Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Ẩn dụ ý niệm trên tư liệu thành ngữ và báo mạng tiếng Việt (sách chuyên khảo)

09/05/2024


Cơ quan soạn thảo: Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội

Tác giả :
  • TS.Nguyễn Thị Bích Hạnh

Địa chỉ liên hệ: 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Năm xuất bản: 2022

Số trang: 355

Tại Lời mở đầu của Chuyên khảo “Ẩn dụ ý niệm trên tư liệu thành ngữ và báo mạng tiếng Việt”, tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hạnh, tác giả của cuốn sách cho biết Ngôn ngữ học tri nhận là một bộ phận cấu thành của Khoa học tri nhận – một trường phái ngôn ngữ vận dụng tri thức liên ngành, nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ như một lĩnh vực của tư duy và tâm trí con người.

Ngôn ngữ học tri nhận, trong đó có vấn đề ẩn dụ ý niệm không chỉ là hình thái tu từ của thi ca mà còn là vấn đề của tư duy, một cơ chế cực kỳ quan trọng để con người nhận thức thế giới. Hiện nay, ngôn ngữ học tri nhận được cho là một trong những khuynh hướng nghiên cứu năng động và hấp dẫn nhất trong ngôn ngữ học lý thuyết và ngôn ngữ học miêu tả.

Để hoàn thành chuyên khảo này, tác giả đã xem thành ngữ và báo mạng tiếng Việt như là một tài nguyên ngôn ngữ, chứa đựng hệ thống ý niệm (hay hệ thống từ vựng tinh thần) làm đối tượng nghiên cứu. Theo đó, tiếp cận tài liệu này, Quý độc giả có thể tìm thấy nhiều tư liệu hữu ích, góp phần làm rõ nhiều vấn đề có liên quan như: Lịch sử nghiên cứu, cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, nguồn ngữ liệu, cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm (trong đó tập trung vào các vấn đề như: khái niệm, các miền không gian, lược đồ hình ảnh, cấp độ của ẩn dụ, nghiệm thân và tri nhận, quy trình nhận diện ẩn dụ, phân loại ẩn dụ ý nhiệm); cơ sở  lý luận về thành ngữ (khái niệm, đặc điểm ngữ nghĩa và cơ chế tạo nghĩa của thành ngữ, ranh giới giữa thành ngữ và các đơn vị lân cận, biến thể của thành ngữ, mối quan hệ giữa thành ngữ và văn hoá); cơ sở lý luận về báo mạng (báo điện tử): khái niệm và phân loại…

Thông qua khảo sát ẩn dụ ý niệm từ nguồn tư liệu nêu trên, tác giả đã rút ra được một số kết luận quan trọng:

Thứ nhất: Đối với thành ngữ tiếng Việt

Về ẩn dụ cấu trúc, chuyên khảo đã đi sâu giải mã và làm rõ cơ chế tri nhận của 2 mô hình ý niệm có miền nguồn “cây” và “thực phẩm”. Đây là hai miền nguồn đặc trưng cho tư duy văn hoá của người Việt, phản ánh cơ chế nhận thức về thế giới con người, cách tri nhận của cha ông ta về con người dựa trên ý niệm về các loài thực vật, cây cỏ và thực phẩm, món ăn thiết yếu đối với nhu cầu của con người trong đời sống hàng ngày.

Ánh xạ cơ bản nhất của ẩn dụ ý niệm có miền nguồn “cây” là ánh xạ lên miền đích “con người”. Dựa trên những nét tương đồng giữa cây và con người trên các phương diện như: bản chất sinh vật, quá trình sinh học, chu kỳ vòng đời… cho thấy sự di chuyển ý niệm từ cây sang con người để gợi lên các liên tưởng đến quá trình của đời sống… Trong quá trình ý niệm hoá, ông cha ta đã chuyển di các thuộc tính của cây sang cho con người nhằm thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan đặc thù của người Việt. Dưới góc độ sinh học, thực phẩm cũng cho thấy là một miền nguồn lý tưởng cho các suy luận về ẩn dụ, ánh xạ rõ nét lên một số nguồn đích tiêu biểu như: con người, lợi ích, kết quả, ứng xử và mối quan hệ của con người trong xã hội. Một số nét đặc thù trong tư duy văn hoá của người Việt được phản ánh trong thành ngữ đã cho thấy người Việt rất chú ý đến các mối quan hệ giữa các cá nhân, hướng con người tới sự tuân thủ các chuẩn mực đạo đức truyền thống, phù hợp với thuần phong mĩ tục và khuyến khích thế hệ trẻ thực hành cách sống chân thành, hoà đồng, hướng tới xây dựng các giá trị cộng đồng.

Thứ hai: Đối với ẩn dụ bản thể

Trong thành ngữ tập trung vào các suy niệm về cuộc đời, con người. Trong tư duy Á Đông, lấy con người là trung tâm của vũ trụ, ông cha ta đã xem con người như một chỉnh thể hoàn chỉnh, bao chứa bên trong nó những cái nhỏ hơn, mang tính bộ phận. Vì thế cuộc sống của con người cũng trở thành vật chứa đựng lớn, bao chứa mọi thức, mọi giá trị có liên quan đến đời sống của con người. Tác giả cho rằng có thể xem đó cũng một trong những tấm gương “phản chiếu con người xã hội” mà ông cha ta muốn gửi gắm, răn dạy các thế hệ sau.

Thứ ba: Đối với ẩn dụ định hướng

Các ẩn dụ định hướng trong thành ngữ lấy con người là trục định vị. hướng tới phản ánh các giá trị giàu nghèo, địa vị, vị trí xã hội của con người. Những thuộc tính căn bản của miền nguồn được lựa chọn để chiếu xạ lên nguồn đích chủ yếu xuất phát từ phông văn hoá mang tính phổ quát, xuất phát từ cội rễ và văn hoá đặc trưng của người Việt như vốn ngôn ngữ và văn hoá toàn dân, trong đó có những tri thức nền có cơ sở từ kinh nghiệm thực tiễn của con người. Các mô hình ẩn dụ đều có cơ sở và xuất phát từ các trải nghiệm vật lý, văn hoá, tâm lý và sinh học của con người để hướng tới sự gắn kết giữa các cấp độ ý niệm và sự tương hợp giữa các ẩn dụ được nêu.

Thứ tư: Đối với báo mạng điện tử

Với hai chuyên mục “Chính trị” và “Thể thao”

Ở thể loại ẩn dụ cấu trúc, chuyên khảo tập trung làm rõ 5 mô hình ý niệm bao gồm: hành trình, trò chơi, nhiệt, con người, chiến tranh và hàng hoá.

Qua đó có thể nhận thấy nhận thức về chính trị và các vấn đề liên quan đến đời sống chính trị, quốc gia của tác giả là khá nhất quán khi cùng mã hoá hoạt động chính trị là con đường đầy chông gai và thách thức. Các thông tin về địa chính trị, chính trường của các quốc gia được quan sát qua kịch bản của một trò chơi đầy may rủi, hơn thua, kịch tính, bản lĩnh của các chính trị gia được khẳng định trong từng nước đi mang tính lịch sử trong các ván cờ địa chính trị đầy may rủi và mạo hiểm. Trong bối cảnh chính trị đầy phức tạp “quốc gia” được nhìn nhận giống như con người với đầy đủ các thuộc tính: số phận, tính cách, suy nghĩ, hành động, trạng thái, cảm xúc, tâm lý… có sức chi phối mạnh mẽ đến việc quyết định lựa chọn và đưa ra các quyết sách phù hợp với lợi ích dân tộc…

Ở thể loại ẩn dụ bản thể trong báo mạng điện tử tiếng Việt tác giả lại tập trung khai thác hai mô hình ẩn dụ bản thể có miền nguồn “vật chứa” và “thực thể”. Tuy nhiên do ngữ liệu khảo sát chủ yếu ở hai mảng “chính trị” và “thể thao” nên báo mạng điện tử xuất hiện rất ít ẩn dụ vật chứa. Với ẩn dụ có miền nguồn “thực thể” hoạt động chính trị gồm toàn bộ các thành tố thượng tầng: thể chế, an ninh, quốc phòng, quan hệ ngoại giao, y tế, giáo dục…được quan sát như một kiến trúc nền tảng, được quan sát như một sợi dây có thể cắt đứt, buộc, nối, thắt nút, tháo gỡ hay gắn chặt với các trạng thái có thể cảm nhận, đong đếm được như nguội lạnh, đóng băng, hâm nóng, nồng ấm, băng tan…

Ở thể lại ẩn dụ định hướng, các ẩn dụ xuất hiện chủ yếu trong các diễn ngôn liên quan đến các thông tin phản ánh các trạng thái của nền kinh tế, chính trị, quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia. Bên cạnh đó các diễn ngôn phản ánh các chính sách, trạng thái của nền chính trị cũng gắn với ẩn dụ định hướng không gian với chiều lên dành cho trạng thái tích cực, tốt đẹp và chiều xuống đối với các trạng thái tiêu cực, tình hình xấu…

Có thể khẳng định với những thông tin phong phú và đa dạng, chuyên khảo đã góp phần làm sinh động, tươi mới các ý niệm có tính chất phổ niệm bằng các ngữ liệu của đối tượng nghiên cứu, qua đó đã thực hiện tốt quá trình khảo sát chi tiết các ẩn dụ  ý niệm cơ sở cũng như các ẩn dụ ý niệm phái sinh và đề xuất được các khung tri nhận, sơ đồ hoá mối tương quan/tương ứng trong quá trình ẩn dụ giữa miền nguồn và miền đích đối với những dẫn liệu ngôn ngữ cụ thể; phát hiện và làm rõ được tính thống nhất trong ẩn dụ ý niệm và tính tầng bậc của ẩn dụ.

Hy vọng với những thông tin nêu trên, chuyên khảo sẽ là nguồn tư liệu đáp ứng tốt nhu cầu cho những ai quan tâm tới lĩnh vực này.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Phạm Vĩnh Hà


Các tin đã đưa ngày: