Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Lịch sử giáo dục Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1858

15/07/2022


Cơ quan soạn thảo: Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội

Tác giả :
  • PGS.TS. Vũ Duy Mền (chủ biên)
  • TS. Nguyễn Hữu Tâm
  • PGS.TS. Trần Thị Vinh
  • ThS. Nguyễn Văn Bảo
  • ThS. Vũ Tiến Đức
  • ThS. Trịnh Thị Hà
  • TS. Ngô Vũ Hải Hằng
  • ThS. Mai Thị Huyền
  • ThS. Phạm THị Quế Liên

Địa chỉ liên hệ: 38 Hàng Chuối

Năm xuất bản: 2020

Số trang: 614

Giáo dục và khoa cử là đề tài rất quan trong trong lịch sử Việt Nam. Nếu không có giáo dục và khoa cử thì sẽ không có được đội ngũ tri thức Nho học đông đảo, không có các bậc hiền tài đảm đương trọng trách trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước lâu dài.

Vì vậy việc tìm hiểu lịch sử giáo dục và khoa cử, mà trước hết là giáo dục Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1858 được coi là rất cần thiết, từ đó có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm quý giá cả về mặt tích cực và hạn chế nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay, góp phần hiệu quả vào chủ trương giáo dục vốn luôn được coi là quốc sách hàng đầu của Việt Nam hiện nay.

Tựa sách “Lịch sử giáo dục Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1858” là kết quả của đề tài nghiên cứu do Viện Sử học thực hiện, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan chủ trì, nhiệm vụ của công trình khoa học này là tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề của giáo dục Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1858, phát hiện, bổ sung sử liệu vốn có và làm mới có hệ thống về tổ chức giáo dục, khoa cử từ đó làm rõ được bức tranh toàn cảnh trung thực nhất về vấn đề này của Việt Nam thời kỳ trung đại, nổi bật trong đó là những nét phác thảo rất sinh động về Phật học, (chủ yếu là Nho học) và những đóng góp của Nho học đối với lịch sử, văn hóa dân tộc. Cuốn sách được Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành vào tháng 7/2020, do PGS.TS. Nguyễn Duy Mền chủ biên. Ngoài phần Lời nói đầu và Kết luận, nội dung cuốn sách được kết cấu thành 6 chương như sau:

Chương 1. Giáo dục Nho học và Phật học ở Việt Nam trước thế kỷ X

Thông qua việc tìm hiểu vấn đề truyền bá Nho giáo và Phật giáo vào Việt Nam, Giáo dục Nho học và giáo dục Phật học trước thế kỷ X các tác giả nhận định: Cùng với việc nhu nhập Nho học, theo chân các tăng sĩ và thương nhân Ấn Độ, Phật giáo được truyền vào Giao Châu (Giao Chỉ và sau này gọi là An Nam) trong thời kỳ đầu Công Nguyên. Trong 10 thế kỷ đầu tiên, Phật giáo đã khẳng định được sức sống bền vững trong xã hội Việt Nam xưa, tạo ra được ảnh hưởng lớn trong nhân dân và có những chuẩn bị phát triển mới trong giai đoạn đất nước độc lập từ thời Ngô, Đinh, Tiên Lê, Lý, Trần về sau. Bên cạnh đó, giáo dục Phật học từ trước thế kỷ X và trong thời kỳ lịch sử trung đại chủ yếu do các nhà sư trụ trì tại chùa ở các làng, xã hoặc ở trung tâm của thiền môn đảm trách và được ghi lại một cách khá rõ ràng trong các tập sách Thiền uyển tập anh vào cuối thế kỷ XIII…, cuốn sách chỉ rõ nhờ sự “quên mình” trong học tập và tu thiền nên nhiều nhà sư đã thành công, trở thành các vị đại sư, quốc sư như đại sư Đỗ Pháp Thuận, đại sư Khuông Việt, đại sư Vạn Hạnh… những vị đại sư này không những giỏi kinh Phật mà còn trở thành những cố vấn về chính trị và xã hội đắc lực cho triều đình thời đó và còn có công lớn trong sự nghiệp truyền thừa tôn giáo ở Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu về giáo dục nhất là giáo dục Phật học trong lịch sử Việt Nam cũng được các tác giả cho rằng cần được đầu tư nhiều hơn, nhất là trong bối cảnh tư liệu nghiên cứu còn nhiều vấn đề cần bổ sung như hiện nay.

Chương 2. Tổ chức giáo dục

Thông qua nghiên cứu 2 mảng vấn đề chính có liên quan đến: 1). Hệ thống giáo dục Nho học nhà nước; 2). Tổ chức giáo dục tư nhân, nhóm tác giả nhận định: Nho học được truyền bá vào Việt Nam ngay từ thời kỳ đầu Bắc thuộc, tài liệu lịch sử của Việt Nam và Trung Quốc có nhắc đến công lao truyền bá văn hóa Hán (trong đó có Nho học) của 2 viên Thái thú là Tích Quang ở Giao Chỉ và Nhâm Diên ở Cửu Chân. Nhìn chung trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, việc học chữ Nho, chữ Hán của người Việt Nam hoàn toàn mang tính thụ động. Thời Tùy - Đường (581-907) chú trọng tới việc nêu cao Nho giáo chấn hưng học tập, đồng thời thực thi cả đạo Phật. Đặc biệt, sự ra đời của chế độ khoa cử từ đời Tùy (581-618) được phát triển cao hơn vào giữa đời Đường ít nhiều đã ảnh hưởng đến giáo dục ở Giao Châu…

Chương 3. Các khóa thi

Thông qua việc nghiên cứu 4 nhóm vấn đề chính gồm:1). Các khoa thi thời Lý - Trần - Hồ; 2). Các khoa thi thời Lê - Mạc (1428-1592); 3). Các khoa thi thời Lê - Trịnh (1592-1787); 4). Các khoa thi thời các chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn (thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX), nhóm tác giả đã tiếp cận và làm rõ được một số vấn đề sau: 1. Sau chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền năm 938 trên sông Bạch Đằng, Việt Nam chính thức chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ. Nho học ở Việt Nam được bắt đầu chú trọng từ thời vua Lý Thánh Tông với việc lập Văn Miếu ở Thăng Long, Năm 1076, đây là trường học cao cấp đầu tiên của các triều đại quân chủ Việt Nam. Quốc Tử Giám ở Thăng Long được duy trì đến khi nhà Nguyễn lập Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế năm 1822 để thay thế; 2. Song song với hoạt động giáo dục của Quốc Tử Giám ở kinh đô, qua các triều đại Lý - Trần - Hồ, Lê - Mạc, Lê - Trịnh, Nguyễn, trường công của các địa phương dần dần được thiết lập ở các lộ, trấn (tỉnh thời Nguyễn), phủ, huyện, châu… Nhìn chung, các trưởng ở địa phương là nơi cung cấp nguồn thí sinh cho các khoa thi Nho học, nhiều người đã đỗ đạt thành danh ở các khoa thi này; 3. Trường tư Nho do các danh sĩ mở ra ở Việt Nam khá sớm (Thời Lý), tuy nhiên tư liệu nghiên cứu về mảng đề tài này còn sơ sài và ít ỏi, cần được đầu tư nghiên cứu nhiều hơn nữa trong giai đoạn tới…

Chương 4. Chính sách sử dụng đại khoa của nhà nước quân chủ

Chương này nhóm tác giả tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến chế độ khoa cử bắt đầu từ khoa “Minh kinh bác sĩ và thi Nho học tam trường” năm 1075 thời Lý Thánh Tông, có thể coi đây là kỳ thi Nho học đầu tiên trong lịch sử giáo dục trung đại ở Việt Nam. Từ đời Trần - Hồ đến Lê - Mạc đặc biệt là từ thời Lê Thánh Tông đến thời Nguyễn, khoa cử Nho học dần được tổ chức quy củ và chặt chẽ hơn, khoa thi năm 1247 đã đặt ra danh hiệu Tam Khôi cho người đỗ theo thứ tự cao xuống thấp: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa…Sau thời Lê Thánh Tông, nhà Mạc, Lê - Trịnh, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tiếp đến nhà Nguyễn đều dựa theo quy chế thi cử của nhà Lê mà thi hành, nhưng do tác động của tình hình chính trị, triều đại thăng trầm nên không phải lúc nào chế độ khoa cử cũng ổn định, chất lượng kì thi và thí sinh tuy có cải thiện về lượng kiến thức nhưng nặng về sách vở kinh điển, ít kiến thức thực tế đôi khi cũng không đáp ứng được yêu cầu của xã hội của thời kỳ bấy giờ. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng chính khoa cử đã mở ra con đường hoạn lộ vinh quang và cũng là con đường lắm chông gai nhất là các nho sĩ dấn thân phải đối mặt, thành công và thành danh của họ là niềm tự hào đầy vinh dự mà lớp hậu học ngày nay luôn khâm phục và học hỏi.

