Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Quan điểm về biển và sự điều chỉnh trọng tâm chiến lược quốc phòng của triều đình nhà Thanh ở nửa cuối thế kỷ XIX

30/12/2021


Tác giả :
  • TS. Đào Duy Đạt (Chủ biên)
  • PGS.TS. Dương Văn Huy
  • ThS. Chu Thùy Liên
  • TS. Bùi Thị Thanh Hương
  • ThS. Dương Văn Lợi
  • ThS. Nguyễn Diệu Hương
  • TS. Bùi Thị Hiền

Năm xuất bản: 2021

Số trang: 315

 

Được biết đến là một trong số ít những nền văn minh phát triển rực rỡ trong lịch sử nhân loại, nền văn minh Trung Hoa mang tính lục địa một cách điển hình, với trung tâm là khu vực Trung Nguyên có đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp du mục khô, kết hợp với văn minh nông nghiệp lúa nước phía Nam trường Giang. Là đế chế lục địa, Trung Hoa đã cống hiến cho nhân loại nhiều thành tựu quan trọng. Trải qua chiều dài lịch sử, Trung Quốc luôn xây dựng, duy trì một lực lượng quân đội mạnh để mở mang bờ cõi ra xung quanh, nhưng lại luôn thực hiện chính sách “tỏa quốc” phía Biển bằng việc liên tục thực thi chính sách “Hải cấm”. Nghĩa là trong quá khứ, nước này chưa từng bao giờ là một đế chế biển. Ngày nay thì ngược lại, nhà cầm quyền Bắc Kinh vì đã quá hiểu vai trò của biển trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự… nên họ bất chấp sự thực lịch sử, tuyên bố rằng Biển Đông là “Lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”, đồng thời khẳng định việc họ đã kiểm soát chủ quyền ở Biển Đông từ “thời cổ đại”; và đặc biệt nghiêm trọng là họ đã và đang có những hành động nhằm khống chế toàn bộ Biển Đông.

Trước những thách thức trên, để có cái nhìn một cách hệ thống và khách quan đối với quan điểm về biển cũng như mối quan hệ tương tác với biển của người Trung Quốc trong lịch sử, năm 2021, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn “Quan điểm về biển và sự điều chỉnh trọng tâm chiến lược quốc phòng của triều đình nhà Thanh ở nửa cuối thế kỷ XIX” do TS. Đào Duy Đạt chủ biên. Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, nội dung chính của cuốn sách được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1. Những nhân tố tác động đến quan điểm về biển và đến sự điều chỉnh trọng tâm chiến lược quốc phòng của Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX

Chương này, nhóm tác giả tập trung phân tích đến 6 nhóm nhân tố cơ bản tác động đến quan điểm về biển và sự điều chỉnh trọng tâm chiến lược quốc phòng của Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX: (i) Tác động từ lịch sử tương tác với biển của người Trung Quốc; (ii)Tình hình nội bộ Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX; (iii) Tác động từ sự thay đổi môi trường khu vực; (iv) Tác động từ công cuộc Duy Tân của Nhật Bản; (v) Những cuộc xâm lược Trung Quốc của người phương Tây và Nhật Bản; (vi) Hai cuộc chiến tranh Thuốc phiện: Tác động mang tính quyết định khiến nhà Thanh phải thay đổi quan điểm truyền thống về biển và buộc phải chuyển hướng chiến lược quốc phòng. Các tác giả khẳng định, do thể chế chính trị, kinh tế lạc hậu của Trung Quốc kéo dài suốt mấy trăm năm, đặc biệt là từ nửa cuối thế kỷ XIX và do nhận thức mơ hồ về thế giới bên ngoài của giai tầng thống trị Thanh triều, Trung Quốc từ thời Minh đến giữa thế kỷ XIX đã có những quan điểm, chủ trương và chính sách hết sức sai lầm về Biển nói chung và về quốc phòng nói riêng…

Chương 2. Sự điều chỉnh trọng tâm chiến lược quốc phòng của triều đình nhà Thanh ở nửa cuối thế kỷ XIX

Trước khi phân tích nội dung quy hoạch và việc xây dựng chiến lược quốc phòng của triều đình nhà Thanh ở nửa cuối thế kỷ XIX, các tác giả đã đề cập tới những quan điểm về biển của Trung Quốc cũng như chiến lược quốc phòng của các triều đại phong kiến Trung Quốc trước nửa cuối thế kỷ XIX, như truyền thống “Trọng nông ức thương”, tư tưởng “Thiên triều thượng quốc”, họa “Hải tặc” và chính sách “Hải cấm”.... Để điều chỉnh trọng tâm chiến lược quốc phòng, nhằm bảo vệ, giữ vững chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, triều đình Mãn Thanh đã quy hoạch và cho xây dựng tuyến phòng thủ biển thể hiện ở ba phương diện sau: (i) Xây dựng một hạm đội hải quân cận đại, có khả năng tác chiến đa dạng hóa, có thể quyết thắng trên biển trước bất cứ kẻ thù nào; (ii) Xây dựng các căn cứ hải quân trên đất liền với những chức năng khác nhau, nhằm phối hợp với hạm đội hải quân trên biển; (iii) Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia hải quân. Đề cập đến vấn đề xây dựng nền công nghiệp quốc phòng nhằm “cầu cường”, nhóm nghiên cứu giới thiệu một số nhà máy công nghiệp quốc phòng tiêu biểu, cũng như chỉ ra tác dụng của nền công nghiệp quốc phòng cận đại Trung Quốc đối với việc chuyển hướng chiến lược quốc phòng. Cuối chương, các tác giả đã đi sâu phân tích và tìm ra những nguyên nhân thất bại của công cuộc phòng thủ biển trong chiến lược điều chỉnh trọng tâm quốc phòng của triều đình Thanh ở nửa cuối thế kỷ XIX, sự thất  bại này được thể hiện qua hai trận hải chiến Hoàng Hải (9/1894) và Uy Hải Vệ (2/1895) trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ, 1894 1895.

Chương 3. Đánh giá quan điểm về biển và sự điều chỉnh trọng tâm chiến lược quốc phòng của  Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX và hàm ý cho Việt Nam trong vấn đề biển Đông

Từ những phân tích và đánh giá quan điểm về biển và sự điều chỉnh chiến lược quốc phòng của Trung Quốc ở nửa cuối thế kỷ XIX, tác giả hàm ý cho cuộc đấu tranh khẳng định chủ quyền ở biển Đông của Việt Nam trong lịch sử, đặc biệt chỉ ra những bằng chứng về việc thực thi chủ quyền liên tục ở Biển Đông của Việt Nam thời thuộc Pháp. Các tác giả khẳng định Việt Nam không chỉ là nước đầu tiên chiếm hữu, mà còn liên tục thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu như  dưới thời phong kiến, nhà nước Việt Nam đã tiến hành khảo sát, vẽ bản đồ, lập nên các đội thủy quân chuyên trách để khai thác và quản lý hai quần đảo này thì dưới thời cai trị của thực dân Pháp, chính quyền Pháp ở Đông Dương nhân danh Nhà nước Việt Nam và Nhà nước Pháp đã liên tục khẳng định và thực thi chủ quyền sẵn có mà Nhà nước quân chủ Việt Nam đã thụ đắc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này không chỉ được phản ánh bằng các hành động thực tế trên thực địa mà còn được cả pháp luật, thông lệ quốc tế thời đó công nhận. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu cho rằng việc làm rõ sự tương tác với biển của các bên trong quá khứ, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng để làm rõ bản chất yêu sách chủ quyền biển của các bên, cũng như mức độ phù hợp với Luật pháp quốc tế về biển hiện nay. Ngoài ra, để có thể ngăn ngừa những hành động thiếu kiềm chế..., đi đến quản lý và giải quyết xung đột ở Biển Đông  một cách hòa bình, các bên có tranh chấp cần tôn trọng sự thực lịch sử, tuân thủ luật pháp và tập quán quốc tế, nhất là Luật Biển quốc tế 1982 cũng như các tuyên bố chung của khu vực và quốc tế liên quan đến vấn đề ứng xử ở Biển Đông.

Trước khi kết thúc bài viết giới thiệu về cuốn sách trên do TS Đào Duy Đạt chủ biên, chúng tôi muốn nhấn mạnh: Điểm nổi bật của cuốn sách là, tập thể tác giả đã chủ yếu sử dụng chính nguồn tư liệu trong 8 tập sử liệu về Phong trào Dương Vụ, thuộc Tủ sách tư liệu lịch sử cận đại Trung Quốc, do Hội Sử học Trung Quốc chủ biên, và được NXB Nhân dân Thượng Hải tái bản năm 2000. Thông qua việc nghiên cứu, phân tích, so sánh khối sử liệu trên, các tác giả đã rút ra được 2 kết luận xác đáng: Một là, Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh (cũng như trong quá khứ), hầu như rất ít có những mối liên hệ hay hoạt động tương tác với thế giới bên ngoài (đại lục) qua đường biển. Hai là, từ những năm 1840 đến 1911, Trung Quốc chịu sự thống trị của triều đình Mãn Thanh đã ở giai đoạn mạt kỳ. Do trình độ khoa học kỹ thuật của Trung Quốc khi đó lạc hậu, do nhận thức ấu trĩ về biển của triều đình, nên Trung Quốc đã hoàn toàn thúc thủ trước phương Tây, buộc phải “Điều chỉnh trọng tâm chiến lược quốc phòng”; việc “Điều chỉnh” này lại chính là minh chứng “Sống”, bác lại chính luận điệu mà Trung Quốc ngày nay thường rêu rao rằng “những hòn đảo trên Biển Đông là thuộc lãnh thổ Trung Quốc kể từ thời xa xưa” (Tuyên bố của Tập Cận Bình ngày 7/11/2015 tại Singapore).

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!


Nguyễn Minh Hồng

 


Nhà xuất bản Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: