Lễ hội đình Trà Cổ và các chiều kết nối
Cổng Thông tin điện tử Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Lễ hội đình Trà Cổ và các chiều kết nối” của PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Châm (Viện Nghiên cứu Văn hóa).        
Anh-tin-bai
Lễ hội đình Trà Cổ

Nguồn: Hình minh họa tạo bởi công cụ trí tuệ nhân tạo (AI)

Lễ hội đình Trà Cổ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2019, và hiện trở thành một di sản văn hóa đặc sắc của cộng đồng cư dân Trà Cổ - Móng Cái. Từ trong quá khứ, lễ hội đình Trà Cổ luôn thể hiện những chiều kết nối đa dạng; trong bối cảnh xã hội đương đại, cùng với quá trình hội nhập, hiện đại hóa và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng của Trà Cổ - Móng Cái, các chiều kết nối ấy tiếp tục được củng cố, mở rộng và chính thống hóa, khiến cho lễ hội Trà Cổ ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân, cũng như trong chiến lược phát triển vùng biển và vùng biên giới Trà Cổ - Móng Cái.

Khái quát về Trà Cổ

Trà Cổ hiện nay là một phường thuộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Theo thông tin từ Ủy ban nhân dân phường Trà Cổ, phường có diện tích tự nhiên 1.301,87ha, phía Đông giáp Trung Quốc, có bãi biển trải dài hơn 7km. Dân số của Trà Cổ hiện là 5.220 người, với 1.459 hộ dân.

Cơ cấu kinh tế của Trà Cổ hiện nay gồm: Du lịch - Dịch vụ - Ngư nghiệp - Nông, lâm nghiệp, trong đó nguồn thu từ các dịch vụ chiếm khoảng 70% tổng thu ngân sách của địa phương.

Cư dân Trà Cổ có nguồn gốc từ các tỉnh miền Trung di cư ra Hải Phòng, sau đó theo thuyền ra định cư tại vùng biển đảo Trà Cổ và một số đảo lân cận từ thế kỷ XVI. Sau khi ổn định làng xóm, vùng biển này tiếp tục thu hút thêm cư dân từ nhiều nơi khác ở Bắc Bộ đến sinh sống. Cuộc sống của người dân nơi đây thăng trầm cùng với những biến động lịch sử tại khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

Trước năm 1887, vùng biển đảo Trà Cổ thuộc châu Vạn Ninh, cùng nhiều hòn đảo khác như Sơn Tâm, Vạn Vĩ, Vu Đầu, Hồng Khảm, Trúc Sơn (xem thêm: Bùi Quốc Linh, 2021). Tuy nhiên, sau khi Hiệp ước 1887 và 1895 được ký giữa Pháp (với tư cách là “nước bảo hộ" của Việt Nam) và Trung Quốc (nhà Thanh), Trà Cổ thuộc về Việt Nam, còn các vùng biển đảo liền kề, trong đó có ba đảo Sơn Tâm, Vạn Vĩ, Vu Đầu, thuộc về Trung Quốc.

Mặc dù vậy, người Việt ở Sơn Tâm, Vạn Vĩ, Vu Đầu vẫn duy trì giao lưu mật thiết với cư dân Trà Cổ bằng đường bộ, đường sông và đường biển. Mối quan hệ ấy chỉ bị gián đoạn sau chiến tranh biên giới năm 1979, khi Trà Cổ trở nên cách trở hơn và được nhìn nhận như một vùng biên giới xa xôi, khó khăn.

Đến năm 1991, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc chính thức bình thường hóa, cửa khẩu quốc tế Móng Cái - Đông Hưng cùng các cửa khẩu phụ được mở lại, tạo điều kiện cho dòng chảy hàng hóa và con người trở nên sôi động. Khu vực Móng Cái - Trà Cổ nhanh chóng trở thành đầu mối giao thương quan trọng của vùng Đông Bắc và cả nước, thông qua cả đường bộ lẫn đường thủy.

Các dòng chảy thương mại và du lịch phát triển mạnh mẽ đã khiến Trà Cổ trở thành không gian giao lưu đa chiều, năng động trong phát triển kinh tế, đồng thời trở thành điểm đến du lịch biển, du lịch vùng biên và du lịch văn hóa - tín ngưỡng đặc sắc. Trong bối cảnh đó, người dân Trà Cổ đã tái cấu trúc đời sống văn hóa, trong đó lễ hội đình Trà Cổ được xem như một không gian văn hóa quan trọng, góp phần củng cố và mở rộng các chiều kết nối nội vùng và ngoại vùng, trong nước và quốc tế, giúp người dân vừa giữ gìn truyền thống, vừa tiếp nhận yếu tố đương đại, hướng tới phát triển bền vững trong tương lai.

Lễ hội Trà Cổ hiện nay

Lễ hội Trà Cổ được tổ chức tại đình Trà Cổ, một ngôi đình cổ được xây dựng từ thời Hậu Lê, năm Quang Thuận thứ 2 (1461). Đình thờ thành hoàng làng gồm các vị: Không Lộ, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch, Ngọc Sơn, Điểm Tước, cùng sáu vị tiên công có công khai khẩn, lập làng.

Từ đầu thế kỷ XX đến nay, đình Trà Cổ đã trải qua nhiều lần trùng tu, trong đó có các đợt lớn vào các năm 1920, 1964, 1991 và 2013. Việc trùng tu chủ yếu theo hướng mở rộng quy mô (từ diện tích khoảng 500m² lên khoảng 1.200m²), tu bổ và tôn tạo các hạng mục như đại đình, mái ngói, nhà thủ từ, nghi môn, tứ trụ, am hóa sớ, sân đường, tường rào… Mặc dù đã qua nhiều lần trùng tu, song đình Trà Cổ vẫn cơ bản giữ được nét đặc trưng kiến trúc truyền thống của ngôi đình Bắc Bộ: sàn đình cao, mái lợp ngói vảy, bốn đầu đao cong vút; hệ thống xà, cột, kèo được chạm khắc công phu; cấu trúc gồm tiền đường năm gian, bái đường hai chái và hậu cung ba gian. Hiện nay, đình còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ quý như: ba đỉnh hương đồng, hai hạc cưỡi đầu rồng, tám long ngai gỗ, mười hai sắc phong, cùng nhiều câu đối, cửa võng, hoành phi, đại tự,...

Trước đây, lễ hội Trà Cổ được tổ chức trong tám ngày. Tuy nhiên, từ khi được phục dựng lại vào năm 1993, lễ hội được tổ chức trong 3,5 ngày (từ sáng 30/5 đến hết sáng 3/6 âm lịch). Công việc chuẩn bị quan trọng nhất của lễ hội là bầu ông Đám và thực hiện tục “ông Đám nuôi ông Voi” (tức là nuôi lợn tế thần trong ngày hội).

Theo lệ làng, mỗi năm có 12 trai đinh được lựa chọn làm ông Đám, với nhiệm vụ thay mặt dân làng phụng sự thần thánh và thực hành các nghi lễ, lễ hội trong suốt một năm. Trong đó, công việc quan trọng nhất, thể hiện tập trung nhất tinh thần phụng sự ấy là nuôi ông Voi. Vai trò đặc biệt của ông Đám là chăm sóc ông Voi - con vật được xem như biểu tượng thiêng liêng - với tâm niệm thay mặt dân làng phụng sự thần linh.

Trình tự lễ hội đình Trà Cổ1 được thực hành bao gồm:

Sáng ngày 30/5, lễ mộc dục: làm vệ sinh, lau rửa ngai kiệu, trang trí trong đình, dọn dẹp sắp xếp ngai kiệu theo vị trí chuẩn bị cho các lễ rước và phân công trực trông giữ đình trong suốt thời gian mở hội. Chủ trì nghi lễ này là một thành viên Ban Tổ chức lễ hội, người thực hiện chính là cụ mo của đình. Chiều ngày 30/5 diễn ra hai nghi lễ: một là, lễ rước mâm hoa quả, cây đèn thần từ nhà văn hoá khu Nam Thọ về đình. Chủ trì lễ này là ông Phó Chủ tịch UBND phường Trà Cổ. Thành phần tham gia là Ban Tổ chức lễ hội. Cây đèn thần rước về đình được để trong hậu cung, các ông Đám đương nhiệm có nhiệm vụ trông giữ cho đến ngày làm lễ Tống đăng (3/6). Mâm hoa quả rước về 1 mâm đặt ở ban Chính điện, 2 mâm đặt ở 2 bên nhang cảnh. Hai là lễ rước ông Voi ra đình chầu Thần và chấm thi ông Voi. Chủ trì lễ này là ông Phó Chủ tịch UBND phường. Đội hình rước vẫn giữ nguyên như ở lễ rước mâm hoa quả và cây đèn thần. Các ông Voi được tắm rửa sạch sẽ, được trang điểm cho da dẻ hồng hào nổi bật đưa vào cũi đỏ đặt trên xe kéo (có lọng che) để rước ra đình trong sự hân hoan của ông Đám và gia đình, họ hàng, dân làng. Ở đình các ông Voi xếp hai hàng chầu thần. Các ông Voi được chấm theo tiêu chí cân nặng và hình thức (da, dáng và mặt). Ông Voi đạt giải nhất sẽ được hiến sinh, tế thần. Các ông Voi khác trở lại là lợn, không phải kiêng kỵ như trước đó nữa nên các ông Đám có thể bán hoặc để ăn song các ông Đám ít khi bán mà chủ yếu chia ra biếu các chức sắc trong làng và làm cỗ khao dân làng. Tối ngày 30/5, Đoàn thanh niên và công chức văn hoá - xã hội phường tổ chức đêm văn nghệ chào mừng lễ hội.

Ngày 1/6 là ngày chính hội. Từ 6:00 - 6:30 sáng là lễ thỉnh sinh, dâng ông Voi đã được giải Nhất trong chiều 30/5 tế Thần. Tham gia lễ này có sư mo, các thành viên Ban Tổ chức, các cụ, các chức, các ông bà trong Ban Thường trực, các ông Đám đương nhiệm. Từ 6:30 - 7:00, lãnh đạo thành phố làm lễ dâng hương trong đình. 7:00 lễ khai mạc lễ hội bắt đầu với các tiết mục văn nghệ chào mừng lễ hội, sau đó là diễn văn khai mạc của đại diện lãnh đạo phường và màn gióng trống khai hội của ông Phó Chủ tịch UBND thành phố Móng Cái. Trong lễ khai mạc lễ hội còn có lễ trao giải thưởng cho các ông Đám nuôi ông Voi đạt giải và giấy chứng nhận cho tất cả các ông Đám đã hoàn thành nhiệm vụ nuôi ông Voi. 7:30 diễn ra nghi lễ quan trọng nhất là lễ rước kiệu nghênh Thần. Phụ trách nghi lễ này là đại diện lãnh đạo Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phường. Hành trình đoàn rước từ đình ra miếu Đôi và từ miếu Đôi trở lại đình, khi về đến đình làm lễ An vị. Ngay sau lễ An vị là phần dâng lễ của các ông bà Đám khoá vừa hoàn thành, sau đó là phần dâng lễ của các đơn vị, tổ chức, cá nhân theo đăng ký. Buổi tối ngày 1/6, lễ đóng cây đám2 thực hiện những kiêng kỵ quan trọng của làng trong thời gian mở hội và lễ gọi số bìa xanh (sổ của làng ghi tên các trai đinh theo lứa tuổi, trong buổi lễ này đọc tên cho dân làng biết).

Sáng ngày 2/6, đại diện Ban Tổ chức, ông Đám đương nhiệm, ông mo đến lễ ở chùa Vạn Linh Khánh và đền Thánh Mẫu. Sau đó là lễ rước cỗ của ông Đám đương nhiệm theo cung đường từ đình đến nhà ông Đám trưởng rồi từ nhà ông Đám trưởng trở về đình. Khi về đình, các mâm cỗ đặt từ trong hậu cung ra bên ngoài đến hai bên nhang cảnh. Buổi chiều 2/6, các đoàn khách và người dân địa phương tiếp tục vào dâng lễ. Tối ngày 2/6, thực hiện lễ cất cây đám và gọi danh sách các ông Đám mới và các ông Đám mới này chiềng làng nhận nhiệm vụ. Chủ trì hai lễ này là một thành viên của Ban Tổ chức, ông mo là người thực hiện nghi lễ trước ban thờ.

Sáng ngày 3/6 diễn ra lễ rước cỗ và tế cỗ ở đình của các ông Đám mới. Các ông Đám mới chuẩn bị cỗ tập trung ở đình rồi rước từ đình đến nhà ông Đám trưởng rồi lại từ nhà ông Đám trưởng về đình. Cỗ của các ông Đám khi rước về đình sẽ được đặt từ trong hậu cung ra đến bên ngoài và làm lễ tế cỗ với sự chủ trì của chủ tế và thực hiện đầy đủ các bước tế của cả ban tế. Tế xong, các ông Đám phát lộc cho nhà đình, cho dân làng và khao làng. Sau lễ tế cỗ ông Đám, Câu lạc bộ hát cửa đình Vạn Ninh biểu diễn hát cửa đình. Tiếp theo chủ tế làm lễ tung cây bông để dân làng xin lộc, lễ tống đăng (cất cây đèn thần) và cúng thí ôn (cúng thí thực cho chúng sinh) kết thúc hội.

Song song với các phần lễ, phần hội diễn ra sôi nổi hơn cả là vào chiều ngày 1/6 và 2/6 với các trò chơi dân gian như: đi cà kheo, kéo co, bóng chuyền hơi, nhảy bao bố, cờ tướng,…

Lễ hội đình Trà Cổ hiện nay được xem là điểm nhấn văn hoá quan trọng của Móng Cái. Trong tất cả các giới thiệu, quảng cáo về văn hoá của thành phố luôn có đình và lễ hội đình Trà Cổ. Từ năm 2015 tới nay, lễ hội đình Trà Cổ được tổ chức với quy mô cấp thành phố.

Lễ hội Trà Cổ: củng cố, gia tăng và chính thống hoá các chiều kết nối

Lễ hội Trà Cổ từ trong truyền thống đã luôn có các chiều kết nối giữa chủ thể văn hoá - người dân Trà Cổ với cội nguồn (đất tổ Đồ Sơn), với chính quyền địa phương, với các cộng đồng cận cư và cả những sự kết nối nội tại trong cộng đồng cư dân Trà Cổ. Trong bối cảnh phát triển của Trà Cổ hiện nay, Trà Cổ trở thành khu du lịch quốc gia (2019) với thế mạnh về du lịch biển và du lịch văn hoá, Trà Cổ là đầu mối giao thương quan trọng với Trung Quốc cả bằng đường bộ, đường sông và đường biển, nằm trong khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm quốc gia3. Trà Cổ cũng là một vùng đất được gắn nhiều ý nghĩa biểu tượng (nơi địa đầu tổ quốc, vùng đất của những cột mốc chủ quyền, vùng đất phên dậu, vùng biển trù phú, vùng đất của các di sản, nơi hội tụ các dòng chảy di cư, thương mại và văn hoá,...). Trong bối cảnh ấy, lễ hội Trà Cổ có sự phát triển theo hướng mở rộng, nâng cấp, nâng tầm và theo đó, các chiều kết nối trong lễ hội cũng được củng cố, gia tăng và chính thống hoá theo nhiều cách khác nhau.

Lễ hội Trà Cổ như mô tả ở mục trên được chính quyền, ngành văn hoá và người dân Trà Cổ nhấn mạnh và tự hào là “được thực hành đúng theo truyền thống”, “giữ được như truyền thống”, điều đó đã thể hiện một chiều kết nối quan trọng của lễ hội này là kết nối truyền thống và đương đại. Các nghi lễ chính như lễ tế, lễ rước, lễ tống đăng, tung cây bông, tục nuôi ông Voi,... vẫn được thực hành như trong truyền thống song các yếu tố đương đại hay các yếu tố mới cũng đã đan cài và thể hiện rõ trong các nghi lễ, phong tục này, ví như lễ hội có kịch bản lễ hội theo phê duyệt của chính quyền và ngành văn hoá, có diễn văn khai mạc lễ hội, gióng trống khai hội, văn nghệ chào mừng trước khi làm lễ rước Thần, lá quốc kỳ đi đầu đoàn rước, các cơ quan, ban ngành, các nhóm, cụm cư dân lập thành đoàn dâng hương lễ thần,... Ngay cả văn tế cũng có sự bổ sung cho phù hợp hơn với bối cảnh đương đại, “trước kia dân làng chủ yếu ở trong làng và chỉ làm 3 nghề chính: nông nghiệp, chài lưới, buôn thuyền nên văn tế chỉ cầu cho 3 nghề này nhưng nay dân làng làm nhiều nghề rồi, nhất là nghề buôn bán cửa khẩu nên văn tế cầu chung cho là dân làng ai làm nghề nào tốt nghề đó, ai đi công việc gì được công việc đấy, sống ở đâu may mắn ở đó" (ông Đàm Văn Vinh, 70 tuổi, Hội Người cao tuổi Trà Cổ). Yếu tố truyền thống và đương đại hoà quyện với nhau được lý giải theo cách “chúng tôi đang thực hành nghi lễ truyền thống song những nghi lễ này cũng phù hợp với hiện nay" như lời ông Vũ Văn Trung4, 58 tuổi, người Trà Cổ, làm việc ở Móng Cái và là trưởng nhóm dâng hương của cơ quan ông trong các mùa lễ hội Trà Cổ gần đây. Yếu tố đương đại muốn đưa vào lễ hội luôn được người dân và cán bộ diễn giải theo hướng những yếu tố này “đã có sẵn từ truyền thống, chúng tôi gợi lại và phát triển thêm thôi" (bà Phạm Thị Chung, 55 tuổi, thôn Nam Thọ). Sự gợi lại và phát triển thêm ấy chính là cách đưa các yếu tố đương đại kết hợp với truyền thống và dần dần trở thành truyền thống. Sự củng cố chiều cạnh kết nối này giúp cho lễ hội Trà Cổ được thực hành liên tục và bền vững trong cộng đồng.

Sự kết nối truyền thống - đương đại còn được người dân giải thích và minh chứng bằng sự kết nối các thế hệ qua thực hành lễ hội. Lễ hội Trà Cổ luôn có đầy đủ các lớp tuổi tham gia. Đám rước trong lễ hội, tục 12 ông Đám nuôi ông Voi thờ thần và lễ gọi sổ bìa xanh thể hiện rõ nhất sự kết nối thế hệ này. Đám rước được phân công kỹ lưỡng cho từng lớp tuổi : từ các cháu trong độ tuổi học trung học cơ sở đến các thanh niên, trung niên và người cao tuổi. Bên cạnh đó, đội hình đi trong đám rước luôn có đủ các ông mo, ông chủ tế, các chức và các cụ cao tuổi, các ông bà Đám mới, Đám đương nhiệm trung niên, nhóm thanh niên và các nhóm dân cư theo đội hình các xóm, ngõ ở khu Nam Thọ đủ các lớp tuổi. Mặc dù theo phong tục, những người được bầu làm cai đám nhận nhiệm vụ nuôi ông Voi nhưng thực chất công việc này là của cả gia đình và nhiều khi bà Đám hay bố mẹ mới là người chăm sóc chính cho ông Voi, vì vậy đến ngày hội, rước ông Voi ra đình bao giờ cũng có cả nhà (ông bà, bố mẹ, vợ chồng, con cái) rước cùng ông Đám. Lễ gọi sổ bìa xanh trong lễ hội nhằm rà soát và công bố số dân đinh trong làng cũng là một cách tạo sự kết nối thế hệ khi dân làng luôn được cập nhật về số dân đinh cũ và mới, những người cao tuổi còn trong làng. Đây là quá trình kết nối thế hệ một cách tự nhiên, khéo léo và bền chặt, các thế hệ cứ theo lệ đó mà truyền nhau thực hành các nghi lễ, phong tục trong lễ hội.

Một chiều kết nối có thể nhận thấy rất rõ trong lễ hội Trà Cổ là kết nối cộng đồng. Sự kết nối này, từ lâu đã được các nhà nghiên cứu về lễ hội khẳng định như một đặc điểm hay giá trị của lễ hội (Đinh Gia Khánh, 1989; Lê Trung Vũ, 1992; Ngô Đức Thịnh, 2001; Lê Hồng Lý, 2014,...), tuy nhiên, sự thể hiện của nó ở mỗi cộng đồng lại có sự khác nhau. Với cộng đồng Trà Cổ, một cộng đồng di cư từ đất liền ra vùng biển đảo, định cư ở vùng biên giới, thành phần dân cư đa dạng, trong lịch sử đã từng phải chuyển cư do chiến tranh biên giới và hiện nay trở thành trung tâm của sự phát triển vùng biên nên sự kết nối này rất có ý nghĩa và luôn được người dân chú trọng gia tăng. Nhiều người dân Trà Cổ tự hào kể về lễ hội của địa phương mình, về sự linh thiêng, khả năng phù trợ, che chở của các vị thần được thờ trong đình đối với dân làng và sự nghiêm cẩn của họ trong việc phụng sự việc đình đám, lễ hội. Chỉ riêng niềm tin và niềm tự hào đó của người dân đã tạo ra sự gắn kết của họ với cộng đồng. Những người làm trong bộ máy chính quyền ở phường Trà Cổ hầu hết cũng là những người dân Trà Cổ nên riêng việc đình đám, lễ hội hầu như không có sự chênh nhau giữa chính quyền và người dân. Trong ngày hội, chúng tôi chứng kiến sự vào cuộc cùng người dân của tất cả bộ máy chính quyền: lãnh đạo lo việc chủ trì các nghi lễ, tiếp đón khách, chương trình lễ hội cùng các cụ trong ban quản lý đình, đoàn thanh niên lo chương trình văn nghệ, hội phụ nữ lo sắp xếp nhóm phụ nữ trong đoàn rước, tham gia văn nghệ, công chức văn hoá xã phường lo việc tổ chức các hoạt động trong lễ hội và chấm thi ông Voi, chỉ huy quân sự phường và thú y phường cũng ở trong ban giám khảo chấm thi ông Voi,... Điều này tạo sự kết nối chặt chẽ giữa bộ máy chính quyền và người dân trong việc tổ chức và tham gia lễ hội Trà Cổ.

Người dân ở Trà Cổ dù là người làng đã định cư từ sớm hay những người mới chuyển đến sống, con dâu hay con rể của làng, là giáo dân hay không phải giáo dân5,... đều tham gia vào lễ hội ở các mức độ khác nhau. Những người làm rể sống trong làng hoặc những người vốn ở làng nhưng đã đi xa sống ở nơi khác, thậm chí ở nước ngoài vẫn có thể được làm cai đám lo việc thần thánh và nuôi ông Voi trong lễ hội. Tất cả đã tạo ra sự hoà hợp và công bằng giữa các nhóm dân trong việc tham gia vào lễ hội và vì vậy họ coi việc hội là việc của họ và của chung cả làng.

Sự kết nối cộng đồng trong lễ hội đình Trà Cổ thể hiện đặc sắc trong tục các ông Đám nuôi ông Voi thờ thần. Mỗi năm làng cắt cử ra 12 ông Đám đảm nhận việc nuôi 12 ông Voi thờ thần trong dịp hội. Các ông Đám cùng năm có sự gắn bó đặc biệt với nhau và cùng nhau phụng sự việc làng trong cả năm. 12 ông Đám cùng 12 bà Đám thân thiết với nhau như anh em trong nhà, gọi bố mẹ của nhau là bố mẹ. Sau năm làm ông Đám họ vẫn giữ mối quan hệ thân thiết với nhau, thường tụ tập nhau ăn uống và mỗi dịp lễ hội lại cùng nhau làm lễ cúng thần hay công đức vào đình. Cứ theo con số các ông Đám mỗi năm mà tính thì hầu hết cả làng, lớp tuổi nọ tiếp nối lớp tuổi kia đều có mối liên hệ với nhau qua việc đã từng làm ông Đám, bà Đám trong mỗi dịp lễ hội và vì vậy có sự gắn kết với nhau. Sự gắn kết giữa các ông Đám với nhau, với dân làng và với chính quyền địa phương còn được chính thống hoá bằng việc mỗi dịp lễ hội các ông Đám được trao giấy chứng nhận đã có công cung phụng thành hoàng trong nhiệm khoá của mình. Sự gắn kết cộng đồng theo cách như vậy luôn bền chặt vì được tạo dựng trên cơ sở niềm tin vào việc phụng sự thần thánh, thay mặt dân làng lo việc hội, việc làng.

Trong bối cảnh phát triển của Trà Cổ hiện nay, có một chiều kết nối trong lễ hội Trà Cổ luôn được được mở rộng, gia tăng, đó là kết nối ngoài cộng đồng. Sự kết nối này thể hiện ở việc lễ hội Trà Cổ có sự tham gia ngày càng đông của người dân, các doanh nghiệp, cán bộ các ban ngành của thành phố Móng Cái và khách du lịch. Lãnh đạo và đại diện các ban ngành, đoàn thể ở thành phố Móng Cái đã trở thành thành phần tham gia không thể thiếu của lễ hội, họ tham gia và thực hiện các nghi thức quan trọng trong lễ hội như gióng trống khai hội, phát biểu chào mừng, làm lễ dâng hương, trao giải thưởng,... Sự kết nối này được chính thống hoá từ khi lễ hội Trà Cổ được tổ chức với quy mô cấp thành phố (2015) và trở thành Di sản văn hoá phi vật thể cấp Quốc gia (2019).

Bên cạnh tất cả những chiều kết nối đã kể đến ở trên, lễ hội Trà Cổ hiện nay củng cố và chính thống hoá một sự kết nối rất đặc biệt với Đồ Sơn (Hải Phòng) và cộng đồng 3 làng người Việt ở Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc. Đó là sự kết nối với cội nguồn. Người dân Trà Cổ luôn tự nhận mình có gốc từ Đồ Sơn, Hải Phòng di cư ra hòn đảo này từ thế kỷ thứ XVI đời Hậu Lê. Nguồn gốc này được lưu giữ trong câu phương ngôn quen thuộc: “người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn”, trong câu đối khắc trên đình Trà Cổ (Đồ Sơn ngật nhĩ kinh hương địa, Trà Cổ nguy nhiên kỷ niệm từ, dịch nghĩa là Đồ Sơn là đất tổ, người Trà Cổ làm đình để nhớ về cố hương), trong thực hành lễ hội đình. Hiện nay, quận Đồ Sơn, Hải Phòng luôn là khách mời trân trọng của Trà Cổ vào mỗi dịp lễ hội đình. Với người dân Trà Cổ, đảo Trà Cổ và 3 đảo của người Việt là Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc) là cùng một gốc từ Đồ Sơn, cùng di cư đến vùng biển Đông Bắc vào thế kỷ XVI và họ là anh em của nhau. Hiện tại vị trí của Trà Cổ và 3 làng người Việt ở Trung Quốc cũng nối liền nhau trên biển, đứng từ mũi Sa Vĩ có thể nhìn thấy làng biển Vạn Vĩ rất gần, đi thuyền khoảng 15 phút. Sự kết nối giữa Trà Cổ và 3 làng người Việt ở Trung Quốc được củng cố bằng truyền thuyết lập làng mà hầu như người dân nào ở Trà Cổ, Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu cũng biết6. Do là anh em có cùng cội nguồn nên lễ hội Trà Cổ luôn có sự tham dự và dâng lễ của đoàn anh em đến từ 3 làng Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu, họ xem việc về với lễ hội Trà Cổ như về quê hương của mình. Lễ hội của Vạn Vĩ, Sơn Tâm, Vu Đầu cũng thường xuyên có mặt của những người anh em đến từ Trà Cổ. Sự kết nối này được chính thống hoá bằng việc chính quyền Trà Cổ đã ký văn bản kết nghĩa giữa thôn Tràng Vĩ của Trà Cổ với làng Vạn Vĩ từ năm 2014. Từ sự kết nối mang tính chất nguồn cội qua thực hành tín ngưỡng, lễ hội và qua kết nghĩa như vậy mà người dân hai bên thường xuyên qua lại gặp gỡ, làm ăn, buôn bán, trợ giúp nhau như anh em một nhà.

*

*      *

Lễ hội đình Trà Cổ từ trong quá khứ tới hiện tại luôn là không gian cho những sự kết nối. Trong bối cảnh đương đại, khi Trà Cổ trở thành vùng đất trung tâm của những sự gặp gỡ, giao lưu nội vùng và quốc tế, là đầu mối quan trọng trong chiến lược phát triển khu vực biên giới Việt - Trung, những sự kết nối sẵn có được duy trì, củng cố, gia tăng và chính thống hoá với những biểu hiện đa chiều và sống động. Qua lễ hội, có thể thấy người dân Trà Cổ luôn giữ gìn và trân trọng sự kết nối, gắn bó với cội nguồn, với nền tảng truyền thống mà họ đã có và mang theo trong hành trang di cư. Họ có thể tiếp thu và dung nạp những yếu tố mới vào quy trình tổ chức lễ hội song luôn phải dựa trên truyền thống, phù hợp với truyền thống theo cách nghĩ của họ. Bên cạnh đó, lễ hội Trà Cổ là môi trường tốt một mặt củng cố mạnh mẽ những chiều kết nối trong nội bộ cộng đồng và mặt khác mở rộng những sự kết nối bên ngoài cộng đồng. Tất cả những điều đó giúp lễ hội đình Trà Cổ gia tăng quy mô lễ hội, gia tăng sự nổi tiếng của lễ hội, khẳng định vị thế và ghi dấu ấn đặc sắc của một lễ hội nơi vùng biển biên giới địa đầu của tổ quốc. Từ lễ hội đình Trà Cổ nhìn rộng ra có thể thấy Trà Cổ dù là một vùng biển, đảo biên giới song về văn hoá không biệt lập mà luôn có những sự kết nối chặt chẽ và đa chiều với cội nguồn văn hoá Việt vùng Bắc Bộ và với các luồng văn hoá khác đến từ các vùng và các quốc gia khác. Chính vì vậy, có lẽ khó có một loại hình văn hóa biển riêng và tồn tại độc lập mà văn hóa ở các vùng biển đảo như Trà Cổ luôn nằm trong sự chia sẻ, kết nối và hội nhập với các dòng chảy văn hoá từ cội nguồn cũng như từ các khu vực khác, cả nội vùng, ngoại vùng và quốc tế. Nghiên cứu văn hoá các vùng biển, đảo có lẽ không thể không quan tâm tới các chiều kết nối như vậy.

GHI CHÚ / PHỤ CHÚ

1. Trình tự này được chúng tôi ghi lại từ lễ hội năm 2020 - 2023.

2. Cây đám là cây tre dài, trong dịp lễ hội được đặt ngang cửa đình cách mặt đất chừng 2m. Đây là dấu hiệu để biết thời gian làng mở hội, câu “đóng đám thờ thần" có ý nghĩa như vậy và khi kết thúc hội là lễ cất cây đám. Tương truyền trước kia cây đám đặt cách mặt đất chỉ khoảng 1,5m và còn có ý nghĩa là trong những ngày hội ai ra vào đình đều phải cúi xuống kính cẩn lễ thần.

3. Ngày 16/3/2021 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 368/QĐ-TTg phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu Kinh tế cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) đến năm 2040, theo đó, Khu Kinh tế cửa khẩu Móng Cái được xây dựng trở thành khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm quốc gia, trung tâm phát triển kinh tế quan trọng của vùng Bắc Bộ, của vành đai kinh tế ven biển Bắc Bộ và hành lang kinh tế Côn Minh (Trung Quốc) - Hà Nội - Hải Phòng - Móng Cái - Phòng Thành (Trung Quốc).

4. Để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh, chúng tôi đã thay tên của những người cung cấp thông tin.

5. Trà Cổ là một giáo xứ với gần 1.200 giáo dân, nhà thờ Trà Cổ là một nhà thờ đẹp, có ý nghĩa lịch sử và là một điểm tham quan hấp dẫn cho du khách khi đến Trà Cổ.

6. Truyền thuyết kể rằng: Xưa vùng biển phía Đông Bắc bị thống trị bởi thần Thên là một con thuồng luồng (có bản kể là con rết) khổng lồ, tàu thuyền nào đi qua cũng phải nộp một người cho nó. Có một vị thần biển quyết tâm tiêu diệt thần Thên để trừ họa giúp dân. Ông đã nướng một quả bí ngô thật nóng đi thuyền qua cửa hang, thần Thên như mọi lần há miệng chờ sẵn, ông ném quả bí ngô đang nóng rực vào miệng, nó nuốt ngay và quay cuồng rồi đứt người ra làm ba khúc. Đầu của nó trôi về vùng biển phía tây mắc lại hình thành đảo có tên Vu Đầu, bụng của nó trôi về phía bắc hình thành nên đảo Sơn Tâm, đuôi của nó trôi về phía đông hình thành nên đảo Vạn Vĩ, răng của nó trôi về phía nam hình thành nên Vạn Sĩ chính là Trà Cổ. Vị thần biển này sau đó được thờ ở đình của cả 4 làng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Thị Phương Châm, Lê Hồng Lý, Lê Trung Vũ (2014), Lễ hội dân gian, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng chủ biên (1994), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Bùi Quốc Linh (2021), "Vung biển - vung biên: Cảng thị Móng Cái qua tư liệu Hán Nôm và Dân tộc chí", Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (164), tr. 67-85.

Vương Xuân Tình (2019), Cộng đồng kiến tạo - Tộc người với quốc gia - dân tộc trên thế giới và Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Ngô Đức Thịnh (2001), “Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội hiện đại", Văn hoá nghệ thuật, số 3, tr. 6.

Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian (2000), Văn hoá dân gian làng ven biển, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội.

Lê Trung Vũ chủ biên (1992), Lễ hội cổ truyền, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Trần Quốc Vượng (2001), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Nguyễn Thanh Vỹ (1995), “Mối quan hệ giao lưu văn hoá giữa Quảng Ninh (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc)", Tập san Văn hoá thông tin, Quảng Ninh.

Bài viết đầy đủ có tại: Viện Nghiên cứu Văn hóa, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Văn hóa Việt Nam trong các chiều kích biến đổi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2025.

PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Châm
Nguồn bài viết: Viện Nghiên cứu Văn hóa
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1