Chương 5. Những đóng góp của các vị đại khoa.

Thông qua việc tìm hiểu những vị đại khoa trong suốt thời kỳ những năm 1075-1858, trải qua triều Lý - Trần - Hồ, Triều Lê - Mạc, Triều Lê Trung Hưng, Triều Nguyễn cũng như tìm hiểu về hành trạng của các vị đại khoa thời kỳ này, nhóm tác giả khẳng định nhà nước quân chủ thời Lê sơ đã rất coi trọng kẻ sĩ, việc giáo dục đào tạo kẻ sĩ thông qua các khoa cử Nho học là cách tiên tiến nhất để lựa chọn nhân tài, bổ dụng quan lại tham gia vào bộ máy nhà nước, có nhiều đãi ngộ cao với kẻ sĩ như có chế độ lương bổng, đãi ngộ tốt, có quy định rõ ràng về chức phẩm, tước vị, lợi ích, trách nhiệm đi kèm để kẻ sĩ yên tâm và có trách nhiệm cao hơn với công việc chung.

Trong thời kì lịch sử trung đại, các vị đại khoa đã có nhiều đóng góp hết sức quan trọng trên nhiều lĩnh vực từ việc tham gia vào những vị trí trọng yếu của vương triều, giải quyết việc đối nội và ngoại giao…các vị đại khoa đều góp phần xây đắp nên nền văn hiến Việt Nam rực rỡ, đầy tự hào, trở thành tấm gương sáng chói cho hậu thế mãi về sau.

Chương 6. Những tấm gương điển hình của thầy và trò

Thông qua việc tìm hiểu tấm gương những người thầy tiêu biểu như: Chu Văn An (1292-1370), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585); Hương Hải Thiền Sư (1628-1715), La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hay tấm gương học trò xuất sắc như Mạc Đĩnh Chi (1272-1346), Lương Hữu Khánh (thế kỷ XVI), Nguyễn Quý Đức (1648-1720), Phan Kính (1715-1761), Lê Quý Đôn (1726-1764), nhóm tác giả đã góp phần phác họa bức tranh khá toàn cảnh về giáo dục Việt Nam thời kỳ trung đại trong đó nổi bật nhất là ảnh hưởng của giáo dục Phật học, Nho học đối với xã hội đương thời, khẳng định những đóng góp của Phật học và Nho học là không thể phủ nhận. Bên cạnh đó nhóm tác giả cũng nhận định những hạn chế của giáo dục thời đại này như cần phải được soi chiếu một cách rõ ràng hơn qua các nghiên cứu cụ thể, ví như việc nền giáo dục thời đó coi Nho giáo là một học thuyết chính trị xã hội, Nho học là để phục vụ cho học thuyết đó, Nho giáo chủ trương xây dựng một xã hội “tôn quân vô thượng” chỉ có vua là cao hơn cả, một xã hội mà trong đó luôn đề cao đạo “Tam cương, Ngũ thường”, người quân tử - kẻ sĩ được đào tạo theo mẫu người lý tưởng của xã hội nho giáo. Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Trật tự xã hội quân chủ dường như đã định sẵn, không thể thay đổi dẫn đến hiện trạng việc học, việc thi theo lối cử nghiệp, kiến thức sáo mòn, chú ý đến hình thức văn bài hơn là nội dung kiến thức đã hạn chế sức sáng tạo của người học, ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và phát triển xã hội tiến bộ…

Có thể nói, cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu nghiêm túc được nhóm tác giả tham khảo, phân tích và tổng hợp dựa các nguồn tư liệu uy tín. Với những nội dung được phân tích sắc sảo, hy vọng cuốn sách sẽ cung cấp nguồn thông tin tham khảo bổ ích cho độc giả, những người quan tâm tới vấn đề này.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Phạm Vĩnh Hà


Các tin đã đưa ngày: