Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

10/10/2018


Tác giả :
  • Hoàng Thế Anh (Chủ biên)

Năm xuất bản: 2018

Số trang: 208

 

Sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc (2012), Hội  nghị Trung ương 3 khóa XVIII ĐCS Trung Quốc (tháng 11 năm 2013) đã nêu một số nội dung nhằm thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc. Đây được coi là một số cải cách doanh nghiệp nhà nước mới trong bối cảnh Trung Quốc đang siết chặt kỷ luật Đảng, chống tham nhũng quyết liệt, nâng cao vai trò cầm quyền của Đảng, chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, giải quyết sản xuất dư thừa trong nước và thực hiện chiến lược “Một vành đai, một con đường” với khẩu hiệu của Tập Cận Bình “làm lớn, làm mạnh” doanh nghiệp nhà nước.

Ở Việt Nam, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII của Đảng đã chỉ ra việc đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước cũng gặp không ít vấn đề đặt ra như: Nhận thức về vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước; Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng về doanh nghiệp nhà nước còn yếu kém; Tính không rõ ràng về trách nhiệm của các tổ chức cá nhân; Hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra giám sát, kiểm toán của các cơ quan quản lý nhà nước không cao. Chính vì vậy, xuất phát từ những nghiên cứu cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc, năm 2018 Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn: “Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc và gợi mở cho Việt Nam” do Hoàng Thế Anh làm Chủ biên. Nội dung cuốn sách gồm 3 chương: Chương I. Tóm lược cải cách DNNN nước ở Trung Quốc trước Đại hội XVIII ĐCS Trung Quốc; Chương II. Nội dung cải cách DNNN ở Trung Quốc sau đại hội XVIII ĐCS Trung Quốc; Chương III. Một số đánh giá về cải cách DNNN ở Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam.

Chương I phân tích một số nội dung chủ yếu cải cách DNNN ở Trung Quốc đến trước Đại hội XVIII ĐCS Trung Quốc và luận bàn một số kết quả đạt được trong cải cách DNNN ở thời kỳ này. Mặc dù đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận như: Cơ chế vận hành của DNNN qua quá trình cải cách đã có những chuyển biến theo hướng tích cực; Bố cục kết cấu kinh tế nhà nước từng bước được nâng cấp; Sức cạnh tranh thị trường được tăng cường và từng bước được khẳng định được vị thế trong cạnh tranh quốc tế. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế và tồn tại: khoảng cách DNNN Trung Quốc vẫn còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, bên cạnh đó là làm thế nào để phá vỡ các nhóm lợi ích, độc quyền “thâm căn cố đế” của các DNNN là vấn đề không phải dễ dàng; Việc cải cách chế độ cổ phần hóa ở các doanh nghiệp lớn vẫn còn tiến triển chậm; Cơ chế vận hành hội đồng quản trị chưa hoàn thiện; Gánh nặng nợ nần và tình trạng kinh doanh thua lỗ của DNNN vẫn còn trầm trọng. Do đó để giải quyết những vấn đề này cần một quá trình lâu dài, vì thế từ sau Đại hội XVIII ĐCS Trung Quốc năm 2012, đặc biệt là sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII ĐCS Trung Quốc năm 2013, lãnh đạo Trung Quốc quyết tâm thúc đẩy đưa cải cách DNNN bước sang giai đoạn cải cách sâu rộng toàn diện trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc bắt đầu giảm tốc bước vào thời kỳ được gọi là “tình trạng bình thường mới”.

Chương II, nhóm tác giả tập trung phân tích một số quan điểm, chủ trương lớn liên quan đến cải cách DNNN sau Đại hội XVIII ĐCS Trung Quốc và Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII ĐCS Trung Quốc, trong đó có sự thay đổi về tư duy đối với kinh tế chế độ công hữu và DNNN. Hướng tiếp cận của Trung Quốc trong việc cải cách mở cửa vẫn đang được tiến hành từng bước theo cách “dò đá qua sông”. Sau khi tiến hành cải cách thí diểm một số khu vực và đánh giá, phân tích các bài học kinh nghiệm, Trung Quốc đã quyết định áp dụng sâu rộng ra toàn quốc. Với cách tiếp cận cải cách chậm chắc và được thử nghiệm tại từng địa phương thì nguy cơ rủi ro cũng như gián đoạn sẽ ít xảy ra nhưng tốc độ và quy mô sẽ không nhanh và rộng. Những cải cách chủ yếu là: thứ nhất, cải cách Ủy ban Giám sát và Quản lý tài sản nhà nước (SASAC) và kế hoạch cải cách DNNN; thứ hai, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong DNNN chống tham nhũng và sắp xếp lại nhân sự trong các DNNN.

Chương III, trên cơ sở phân tích những nội dung về cải cách DNNN ở Trung Quốc trước và sau Đại hội XVIII ĐCS Trung Quốc, tác giả nêu lên một số đánh giá bước đầu về cải cách DNNN ở Trung Quốc và so sánh cải cách DNNN ở Trung Quốc và tái cơ cấu DNNN ở Việt Nam. Bằng việc phân tích những điểm tương đồng trong cải cách DNNN ở Trung Quốc và Việt Nam, tác giả thấy một số điểm chung sau: DNNN ở cả hai nước đều kinh doanh trong nhiều lĩnh vực, đa ngành, phân bố ở cả Trung ương và địa phương, nắm những ngành then chốt cũng như những ngành liên quan đến an ninh – quốc phòng; các bước khởi động cải cách DNNN giống nhau. Nếu như ở Trung Quốc thời kỳ đầu những năm 1980 mở rộng quyền tự chủ cho DNNN, khoán lợi nhuận, thì ở Việt Nam trong giai đoạn 1986-1989 chủ yếu tập trung vào khâu thực hiện hạch toán kinh doanh, xác lập quyền chủ động trong tổ chức và kinh doanh; trước năm 2015, DNNN đều phân thành nhiều loại; các bước cải cách DNNN ở Trung Quốc cho đến thời điểm trước Đại hội XVIII ĐCS Trung Quốc và ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đều thực hiện giao bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá sản đối với một số DNNN kém hiệu quả; một số DNNN làm ăn có hiệu quả trở thành những tập đoàn lớn, đóng góp vào sự phát triển của đất nước, có thương hiệu trong và ngoài nước; về cải cách nội bộ doanh nghiệp, cả hai nước hiện đều thí điểm và có chủ trương tuyển dụng lãnh đạo DNNN theo cơ chế thị trường; trong giai đoạn hiện nay, cả hai nước đều coi trọng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với DNNN.

Với những kinh nghiệm thành công và chưa thành công của Trung Quốc, đặc biệt từ sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII (2013) và Hội nghị Trung ương 6 khóa XVIII (2016) nhóm tác giả cho rằng Việt Nam có thể tham khảo những kinh nghiệm sau: một là, quá trình cải cách DNNN ở Trung Quốc thực chất là làm thế nào thực hiện kết hợp giữa DNNN và kinh tế thị trường; hai là, Trung Quốc xác định chế độ sở hữu hỗn hợp là hình thức thực hiện quan trọng của chế độ kinh tế cơ bản, kinh tế chế độ sở hữu hỗn hợp cùng nắm giữ cổ phần, kết hợp với nhau giữa vốn nhà nước, vốn tập thể, vốn phi công hữu là hình thức thực hiện quan trọng của chế độ kinh tế cơ bản; ba là, định vị lại chức năng, vai trò và phân loại các DNNN (DNNN thương mại và DNNN công ích); bốn là, Trung Quốc còn xác định lại tư duy cải cách quản lý tài sản của nhà nước, chuyển trọng tâm từ quản lý tài sản sang quản lý vốn, tách chính quyền và vốn, tách chính quyền và doanh nghiệp.

Hy vọng cuốn sách phần nào đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của độc giả, những nhà nghiên cứu về cải cách DNNN ở Trung Quốc sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII ĐCS Trung Quốc.

Xin trân trọng giới thiệu./.

Nguyễn Minh Hồng

 

 


Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: