Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Khảo cổ học Tiền sử miền Trung Việt Nam

21/05/2018


Tác giả :
  • PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử (chủ biên)

Năm xuất bản: 2016

Số trang: 784

 

Các di tích khảo cổ học Tiền sử miền Trung phân bố phong phú và đa dạng, phân bố trên cả 3 tiểu địa hình:  Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Miền Trung Việt Nam hẹp ngang, chạy dài men theo bờ biển, địa hình phân dị phức tạp, khí hậu khắc nghiệt. Cư dân tiền sử nơi đây trải qua nhiều biến động địa chất phức tạp trong suốt thời gian tồn tại từ 0,8 triệu năm đến đầu Công nguyên. Nét nổi bật của  khảo cổ học Tiền sử miền Trung Việt Nam là tiến trình phát triển liên tục, kế thừa về văn hóa Tiền sử nơi đây, là sự tương thích của con người với môi trường tự nhiên, sự nảy sinh các công xưởng chế tác đá và vấn đề phân công lao động thời tiền sử, về Truyền thống và Cách tân trong diễn trình lịch sử văn hóa vùng đất miền Trung.

Năm 2016, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn sách với tựa đề: “Khảo cổ học Tiền sử miền Trung Việt Nam” do PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử làm chủ biên. Đây là kết quả thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa Việt Nam qua các di tích thời kỳ tiền sử ở miền Trung và Tây Nguyên được phát hiện và nghiên cứu từ năm 1998 đến 2010” do PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử làm chủ nhiệm, được nghiệm thu xuất sắc.

Cuốn sách đã bao quát các nguồn tư liệu khảo cổ học tiền sử miền Trung Việt Nam và đặt chúng trong bối cảnh rộng hơn, phác thảo diễn trình lịch sử văn hóa miền Trung Việt Nam từ thuở bình minh của lịch sử, cách đây gần 1 triệu năm đến trước ngưỡng cửa của văn minh, cách đây khoảng 2 nghìn năm. Nội dung của cuốn sách được trình bày trong 5 chương. Chương 1.Tổng quan tư liệu; Chương 2. Các di tích thời đại đá cũ miền Trung Việt Nam; Chương 3. Các di tích thời đại Đá mới ở miền Trung Việt Nam; Chương 4. Diễn trình văn hóa Tiền sử miền Trung Việt Nam; Chương 5. Tiền sử miền Trung Việt Nam trong bối cảnh rộng hơn.

Chương I, trình bày tổng quan tư liệu về địa lý nhân văn; tình hình phát hiện, nghiên cứu khảo cổ học miền Trung, nhấn mạnh một số hiện tượng đặc thù của vùng như: động đất, núi lửa, biển tiến, biển thoái và các tác nhân khác ảnh hưởng tới cư dân tiền sử; giới thiệu sơ bộ một số tộc người bản địa thuộc ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo liên quan đến khảo cổ tiền sử vùng này. Công trình đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy và quản lý di sản văn hóa hệ thống thông tin tư liệu khách quan, đầy đủ và cập nhật; đồng thời ghi nhận những kết quả đã đạt được từ việc kế thừa, nâng cao và những vấn đề mới đặt ra cần đi sâu nghiên cứu.

Chương 2, công trình đã trình bày khái quát các nhóm di tích Đá cũ đã biết ở miền Trung, xác định đặc trưng cơ bản về di tích và di vật, niên đại và các giai đoạn phát triển; đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa cảu các di tích này. Nhóm tác giả cho rằng, kỹ nghệ ghè hai mặt-rìu tay (Bifaces - Handaxes), mũi nhọn - hình khối tam diện (Pick- triangle) được tìm thấy ở An Khê (Gia Lai) có niên đại dự đoán 0,8 triệu năm là kỹ nghệ Đá cũ sơ kỳ cổ nhất được biết hiện nay ở Việt Nam, cổ hơn kỹ nghệ rìu tay ở Núi Đọ (Thanh Hóa) (0,4 triệu năm).

Chương 3, tập trung trình bày nội dung cơ bản 3 giai đoạn Đá mới ở miền Trung Việt Nam: Sơ kỳ Đá mới (hay bình tuyến Hòa Bình) phân bổ chủ yếu trong các hang động, mái đá Bắc Trung Bộ. Trung kỳ Đá mới (bình tuyến sau Hòa Bình) gồm các nhóm: vùng núi Bắc Trung Bộ, đồng bằng ven biển như Đa Bút (Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An), Bàu Dũ (Quảng Nam); vùng cao nguyên Làng Gà (Gia Lai), Buôn Kiều (Đắk Lắk), Thôn Tám (Đắk Nông) và vùng đồi gò: Eo Bồng (Phú Yên) và Gia Canh (Đồng Nai). Giai đoạn Đá mới muộn ở dọc ven biển miền Trung với một số văn hóa khảo cổ như Bàu Tró, Thạch Lạc, Xóm Cồn gắn liền với khai thác biển, trồng trọt, chăn nuôi và giao thương trên biển, cùng cư dân các văn hóa trên cao nguyên như Lung Leng, Biển Hồ, Buôn Triết với xuất hiện nông nghiệp dùng cuốc, các công xưởng chế tác đá mang tính chuyên hóa cao.

Chương 4 trình bày diễn trình văn hóa tiền sử miền Trung Việt Nam, từ Đá cũ dến Đá mới, phác thảo môi trường sống, các hoạt động kinh tế, văn hóa, kết cấu tổ chức xã hội và chủ nhân các nhóm di tích hoặc các văn hóa tiêu biểu. Công trình cho rằng, chủ nhân cư dân sơ kỳ Đá cũ ở miền Trung Việt Nam là những người đứng thẳng (Homo, erectus), với các kỹ nghệ chế tác đá khác nhau từ 0,8 đến 0,4 triệu năm trước. Chủ nhân cư dân hậu kỳ Đá cũ, giai đoạn 6-4 vạn năm, là những hóa thạch người hiện đại sớm (Homo sapiens), chế tạo và sử dụng công cụ đá quart, sống trong các hang động. Cư dân sơ kỳ Đá mới giai đoạn từ 17 đến 7 nghìn năm được xem là thời kỳ phát triển toàn thịnh của văn hóa Hòa Bình, xuất hiện các loại hình địa phương, nảy sinh kỹ thuật mài đá và chế tạo công cụ xương, có thể biết đến trồng trọt, sơ khai. Giai đoạn Đá mới muộn (4.000-3.000 năm BP), hình thành các văn hóa biển của cư dân khai thác biển, trồng trọt và chăn nuôi; các văn hóa trên vùng đất đỏ basalt phát triển nông nghiệp dùng cuốc và các công xưởng chế tác công cụ đá opal chuyên hóa cao. Kết cấu cộng đồng cư dân thời này là các công xã thị tộc phát triển với các điểm cư trú liền kề, liên kết lại với nhau thành liên làng và rộng hơn là siêu làng. Tiến trình phát triển Đá mới miền Trung Việt Nam, theo thời gian, mang tính quy luật rõ ràng, đó là sự thu hẹp dần phạm vi phân bổ các văn hóa, sự chiếm cư ngày một nhiều các kiểu địa hình, ngắn dần thời gian tồn tại của các văn hóa, gia tăng mức độ phát triển không đều giữa các văn hóa.

Chương 5 thông qua việc phân tích so sánh giữa tiền sử miền Trung với miền Bắc và miền Nam Việt Nam cũng như với tiền sử một số nước Đông Nam Á, công trình cho rằng, ở miền Trung Việt Nam tồn tại một số kỹ nghệ công cụ đá mà các địa bàn khác của Việt Nam chưa gặp. Chẳng hạn, kỹ nghệ công cụ biface và mũi nhọn tam diện ở An Khê, hoặc kỹ nghệ mảnh đá quartz ở Thẩm Ồm và lớp dưới Con Moong, ngược lại ở miền Trung Việt Nam hoàn toàn vắng mặt kỹ nghệ mảnh tước kiểu Ngườm, Lang Rongien và Bạch Liên động. Con đường Đá mới hóa miền Trung Việt Nam cũng có nét riêng so với các vùng đất khác của Việt Nam. Ở mỗi địa hình, cư dân Trung kỳ Đá mới có cách thích ứng riêng với môi trường mới trong các hoạt động kinh tế khai thác và sản xuất, hình thành nên các tiểu vùng kinh tế- xã hội chuyên biệt. Sang giai đoạn Đá muộn, cư dân cổ miền Trung Việt Nam phát triển kỹ thuật chế tác đá, làm gốm, canh tác nông nghiệp đạt tới đỉnh cao. Các di tích khảo cổ học Tiền sử miền Trung có giá trị quan trọng trong nghiên cứu lịch sử - văn hóa Việt Nam và khu vực, cần được bảo tồn và phát huy trong giai đoạn mở cửa và hội nhập hiện nay. Các tác giả đã để xuất một số định hướng nghiên cứu khảo cổ học Tiền sử miền Trung Việt Nam trong tương lai.

Với những nội dung trên, hy vọng cuốn sách là nguồn tài liệu hữu ích đối với các nhà nghiên cứu, các chuyên gia khảo cổ và những độc giả quan tâm nghiên cứu quá khứ xa xưa của mảnh đất miền Trung Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu.

Nguyễn Minh Hồng

 

 


Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: