Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Bất bình đẳng mức sống ở nông thôn qua sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình

03/08/2018


Tác giả :
  • TS. Đỗ Thiên Kính (Chủ biên)

Địa chỉ liên hệ: Viện Xã hội học, Nhà Xuất bản KHXH

Năm xuất bản: 2018

Số trang: 191

Nghiên cứu mức sống ở nông thôn qua sử dụng đất nông nghiệp là một đề tài rất mới, tựa sách cũng là kết quả của đề tài khoa học cấp Bộ “Bất bình đẳng mức sống ở nông thôn Việt Nam qua sử dụng và quản lý đất đai hiện nay “ (năm 2015-2016) do tác giả Đỗ Thiên Kính làm chủ nhiệm, Viện Xã hội học là cơ quan chủ trì và được Nhà xuất bản khoa học xã hội phát hành tháng 2/2018. Nội dung cuốn sách nhằm trả lời 02 câu hỏi: (1) Thực trạng và xu hướng biến đổi bất bình đẳng về mức sống giàu nghèo ở khu vực nông thôn qua 20 năm (1992-2012) như thế nào?; (2) Khai thác và sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình có mối liên hệ, ảnh hưởng đến mức sống và bất bình đẳng về mức sống giữa các nhóm hộ giàu nghèo?

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, cuốn sách được cấu trúc thành 3 chương như sau: Chương 1: Thực trạng bất bình đẳng về mức sống giàu nghèo; Chương 2: Thực trạng về sử dụng đất nông nghiệp; Chương 3: Sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ giàu nghèo.

Tại chương 1 bạn đọc sẽ được tiếp cận với nhiều vấn đề bất bình đẳng có liên quan đến thu nhập, chi tiêu ngoài ăn uống, chi tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe, giá trị chỗ ở, sự phân cực về mức sống. Qua đó, các tác giả nhận định quá trình bất bình đẳng về mức sống đã thể hiện thành sự phân cực xã hội. Điều này do mô hình phân tầng xã hội hình kim tự tháp quy định. Biểu hiện của nó trong đời sống xã hội là hiện tượng phân hóa, chia cực giữa các nhóm hộ giàu/nghèo. Ở khu vực nông thôn sự bất bình đẳng càng thể hiện rất rõ vì xu hướng phân cực giàu/nghèo về mức sống luôn tăng trong cả 20 năm Đổi mới. Muốn thay đổi điều này, chúng ta cần dịch chuyển mô hình kim tự tháp sang mô hình quả trám, với tầng lớp trung lưu đông đảo ở giữa. Chỉ khi nào tầng lớp trung lưu được  phát triển và mở rộng thì trạng thái phân tầng giữa hai cực giàu/nghèo của xã hội mới dần dần biến mất, hiện tượng bất bình đẳng về mức sống nông thôn cũng vì thế mà được hạn chế/suy giảm hoặc đẩy lùi.

Chương 2 đề cập đến 03 vấn đề: (1). Hộ gia đình không có đất nông nghiệp; (2). Diện tích và sự phân bố quy mô đất nông nghiệp của các hộ gia đình; (3). Kết quả thu thập từ đất nông nghiệp của hộ gia đình nông thôn. Qua đó, các tác giả đã phác họa được khá rõ nét về hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở nông thôn nhất là từ sau chính sách Khoán 10 năm 1988. Sự phân chia đất đai là tương đối công bằng trong các hộ gia đình. Tuy nhiên, do sự diễn tiến của thị trường đất đai qua 20 năm (1992-2012) đã xuất hiện nhóm hộ giàu có nhiều diện tích sản xuất nông nghiệp hơn các nhóm hộ còn lại. Đồng thời, tỷ lệ các hộ gia đình không có đất nông nghiệp ở nông thôn có xu hướng tăng lên trong quá trình 20 năm Đổi mới. Từ việc phân tích và khảo sát số liệu cụ thể, các tác giả đã chứng minh được nhóm hộ giàu đã sử dụng và khai thác đất sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao, còn lại các nhóm có ít hoặc không có đất thì kết quả sử dụng đất nông nghiệp luôn thấp hoặc không có số liệu. Từ đó đi đến kết luận: có sự quản lý và sử dụng khác nhau về nguồn lực đất nông nghiệp giữa hộ giàu và hộ nghèo. Kết quả này là đại diện cho tình hình sử dụng đất nông nghiệp nông thôn cả nước ta trong nhiều năm thời kỳ Đổi mới.

Chương 3 luận bàn sâu hơn về sử dụng đất nông nghiệp giữa hai nhóm hộ giàu/nghèo trên các bình diện: nhóm hộ trở lên nghèo đi hay giàu hơn; diện tích và sự phân bố quy mô đất nông nghiệp ở các hộ giàu; hiệu quả thu nhập từ đất nông nghiệp ở các hộ giàu; những nhân tố tác động đến bất bình đẳng giàu/nghèo; mô hình về những nhân tố tác động đến nghèo đói và giàu có; Một số nhân tố tác động đến nâng cao mức sống cho hộ gia đình nông thôn. Qua các phân tích, có thể nhận thấy nhóm hộ nghèo thường có một số đặc điểm liên quan đến tộc người, đa phần là dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, đông nhân khẩu và có số người phụ thuộc (ăn theo) lớn. Trái lại, nhóm hộ giàu đều tập trung vào người Kinh hoặc người Hoa, có trình độ học vấn cao hơn, hộ gia đình thường ít nhân khẩu và người phụ thuộc… Những đặc điểm đó, chính là các nhân tố tác động làm giảm hoặc gia tăng hộ giàu/nghèo ở nông thôn. Nhìn theo cả giai đoạn 20 năm (1992-2012), tình hình sử dụng đất giữa các nhóm hộ là nguyên nhân tác động chính, có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống giữa các nhóm hộ giàu/nghèo. Tuy vậy, tình trạng nông dân bỏ ruộng hay tình trạng lãng phí nguồn lực về tài nguyên đất vì hiệu quả kinh tế thấp là biểu hiện của sự gắn kết lỏng lẻo của người dân với đất nông nghiệp khi không được tư nhân hóa, sở hữu hóa đã lý giải lý do cần phải trao quyền sở hữu tư nhân đối với đất sản xuất nông nghiệp. Thực hiện được điều này chúng ta sẽ đẩy nhanh được quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất ở nông thôn Việt Nam, làm tăng hiệu quả và sự đóng góp của sử dụng đất nông nghiệp đến mức sống hộ gia đình. Đây cũng là xu hướng phù hợp với sự phát triển cung của nhiều nước trên thế giới và là điều kiện cơ bản nhất để gia tăng giá trị đất sản xuất nông nghiệp và làm giảm sự bất bình đẳng về mức sống của người dân nông thôn.

Hy vọng với các nội dung như trên, cuốn sách sẽ trở thành tài liệu tham khảo bổ ích với nhiều độc giả.

Xin trân trọng giới thiệu./.

Phạm Vĩnh Hà

 


Các tin đã đưa ngày: