ. Kết thúc có hậu của kiểu truyện này mang tính công thức và là qui luật phổ biến của tiểu loại truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân đơn hôn. Diễn biến cốt truyện của tiểu loại truyện này đạt đến hồi kết đoàn viên sum họp là nhờ tác giả dân gian đã biết khai thác tối đa những môtíp chính và phụ của dạng truyện này: hôn nhân tiền định, tranh cướp vợ người, tái sinh, lừa cướp vợ người, tranh cướp lại vợ, lực lượng phù trợ thần kỳ gồm: rắn, lá cây thần…

        Hình thức hôn nhân đơn hôn là nền tảng vững chắc để duy trì cuộc sống hôn nhân và gia đình. Trong truyện cổ tích khi đề cập đến hình thức đơn hôn thường có hai tuyến nhân vật đó là: Những người chồng rất mực yêu vợ và thủy chung với vợ; những tên quan, vua lấy quyền uy của mình để cướp những người vợ xinh đẹp của những người chồng đậm chất nông rân về làm vợ, làm thiếp… Tiêu biểu như truyện “Ai mua hành tôi”(16)của người Việt, từ việc anh chồng cứu sống con chim sẻ và được chim trả ơn bằng một lọ nước thơm, người vợ mang ra tắm, gội trở nên xinh đẹp, vua thấy hình người vợ liền sai quan đại thần và thị vệ bắt người phụ nữ về làm vợ. Người vợ ở trong cung không nói, chẳng cười chỉ đến khi nghe được tiếng nói của chồng mới cười nói và lập mưu giết tên vua gian ác sống hạnh phúc bên chồng và ngai vàng. Hay truyện “Nàng Kháy” (17)của dân tộc Nùng cũng đề cập đến sự thủy chung, son sắt của người vợ giành cho chồng và tình yêu trước sau như một của người chồng giành cho vợ.

Không chỉ truyện cổ tích đề cao hôn nhân đơn hôn mà trong ca dao người Việt cũng có nhiều câu ca dao đề cao hình thức hôn nhân này, chẳng hạn:

“Đói lòng ăn nắm lá sung

Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

Một thuyền một lái chẳng xong

Một chĩnh đôi gáo còn nong tay vào” (18)

Những người phụ nữ xưa cho rằng, hôn nhân của họ có hạnh phúc, có êm ấm hay không là do vợ chồng quyết định. Nếu “chồng đôi, vợ ba” thì hôn nhân sẽ không bền vững, đồng thời sẽ mang lại những đau khổ cho nhau, chi bằng một vợ, một chồng đói no có nhau cuộc sống hạnh phúc xiết bao:

“Đói no một vợ một chồng

Một niêu cơm tấm, dầu lòng ăn chơi” (19)

Họ cùng nguyện thề khi sống có nhau thậm chí khi chết đi họ vẫn thủy chung chỉ một vợ, một chồng:

“Duyên số đến ngày kết thành đôi.

Hai người cùng hứa sống hòa thuận

Chung thủy với nhau chết chẳng rời

Lúc sống hai người chung chăn gối

Chết cũng chung nhau ngôi mộ chôn” (20)

Nhờ hình thức hôn nhân đơn hôn mà các gia đình người Dao tồn tại bền vững theo chế độ phụ quyền, người chồng là chủ gia đình nhưng không vì thế mà người chồng có thể làm theo ý muốn của mình. Đặc biệt là người đàn ông Dao không được lấy hai vợ, lấy vợ rồi thì không được bỏ vợ.

Hôn nhân của người Việt và các tộc người phía Bắc về cơ bản dựa trên cơ sở tình yêu và tự nguyện, một vợ, một chồng theo nguyên tắc ngoại hôn dòng họ, nội hôn tộc người. Quyền quyết định hôn nhân phần chính do đôi trai gái, cha mẹ chỉ có vai trò định hướng. Cũng có trường hợp do sự kết nối của hai bên gia đình nhưng không hoàn toàn áp đặt mà đồng thời cũng được đôi trai gái ưng thuận, họ sẽ cùng nhau chung sống, cùng nhau tăng gia sản xuất, gia đình hòa thuận, êm ấm:

“Nay nên vợ nên chồng

Yêu nhau, đi theo nhau

Lấy nhau, đi theo nhau

Lấy nhau, cùng chung sống

Em làm, anh cũng làm

Sớm chiều trên ruộng nương”(21)

Khi đã thành vợ thành chồng thì việc hòa thuận và thủy chung được đề cao và thường xuyên nhắc nhở lẫn nhau trong cuộc sống gia đình nhằm hướng đến một gia đình ấm no hạnh phúc:

Em ơi chua ngọt đã từng

Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau

          hay:

Trăm năm lòng gắn dạ ghi

Dẫu ai đem bạc đổi chì cũng không.(22)

Tuy không phải mối tình nào cũng kết thúc có hậu, nhưng không phải vì thế mà con người mất niềm tin vào cuộc sống. Chính tình yêu và bao mộng ước thật đẹp nơi tương lai là động lực, là nguồn sống để con người vượt qua và hướng đến cái đẹp ấy. Và, con đường đi nếu toàn là thảm đỏ thì người đi sẽ không ý thức được bước chân của mình như thế nào; con đường đi ấy phải có  nhiều chông gai để từ đó phát huy được sự nỗ lực, tinh thần cầu tiến của mỗi con người. Cho nên, dù có trắc trở, hờn trách nhau thế nào thì tình yêu vẫn là một tiếng nói khát vọng hạnh phúc của con người từ xưa cho đến ngàn sau, mà điều ấy đã được ông cha ta thể hiện một cách rõ nhất qua những câu ca dao thật đẹp chan chứa tình người.

Và như chúng ta đã biết, người Việt nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số từ xưa và nay đều sống rất đậm tình, nặng nghĩa, chung thủy sắt son. Bởi thế mà họ còn gửi gắm niềm tin mong mỏi của mình được chung sống hạnh phúc nhân nghĩa,vẹn toàn trước sau với mọi người trong truyện cổ tích. Trầu cau(23) là một trong những câu chuyện rất tiêu biểu làm sáng rõ ước mơ này. Trầu cau kết thúc bằng cái chết vĩnh viễn của ba nhân vật chính. Người em, người anh và người vợ. Cái chết của họ là một bài học luôn nhắc nhở mọi người phải sống bằng chính mình, phải biết yêu thương, độ lượng, tránh sự nghi kị, ghen tuông vu vơ. Bởi tất cả đều có thể phải trả giá rất đất. Một gia đình đang sống yên vui, hòa thuận là thế mà chỉ vì một phút nhận nhầm của người vợ, ôm chầm lấy người em mà khiến người anh sinh ra ghét bỏ, hắt hủi em. Người vợ không có lỗi, chỉ vì quá nhớ thương, mong mỏi gặp chồng nên sinh ra nhầm lẫn. Người anh mới có lỗi, đã ghen tuông vu vơ, hiểm nhầm vợ và em… Cuối cùng, họ chết đi, hóa thành tảng đá, dây trầu, cây cau đứng bên nhau. Và khi ăn lá trầu với quả cau và một tí vôi thì làm môi đỏ miệng thơm. Điều đó nói lên rằng nếu vợ chồng yêu thương nhau thông cảm cho nhau. Anh em hòa thuận đoàn kết thì gia đình sẽ êm ấm.

Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con, cháu. Hôn nhân cũng tạo ra tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng. Đó là về quan hệ xã hội. Còn nhìn từ chiều cạnh văn hóa, hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông với một người đàn bà, là sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và duy trì những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm”(24).

III. KẾT LUẬN

Hôn nhân là một trong những vấn đề cơ bản, yếu tố khởi đầu quyết định tạo dựng gia đình và sự bền vững của gia đình. Hôn nhân và gia đình có mối quan hệ biện chứng, nhân quả, gắn liền với không gian văn hóa tộc người và quá trình tộc người. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hình thái hôn nhân phản ánh trình độ phát triển, văn minh của một xã hội tương ứng với nó. Thời kỳ mông muội, loài người sống trong tình trạng tạp hôn cũng không hơn gì bầy đàn của loài vật, tính chất của hôn nhân lúc này chưa ý thức được vai trò xã hội của nó ngoài bản năng duy trì nòi giống đơn thuần. Khi con người thông minh xuất hiện, loài người dần được thiết lập một trật tự xã hội nhất định và hôn nhân cũng có những hình thái tương ứng. Sự biến đổi từ hôn nhân gia đình phức hôn sang hình thức hôn nhân gia đình đơn hôn đã phần nào phản ánh được khát vọng hạnh phúc gia đình của con người đồng thời là bước ngoặt từ xã hội cổ xưa sang xã hội văn minh, hiện đại.

Truyền thuyết, cổ tích và ca dao là các thể loại văn học dân gian có lợi thế trong việc phản ánh bức tranh hiện thực xã hội. Truyền Thuyết, cổ tích với lợi thế về trí tưởng tượng vô cùng tự do, phong phú đã sáng tạo nên rất nhiều những cốt truyện phản ánh các mối quan hệ đa dạng từ gia đình đến xã hội. Nhưng truyền thuyết, cổ tích cũng như các loại truyện kể dân gian khác cũng có hạn chế là thiên về diễn biến sự việc, hành động nhân vật mà ít khả năng thể hiện tâm trạng tư tưởng của nhân vật. Còn ca dao lại là tiếng nói trữ tình với phương thức biểu đạt chủ yếu là biểu cảm nên có thể đề cập đến tất cả những góc khuất trong tư tưởng, tình cảm của con người. Ca dao thể hiện các mối quan hệ của con người vô cùng sâu sắc. Với những điểm mạnh và điểm yếu riêng của từng thể loại, cổ tích và ca dao đã bổ sung lẫn nhau trong việc phác hoạ các mối quan hệ gia đình và xã hội của người Việt. Ca dao và cổ tích giúp người đọc có thể hình dung được hành trình lịch sử, hành trình văn hoá của con người Việt Nam trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Giá trị của chất nhân văn trong các thể loại văn học dân gian này là  giúp người đọc khám phá những vẻ đẹp hiện thực cuộc sống bình thường, làm phong phú nhận thức của con người, nâng cao đời sống tinh thần và bồi đắp tâm hồn con người ngày càng tốt đẹp hơn. Chất nhân văn là kết tinh, hội tụ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, tạo nên sức cuốn hút, hấp dẫn mọi thế hệ, là sự gắn kết mạch nguồn dân tộc từ quá khứ đến tương lai.

 


(1) NguyễnThị Huế (chủ biên): Truyện cổ tích người Việt, Tập 1. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.66, 68.

(2) Nguyễn Xuân Kính (chủ biên): Tổng tập VHDG người Việt, Tập 15. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.381.

(3) Nguyễn Xuân Kính (chủ biên): Tổng tập VHDG người Việt, Tập 15. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.376.

(4)Trần Hữu Sơn: Thơ ca dân người Dao Tuyển. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2005, tr.208.

(5)NguyễnThị Huế (chủ biên): Truyện cổ tích người Việt, Tập 1. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.178, 183.

(6) Vũ Minh Chi:  Nhân học văn hóa - Con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.210, 211.

(7) Kiều Thu Hoạch (chủ biên): Tổng tập VHDG người Việt, Tập 4. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr.95, 97.

(8) NguyễnThị Huế (chủ biên): Truyện cổ tích người Việt, Tập 2. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.132, 134.

(8) Cho đến nay, nhiều nhà khoa học vẫn khẳng định sự tồn tại của loại hình thị tộc mẫu hệ như trong bộ sách Bách khoa toàn thư Việt Nam.

(9) Hoàng Văn Trụ: Dân ca các dân tộc thiểu số Việt Nam. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997, tr.264.

(10) Friedrich Engels:Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Tuyển tập Mác-Ăngghen, Tập VI. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1961, tr.59.

(11) Từ điển nhân học. Nxb. Les Encyclopedies du savoir moderme, 1997, tr.131.

(12) Từ điển nhân học. Nxb. Les Encyclopedies du savoir moderme, 1997, tr.233.

(13) NguyễnThị Huế (chủ biên):Truyện cổ tích người Việt, Quyển 2. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.59,  66.

(14) NguyễnThị Huế (chủ biên):Truyện cổ tích người Việt, Quyển 3. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.98, 109.

(15) NguyễnThị Huế (chủ biên):Truyện cổ tích người Việt , Quyển 3. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.191, 201.

(16) )NguyễnThị Huế (chủ biên): Truyện cổ tích người Việt, Quyển 1. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.61,  65.

(17) NguyễnThị Huế (chủ biên): Truyện cổ tích người Việt, Tập 1. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.68, 75.

(18) Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên): Tổng tập VHDG người Việt, Tập 15. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.379.

(19) Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Sdd, tr.379.

(20) Triệu Hữu Lý: Dân ca Dao. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1990, tr.77.

(21) Hoàng Văn Trụ: Dân ca các dân tộc thiểu số Việt Nam. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997, tr.159.

(22) Đinh Gia Khánh: Ca Dao Việt Nam. Nxb. Tổng hợp, Đà Nẵng, 1995, tr.87.

(23) NguyễnThị Huế (chủ biên):Truyện cổ tích người Việt, Quyển 3. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.374, 375.

(24) Friedrich Engels:Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Tuyển tập Mác-Ăngghen, Tập VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, tr.342.

 

Nguồn: Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, ISSN 2354-1512, số 40, tháng 5 năm 2020

 

Các tin đã đưa ngày: