Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 1: Nhóm ngôn ngữ Mnông - Dao và Tạng - Miến

22/06/2018


Cơ quan soạn thảo: Viện Dân tộc học, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật

Tác giả :
  • PGS.TS. Vương Xuân Tình (chủ biên)

Địa chỉ liên hệ: Viện Dân tộc học; Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật

Năm xuất bản: 2018

Số trang: 907

Từ xưa đến nay, mối quan hệ giữa các dân tộc là những vấn đề lớn, phức tạp đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài vấn đề này với 54 dân tộc anh em. Trong đó, dân tộc Kinh (Việt) là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số và có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển. Các dân tộc chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số nhưng lại cư trú trên một diện tích rộng lớn chiếm khoảng ¾ diện tích cả nước, chủ yếu sống ở những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có vị trí chiến lược quan trọng, nhất là về an ninh, quốc phòng. Điều này đã tạo ra những nét bản sắc rất riêng, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng nền văn hóa Việt Nam.

Vì vậy, việc nhận thức đầy đủ về các đặc điểm trong quan hệ dân tộc có ý nghĩa rất lớn trong hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, tháng 3/2018 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật đã xuất bản bộ sách Các dân tộc ở Việt Nam của tập thể tác giả Viện Dân tộc học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) do PGS.TS. Vương Xuân Tình chủ biên. Tập 4, quyển 1: Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao và Tạng - Miến được giới thiệu dưới đây là 1 quyển thuộc bộ sách đó.

Ngoài phần Mở đầu và tài liệu tham khảo, cuốn sách được cấu trúc thành 2 phần như sau: Phần 1: Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao; Phần 2: Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến

Phần 1 bao gồm các nghiên cứu về các dân tộc Hmông; Dao; Pà Thẻn qua các chiều cạnh về tộc người, hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và những vấn đề đặt ra. Các tác giả nhận định: Từ khi đổi mới năm 1986, nhất là biến đổi trong sở hữu đất đai giải thể hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ, người Hmông ở khắp các địa phương đã phải thích ứng với việc phân chia lại đất canh tác và đất lâm nghiệp, đặc biệt là việc di cư đến các vùng miền khác để khai phá đất sản xuất đã làm tăng diện tích ruộng nước do khai phá ruộng bậc thang, đã giúp đồng bào ổn định hơn cuộc sống, tạo điều kiện để người dân tham gia tích cực hơn vào các hoạt động mua bán tại nơi cư trú, tạo nên xu hướng mới của sự biến đổi sinh kế, cải thiện đời sống kinh tế do phát triển các dịch vụ phi nông nghiệp…

Tương tự như vậy, từ năm 1986, người Dao cũng mở rộng thêm diện tích ruộng nước từ việc khai phá thêm ruộng bậc thang tại những bãi đất ven sông, suối, ven đồi… Từ chỗ người Dao được cho là dân tộc hay đi phá rừng thì nay đã có rất nhiều vùng đất của họ trở thành điểm sáng về bảo vệ rừng và trồng được một số loại cây công nghiệp có giá trị như Quế, Hồi.  Bên cạnh đó, họ còn tích cực sản xuất lương thực, chăn nuôi, làm nghề thủ công và phát triển cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa. Về mặt xã hội, mô hình cư trú của người Dao đang dần thay đổi, dịch chuyển dần sang quan hệ đa tộc người trên các lĩnh vực, nhất là trong hoạt động giao tế và giao lưu tiếp thu văn hóa. Tuy trải qua thời gian sống du canh, du cư, nhưng cộng đồng người Dao ở nước ta vẫn duy trì các đặc trưng văn hóa của mình, trên cơ sở kết hợp với các yếu tố ngoại lai đến từ các nền văn hóa của tộc người Tày, Nùng, Thái, Hmông để đa dạng hóa các hoạt động sinh kế. Qua đó, tạo nên những thay đổi lớn trong đời sống văn hóa - kinh tế - xã hội của mình.

Về dân tộc Pà Thẻn, các nghiên cứu đã chỉ ra nền kinh tế thị trường đã tác động đến đồng bào mạnh mẽ hơn so với các tộc người anh em khác. Từ năm 1986 đến nay, các yếu tố xã hội như tổ chức làng bản, dòng họ, quan hệ trong gia đình, hôn nhân… đã có nhiều biến đổi. Hiện nay, những người đứng đầu như Trưởng, Phó thôn…đều do dân bầu. Mặc dù, trong mỗi thôn, bản đều có thầy cúng, trưởng họ nhưng những người này đều là những bậc cao niên, có uy tín và đều được coi trọng mỗi khi trong thôn, bản có công việc cần nhiều người giải quyết. Về mảng văn hóa vật chất, hiện nay nhà ở và trang phục của người Pà Thẻn đã thay đổi rất nhiều để thích ứng và hòa nhập với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, các yếu tố khác như văn hóa, nghệ thuật dân gian, ca múa nhạc, tri thức tộc người… đang có nguy cơ bị đứt đoạn do giới trẻ hiện nay ít quan tâm đến. Bằng chứng là ngôn ngữ tượng hình của người Pà Thẻn hiện nay đã không còn ai biết đọc, biết viết, các loại nhạc cụ như khèn, chũm chọe, sáo… các điệu múa, bài hát truyền thống chỉ lại còn lại trong kí ức. Trong khi đó, các cấp, các ngành tại địa phương chưa có điều kiện khôi phục, chưa có giải pháp bảo tồn một cách bền vững. Đây không chỉ là vấn đề lớn đối với địa phương mà còn là vấn đề được trung ương đặt lên hàng đầu trong việc phát huy và duy trì bản sắc tộc người Pà Thẻn trong thời đại mới.

Phần 2 bao gồm các nghiên cứu về dân tộc Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Lô Lô, Cống và Si La dưới các chiều cạnh như hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, và những vấn đề đặt ra. Đối với dân tộc Hà Nhì, các tác giả nhận định Hà Nhì là một tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. Về kinh tế, trong sản xuất nông nghiệp đồng bào đã biết phát huy được các ưu thế do biết xen canh, tăng vụ, sử dụng các loại giống cây trồng và vật nuôi mới trong trồng trọt và chăn nuôi… Bên cạnh đó, họ còn biết đi làm ăn xa. Đây là yếu tố mới đã và đang góp phần làm thay đổi diện mạo đời sống kinh tế - xã hội của dân tộc này. Về xã hội, Từ sau đổi mới năm 1986 đến nay, chức năng, quy mô và các mối quan hệ gia đình đã có sự kết hợp giữa thiết chế xã hội truyền thống và hiện đại. Mọi hoạt động của thôn bản đều dưới sự điều hành và quản lý của hệ thống hành chính nhà nước. Tuy vậy, vai trò của người cao tuổi, thầy cúng vẫn có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người Hà Nhì. Trang phục cũng có nhiều thay đổi do người Hà Nhì không còn mặc đồ truyền thống mà chuyển sang mặc đồ may sẵn bán ngoài chợ có xuất xứ từ Trung Quốc. Cùng với sự phát triển của xã hội, tuổi kết hôn cũng được nâng cao, các nghi lễ như tang ma cũng được thực hiện theo nếp sống mới kéo dài không quá 48 tiếng. Ngôn ngữ của người Hà Nhì cũng sử dụng tiếng của người Kinh là những thông tin tổng quan giúp người đọc có cái nhìn khái quát và chuyên sâu hơn về tộc người Hà Nhì dưới nhiều góc độ.

Về dân tộc Phù Lá, qua tổng quan nghiên cứu, các tác giả cho rằng, do có tập quán cư trú xen kẽ với các tộc người khác nên văn hóa người Phù Lá ít nhiều chịu sự ảnh hưởng của các tộc người khá như Thái, Tày; Đời sống còn gặp nhiều khó khăn do nông nghiệp vẫn là hoạt động sinh kế chủ đạo, các hoạt động dịch vụ còn manh mún, chỉ ở dạng trao đổi sản phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi và lâm thổ sản; Ngôn ngữ lại có hai phương ngữ khác biệt nhau, hiện lại còn rất ít người có thể nói được tiếng Phù Lá gốc, vì vậy ngôn ngữ Phù Lá gốc đang đứng trước nguy cơ bị mất dần và chủ yếu dùng tiếng Quan Hỏa hay tiếng phổ thông trong giao tiếp hàng ngày…

Về dân tộc La Hủ, các tác giả cho biết trong quá trình phát triển, người La Hủ phải chống chọi với điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên để sinh tồn. Do vậy, họ luôn phải đối diện với không ít vấn đề nan giải ở cả khía cạnh kinh tế - xã hội và văn hóa. Các bản thiếu ổn định do đặc tính du canh du cư, đã tạo ra nếp sống đơn giản, tạm bợ, những ngôi nhà kiểu lán, lều, mái hở, vách nứt vẫn còn khá phổ biến, trang phục truyền thống xuất hiện ngày càng ít trong cuộc sống hàng ngày cũng như các dịp lễ tết, người phụ nữ được tôn trọng trong gia đình như lại có ít vai trò trong xã hội, đặc biệt là không có người đứng đầu dòng họ.

Về dân tộc Lô Lô, các tác giả cho rằng, tuy kinh tế đã có những bước chuyển biến tích cực nhưng các yếu tố  như vị trí địa lý nơi cư trú, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là những rào cản, khiến cho kinh tế của người Lô Lô còn phát triển khá chậm chạp. Bên cạnh đó, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, mối quan hệ tộc người cũng chịu nhiều ảnh hưởng, trong đó nổi lên là vấn đề an ninh, trật tự và việc quản lý, bảo vệ lợi ích của người lao động khi làm thuê bên kia biên giới. Về văn hóa, người Lô Lô là một trong số ít các dân tộc còn bảo lưu được những đặc trưng của văn hóa tộc người. Tuy nhiên, do quá trình cộng cư ngày càng diễn ra mạnh mẽ, việc trao truyền sản phẩm văn hóa tinh thần như các bài cúng, theo hình thức khẩu truyền, không được ghi chép có nguy cơ thất truyền. Ngoài ra, một số bài hát, điệu múa trong sinh hoạt hàng ngày cũng như một số loại nhạc cụ truyền thống không còn được sử dụng trong đời sống hiện nay.

Về dân tộc Cống, các tác giả đặc biệt chú ý tới nhà ở, trang phục, ẩm thực, phương tiện đi lại, đời sống văn hóa tín ngưỡng… của người Cống. Qua đó, các tác giả nhận định những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của người Cống tập trung ở một số nội dung chính có liên quan đến giáo dục; tệ nạn xã hội; hôn nhân cận huyết, tảo hôn; vấn đề định cư tìm nguồn sinh kế và giữ gìn văn hóa dân tộc. Mặc dù đây là dân tộc được hưởng nhiều chính sách ưu tiên của Nhà nước. Tuy nhiên, để có thể phát huy được  những hỗ trợ đó, người Cống rất cần sự hỗ trợ nội tại để tiếp nhận và vươn lên. Chỉ có thể thông qua con đường học tập, thế hệ trẻ người Cống mới có tri thức để tăng cường nhận thức. Qua đó có thêm các hành động để bồi đắp văn hóa dân tộc và phát triển kinh tế cộng đồng.

Tại Việt Nam dân tộc Si La cư trú tập trung tại xã Can Hồ, Mường Tè, Lai Châu. Đây là một xã đặc biệt khó khăn của huyện Mường Tè nằm cách trung tâm 18km. Qua nghiên cứu, các tác giả cho rằng, về kinh tế, trồng trọt nương rẫy, canh tác ruộng nước, chăn nuôi, khai thác sản vật tự nhiên và làm nghề thủ công là đan lát chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế người Si La. Mặc dù vậy, việc trao đổi buôn bán cũng chưa thực sự giúp cho đời sống của người Si La được phát triển, vẫn còn nặng tính tự cấp, tự túc, nên thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Thôn, bản cũng rất ít hộ gia đình, thường chỉ có từ 5-10 nhà. Mối quan hệ làng bản của họ chủ yếu dựa trên những quy định của hương ước và phong tục tập quán của từng dòng họ. Ngoại hôn là quy tắc mang tính bắc buộc đối với hôn nhân của người Si La. Việc mở rộng hôn nhân với các dân tộc khác là bước thay đổi theo chiều hướng rất tích cực, làm hạn chế hiện tượng hôn nhân cận huyết… Mặc dù vậy, nhờ các chính sách dân tộc đúng đắn và kịp thời của Đảng và Nhà nước, người Si La từ du canh du cư đã và đang dần có cuộc sống định cư ổn định. Tuy nhiên, việc tái định cư khỏi lòng hồ thủy điện Lai Châu đã khiến cho sinh kế của đồng bào không còn được đảm bảo như trước. Do không có đủ đất sản xuất, các giá trị văn hóa, phong tục tập quán truyền thống cũng dần bị mai một hoặc mất đi là những vấn đề cần bàn luận và tiếp tục nghiên cứu, giúp Đảng và Nhà nước có thêm cơ sở lý luận, gợi ý các chính sách đặc thù, giúp đồng bào Si La xóa đói, giảm nghèo, tiếp tục bảo tồn được các giá trị văn hóa có tính chất đặc trưng tộc người trong thời kỳ mới.

Hy vọng với các nội dung như trên, cuốn sách sẽ trở thành tài liệu tham khảo bổ ích với nhiều độc giả.

Xin trân trọng giới thiệu./.

Phạm Vĩnh Hà

 

 


Các tin đã đưa ngày: