Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 2 : Nhóm ngôn ngữ Hán và Mã Lai - Đa Đảo

13/11/2018


Tác giả :
  • PGS.TS. Vương Xuân Tình (chủ biên)

Địa chỉ liên hệ: Viện Dân tộc học; Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật

Năm xuất bản: 2018

Số trang: 964

Từ xưa đến nay, vấn đề dân tộc, mối quan hệ giữa các dân tộc là những vấn đề lớn, phức tạp đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việt Nam có 54 dân tộc anh em cũng không nằm ngoài xu hướng đó, các dân tộc ở nước ta sống xen kẽ là chủ yếu và có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển. Các dân tộc chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số nhưng lại cư trú trên một diện tích rộng lớn chiếm khoảng ¾ diện tích cả nước, chủ yếu sống ở những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có vị trí chiến lược quan trọng, nhất là về an ninh, quốc phòng. Mỗi dân tộc lại có những bản sắc văn hóa rất riêng, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng nền văn hóa Việt Nam.

Vì vậy, việc nhận thức đầy đủ về các đặc điểm trong quan hệ dân tộc có ý nghĩa rất lớn trong hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, tháng 3/2018 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật đã xuất bản bộ sách Các dân tộc ở Việt Nam của tập thể tác giả Viện Dân tộc học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) do PGS.TS. Vương Xuân Tình chủ biên. Tập 4, quyển 2: Nhóm ngôn ngữ Hán và Mã Lai Đa Đảo được giới thiệu dưới đây là 1 quyển thuộc bộ sách đó.

Ngoài phần Mở đầu và tài liệu tham khảo, cuốn sách được cấu trúc thành 2 phần như sau: Phần 1: Nhóm ngôn ngữ Hán; Phần 2: Nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo

Phần 1 bao gồm các nghiên cứu về các dân tộc Hoa, Ngái (thôn Tam Thái, Thái Nguyên) và Sán Dìu từ năm 1986 đến nay qua các chiều cạnh về hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và những vấn đề đặt ra trong phát triển tộc người.

Đối với Dân tộc Hoa các tác giả nhận định: Về kinh tế, dân tộc Hoa nổi bật với hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực như: công thương nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải... Trong sản xuất kinh doanh, hoạt động xuyên quốc gia ngày càng được mở rộng với nhiều nước trong khu vực đã không chỉ đóng góp cho cộng đồng người Hoa mà còn góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế của đất nước trong thời kỳ Đổi mới. Về xã hội, cố kết tộc người là một đặc điểm nổi bật của người Hoa. Bên cạnh sự cố kết, người Hoa cũng có xu hướng hội nhập vào xã hội nơi cư trú. Trong đó, tỉ lệ hôn nhân hỗn hợp dân tộc ngày càng tăng ở một số địa phương là một biểu hiện rõ nét. Về văn hóa, mặc dù có tính cố kết mạnh, song văn hóa và lối sống của người Hoa có xu hướng vừa giữ gìn một số các giá trị truyền thống vừa có tính biến đổi để phù hợp với hoàn cảnh và môi trường sống mới, nhất là tạo được vị thế trong xã hội, trong sản xuất và kinh doanh. Từ khi đổi mới năm 1986, việc nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam có sự thiên lệch và thiếu tính liên tục. Bộ phận người Hoa ở miền Bắc dường như thiếu sự cập nhật nghiên cứu kể từ sau năm 1979. Trái lại, nhóm người Hoa tại Nam Bộ tiếp tục được coi là đối tượng hấp dẫn cho các nhà  nghiên cứu trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sức mạnh và tiềm năng kinh tế thực sự của nhóm cư dân này ra sao, vẫn chưa có một nghiên cứu dân tộc học/dân tộc học nào đưa ra câu trả lời xác đáng. Đó cũng là một trong những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu trong thời gian tới.

Đối với dân tộc Ngái, các tác giả nhận định: Đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của người Ngái nói chung, người Ngái thôn Tam Thái nói riêng mang nét đặc trưng rất riêng. Với tính chăm chỉ, cần cù, chịu khó, người Ngái luôn phát huy thế mạnh ở nơi sở tại, sử dụng tốt tư liệu sản xuất vốn có, kết hợp với học hỏi kinh nghiệm của các tộc người xung quanh để phát triển sinh kế. Về đời sống văn hóa, xu hướng mai một văn hóa truyền thống đã diễn ra trong suốt quá trình tộc người này chuyển cư, sống phân tán, xen kẽ với nhiều tộc người khác từ năm 1986 đến nay. Trong tương lai xu hướng này còn tiếp tục chịu ảnh hưởng của quá trình giao lưu, tiếp xúc và hội nhập văn hóa. Điều đó thể hiện qua diện mạo ngôi nhà, trang phục và ngôn ngữ. Ngôn ngữ mất đi đồng nghĩa với việc trao truyền các giá trị văn hóa cũng mờ nhạt. Tại Thôn Tam Thái hiện có 50 hộ gia đình người Ngái chỉ còn duy nhất một ngôi nhà trình tường. Về đời sống xã hội, mối quan hệ trong gia đình, dòng họ có sự thay đổi về cấu trúc và tính chất, hôn nhân hỗn hợp dân tộc đã tác động không nhỏ đến sự thay đổi trong cấu trúc gia đình, dòng họ, hầu hết các phong tục trong cưới xin, tang ma, sinh đẻ hay nuôi dậy con cái đều có xu hướng biến đổi theo dân tộc đa số. Trong khảo sát về người Ngái ở Tam Thái các tác giả nhận thấy: đó là cùng một dòng họ Thẩm nhưng người anh sống ở Tam Thái là dân tộc Ngái trong khi người em sống ở Phú Bình (khác huyện) lại được xếp vào dân tộc Hoa. Sự không thống nhất và hạn chế thông tin về người Ngái có lẽ cũng là nguyên nhân tác động không nhỏ đến kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 qua việc suy giảm số người Ngái so với Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999..

Đối với dân tộc Sán Dìu, các tác giả nhận định: Về kinh tế, nét nổi bật trong hoạt động kinh tế của người Sán Dìu là đa dạng hóa các loại hình trồng trọt và cây trồng, ngoài ra họ còn có bước phát triển mạnh mẽ trong sản xuất hàng hóa, đặc biệt là trong chăn nuôi lợn và cá lồng. Thêm nữa, họ còn áp dụng và ứng dụng nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi. Do đó hoạt động sinh tế đã phát triển rất tốt, các hoạt động buôn bán trao đổi được tăng cường, kinh tế chợ phát triển, dịch vụ gia tăng đáng kể. Về văn hóa, dân tộc Sán Dìu cũng có những thay đổi rất lớn về nhà ở, trang phục và ẩm thực để phù hợp với xu thế vận động của xã hội. Tuy vậy, những giá trị về tinh thần cũng đã được bảo lưu tốt nhất là tiếng nói, phong tục tập quán, văn nghệ dân gian. Về xã hội, trải qua những thăng trầm lịch sử, cơ cấu thôn/làng của người Sán Dìu có nhiều thay đổi, cư dân đông đúc hơn trước, mô hình cư trú xen kẽ giữa các dân tộc trong cùng một thôn/làng ngày càng phát triển… Tổng quan nghiên cứu về người Sán Dìu từ năm 1986 đến nay cho thấy, cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ đồng tộc của người Sán Dìu trong nước và các nước láng giềng; quá trình đô thị hóa và không gian cư trú đang bị thu hẹp; biến đổi về cảnh quan sinh thái, cơ cấu dân cư; sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và hiệu quả của các hoạt động sinh kế; sự mai một văn hóa truyền thống và quá trình hình thành các yếu tố văn hóa mới đang diễn ra…

Phần 2 bao gồm các nghiên cứu về dân tộc Gia - rai, Ê - đê, Chăm, Ra-glai và Chu - ru dưới các chiều cạnh như: hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, và những vấn đề đặt ra. Đối với sự phát triển của dân tộc Gia - rai, các tác giả nhận định: Về kinh tế: tuy có những bước phát triển trong sản xuất từ quy mô rẫy, vườn truyền thống sang trang trại, vườn cây công nghiệp và lối canh tác hiện đại, nhưng đói nghèo ở tộc người này vẫn chưa được giải quyết và sự phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng và với dân tộc khác luôn có xu hướng gia tăng. Về xã hội, đô thị hóa là đặc điểm rõ nét trong biến đổi xã hội ở các cộng đồng dân tộc người Gia - rai, từ tụ cư trong những ngôi làng truyền thống, nhiều cộng đồng dân tộc Gia - rai đã chuyển sang sống ở môi trường đô thị. Về văn hóa, cũng có nhiều thay đổi, trang phục truyền thống ngày càng ít được sử dụng, nhà ở có xu hướng chuyển từ nhà rông, nhà sàn sang nhà xây, tình trạng người dân bán các bộ chiêng, chóe, chum để mua sắm dàn nhạc điện tử hay vật dụng khác cho gia đình diễn ra phổ biến, làm mất đi di sản văn hóa quý báu của tộc người. Những biến đổi trong văn hóa còn liên quan đến những chuyển đổi trong tôn giáo - tín ngưỡng. Điều này đã tạo nên sự mất mát và đứt gãy văn hóa truyền thống và làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển chung trong cộng đồng văn hóa - xã hội của người Gia - rai.

Về tộc người Ê - đê, các tác giả cho rằng cùng với nhiều tộc người tại chỗ ở khu vực Tây Nguyên, người Ê - đê đã, đang và sẽ chịu nhiều tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong xã hội cổ truyền, kinh tế người Ê - đê về cơ bản là tự cấp, tự túc, tuy nhiên hiện nay trong thời kì đổi mới, nhờ chính sách phát triển vùng, nhiều buôn làng Ê - đê đã chuyển sang canh tác cây trồng công nghiệp có giá trị như cà phê, hồ tiêu, cao su, điều, ca cao… đã làm cho sinh kế của người Ê - đê dần thoát khỏi đói nghèo, giảm thất nghiệp… Về đời sống xã hội, đến nay mặc dù bộ máy quản lý của buôn đã thay đổi nhưng luật tục vẫn còn có ảnh hưởng quan trọng trong đời sống của người Ê - đê, hình thức đại gia đình sống trong ngôi nhà sàn dài không còn nữa thay vào đó là gia đình nhỏ hay gia đình hạt nhân. Tuy xã hội Ê - đê đã chuyển dần sang xã hội phụ hệ nhưng tàn dư mẫu hệ vẫn còn khá đậm nét. Dưới tác động của kinh tế thị trường, mối quan hệ giao lưu, trao đổi buôn bán, hôn nhân với các tộc người khác càng có nhiều biến chuyển, nếu như trước năm 1986, nhiều yếu tố văn hóa còn đậm nét thì nay đã bị xói mòn nghiêm trọng thậm chí không còn. Bởi vậy, sự phát triển bền vững, trong đó vừa đảm bảo phát triển kinh tế với ổn định xã hội và giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa tộc người vẫn là những thách thức đối với dân tộc Ê - đê nói riêng và các tộc người ở Tây Nguyên nói chung.

Đối với sự phát triển của dân tộc Chăm, các tác giả cho rằng do xu hướng hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt ở cộng đồng người Chăm Hồi giáo nên cùng với việc giao lưu tôn giáo, những hỗ trợ về kinh tế, văn hóa của cộng đồng Hồi giáo bên ngoài đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nội tại. Nét nổi bật trong phát triển kinh tế của người Chăm là sự biến động trong cơ cấu lao động và việc làm; tham gia mạng lưới xã hội rộng hơn, việc hưởng dụng các sản phẩm khoa học - công nghệ có giá trị đã làm thay đổi chất lượng cuộc sống của người Chăm. Về xã hội và văn hóa, cùng với sự vận động chung của thời đại, sự giao thoa kinh tế, biến động về dân cư hành chính, sự phân hóa giàu nghèo, trang phục truyền thống biến đổi do tiếp nhận những ảnh hưởng văn hóa hiện đại, nhà cửa truyền thống vắng bóng, ngôn ngữ thay đổi, song ngữ và đa ngữ trong giao tiếp trở nên phổ biến… đều là những khoảng trống được các nhà khoa học khẳng định là những tiếp biến văn hóa cần phải được đầu tư nghiên cứu sâu hơn.

Về sự phát triển của dân tộc Ra - glai, các tác giả cũng cho rằng kể từ năm 1986 đến nay, hoạt động trồng trọt vẫn là hoạt động chính trong sinh kế của người Ra - glai. Trước sự tác động của nền kinh tế thị trường, hoạt động thủ công truyền thống như đan lát, gốm, rèn đã suy giảm nhiều, thậm trí có một số nghề không còn nữa, tuy nhiên những loại hình nghề mới như làm thuê, dịch vụ, buôn bán, … càng ngày càng phát triển và đa dạng hơn trong cuộc sống của người dân Ra -glai. Về xã hội, dưới sự quản lý của bộ máy hành chính nhà nước, buôn làng trước đây của người Ra - glai bị xé lẻ hay hòa nhập vào trong các đơn vị hành chính thôn xã. Theo đó, các thiết chế quản lý xã hội buôn làng truyền thống cùng vai trò của nó trở nên phai nhạt và bị thay thế bởi cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội, cùng với sự tan rã của những ngôi nhà dài, vai trò của dòng họ cũng phai nhạt theo, thay vào đó là các tiểu gia đình hạt nhân và tiểu gia đình mở rộng. Về văn hóa, có thể nói, người Ra - glai có một đời sống văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng và đặc sắc cả về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần với đầy đủ các loại hình từ các dạng kiến trúc nhà chòi, mổ mả, trang phục, ăn uống, nhạc cụ, dân ca, dân vũ…

Đối với sự phát triển của dân tộc Chu - ru, các tác giả cho rằng kể từ năm 1986 người Chu - ru đã sớm nắm bắt được sự vận động của cơ chế thị trường và thu được hiệu quả kinh tế từ việc trồng cây cà phê và một số cây công nghiệp khác như: điều, cao su…Ngoài ra họ còn chú ý tới việc phát triển các ngành nghề kinh doanh phi nông nghiệp, dịch vụ và thương mại để phát triển kinh tế. Về đời sống xã hội, trước và trong chiến tranh, xã hội người Chu - ru bị phân hóa giai cấp khá nặng nề, một bộ phận nhỏ dân cư nổi lên thành tầng cấp địa chủ mới, tuy số lượng khiêm tốn nhưng lại chiếm giữ phần lớn tư liệu sản xuất, đất đai của cộng đồng. Do vậy, phần lớn đồng bào Chu - ru hài lòng với việc phân chia lại đất sau chiến tranh. Về đời sống văn hóa - xã hội, cộng đồng người Chu - ru có sự tiếp biến văn hóa một cách mạnh mẽ trong khoảng nửa cuối thế kỷ XX. Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, họ bị rời khỏi nơi cư trú truyền thống là những ngôi nhà dài mẫu hệ để sống tập trung trong các ấp chiến lược, các tục lệ, lễ thức được đúc kết từ nhiều đời đã bị mai một trong thời gian này. Sau giải phóng, với sự phân hóa xã hội rõ rệt, cùng cộng cư với nhiều tộc người di cư từ miền núi phía Bắc vào, đời sống văn hóa của người Chu - ru lại một lần nữa chịu sự va chạm mạnh, nảy sinh quan hệ hôn nhân hỗn hợp đa dân tộc. Đan xen trong những biến động đó là sự tiếp cận nhanh, mạnh đặc biệt là ở những người trẻ khi tiếp xúc với văn minh thế giới, xu hướng hội nhập là sự nảy nở, tiếp biến của những xu hướng văn hóa mới trong cộng đồng người Chu - ru đương đại.

Khép lại những vấn đề về tộc người, gợi ý những định hướng nghiên cứu và chính sách về vấn đề tộc người với cộng đồng quốc gia - dân tộc ở Việt Nam trong thời gian tới, PGS.TS. Vương Xuân Tình cho rằng: Điểm mấu chốt của vấn đề dân tộc đương đại là tộc người và quan hệ tộc người với quốc gia - dân tộc. Bởi vậy, sẽ thiếu sót hoặc sai lầm khi nghiên cứu về tộc người không đặt trong mối quan hệ với cộng đồng quốc gia - dân tộc. Trong những vấn đề liên quan đến tộc người, bản sắc tộc người là yếu tố quan trọng nhất. Bên cạnh đó, việc xác định thành phần dân tộc; chính sách dân tộc; nâng cao nhận thức trong quản lý vấn đề tộc người; mối quan hệ tộc người với cộng đồng - quốc gia….là những chủ đề nghiên cứu chủ lực qua đó góp phần làm rõ những nội dung cụ thể trong quan hệ dân tộc…

Hy vọng với các nội dung như trên, cuốn sách sẽ trở thành tài liệu tham khảo bổ ích giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý hiểu  biết sâu sắc hơn về đặc điểm của mỗi dân tộc, từ đó hoạch định những chính sách dân tộc phù hợp, tiếp tục góp phần củng cố tinh thần đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc./.

Phạm Vĩnh Hà

 


Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật

Các tin đã đưa ngày: