Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Chính sách khuyến khích khởi nghiệp doanh nghiệp của Việt Nam

10/04/2019


Tác giả :
  • PGS.TS. Bùi Nhật Quang (chủ biên)

Năm xuất bản: 2018

Số trang: 300

 

Trong những năm gần đây, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với khu vực kinh tế tư nhân và đội ngũ doanh nhân đã từng bước đi vào cuộc sống, gắn với thực tiễn phát triển của đất nước và phù hợp với các quy luật của thị trường. Mặc dù các chính sách hiện hành tương đối cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tất cả các thành phần kinh tế nhưng các doanh nghiệp tư nhân vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác. Nhiều doanh nghiệp tư nhân bị thua lỗ, chậm chí phá sản. Trước thực trạng như vậy, Chính phủ Việt Nam đã đề ra chủ trương khuyến khích và đẩy mạnh quá trình khởi nghiệp kinh doanh cũng như hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp.

Hiện nay, hoạt động khởi nghiệp doanh nghiệp đang nhận được sự quan tâm sâu rộng của tất cả các cấp quản lý và của nhiều cá nhân muốn khởi nghiệp. Do đó, việc nghiên cứu về khởi nghiệp doanh nghiệp trở thành vấn đề có tính thời sự cấp bách. Năm 2018, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn: “Chính sách khuyến khích khởi nghiệp doanh nghiệp của Việt Nam” do PGS.TS. Bùi Nhật Quang làm chủ biên. Cuốn sách là sản phẩm của công trình nghiên cứu khoa học do nhóm nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam thực hiện. Công trình tập trung làm sáng tỏ và cụ thể hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động khởi nghiệp, bên cạnh việc tổng kết, đánh giá về các mô hình khởi nghiệp và khả năng vận dụng, nhân rộng các mô hình này ở Việt Nam, nhóm tác giả còn làm rõ về các cơ chế, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về khởi nghiệp, từ đó đề xuất các quan điểm, định hướng, mục tiêu đẩy mạnh khởi nghiệp của doanh nghiệp. Nội dung chính của cuốn sách bao gồm 3 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về khởi nghiệp; Chương 2. Chính sách khởi nghiệp và thực trạng hoạt động khởi nghiệp doanh nghiệp tại Việt Nam; Chương 3. Quan điểm, định hướng, mục tiêu và giải pháp đẩy mạnh khởi nghiệp doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Chương 1, cùng với những cơ sở lý luận về khởi nghiệp, nhóm tác giả đã khái quát bối cảnh phát triển mới của thế giới và Việt Nam cũng như phân tích một số mô hình khởi nghiệp trên thế giới như Mỹ, Israel và Hàn Quốc. Điểm nhấn của chương là nhóm tác giả đã rút ra một số bài học kinh nghiệm từ những mô hình khởi nghiệp trên thế giới: Thứ nhất, chính sách chú trọng xây dựng tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ; Thứ hai, nhà nước luôn đồng hành cùng doanh nghiệp và dành nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp; Thứ ba, chính sách không chỉ chú trọng các vấn đề khởi nghiệp trước mắt mà còn có phạm vị rộng hơn, để đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Thứ tư, ý chí và tài năng lãnh đạo, quản trị quốc gia của những người đứng đầu đất nước là một trong những yếu tố quyết định xây dựng thành công quốc gia khởi nghiệp; Thứ năm, xây dựng đội ngũ đông đảo chuyên gia khoa học công nghệ và doanh nhân tài năng là yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển và thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp.Những chính sách khuyến khích khởi nghiệp của các quốc gia này đã thực sự đem lại nhiều kết quả tích cực và tạo dựng được hệ sinh thái khởi nghiệp hiệu quả.

Chương 2 tập trung phân tích sâu về chính sách khởi nghiệp tại Việt Nam bao gồm những chủ trương của Đảng và Nhà nước về khuyến khích tinh thần khởi nghiệp và thúc đẩy khởi nghiệp. Qua khảo sát thực trạng hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam, nhóm tác giảcho rằng có 6 loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp: i/ Khởi nghiệp với các doanh nghiệp hộ gia đình; ii/ Doanh nghiệp khởi nghiệp xuất phát từ sở thích; iii/ Khởi nghiệp doanh nghiệp “nuôi để bán”; iv/ Doanh nghiệp khởi nghiệp “sinh ra để thay đổi thế giới”; v/ Doanh nghiệp khởi nghiệp phi thương mại; vi/ Doanh nghiệp khởi nghiệp là công ty con của các tập đoàn quốc tế. Trong 6 loại hình khởi nghiệp này loại hình thứ nhất và thứ hai chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nước ta. Để phân tích và đánh giá chính xác về thực trạng các doanh nghiệp khởi nghiệp, nhóm tác giả đã tập trung phân tích dựa trên các tiêu chí: số lượng doanh nghiệp; trình độ công nghệ của doanh nghiệp; người lao động tác các doanh nghiệp; đối tượng khách hàng và tình hình sản xuất kinh doanh; địa bàn khởi nghiệp; vườn ươm khởi nghiệp và điều kiện kinh doanh. Đánh giá về một số doanh nghiệp khởi nghiệp khởi nghiệp, nhóm khẳng định: Thứ nhất, các chính sách để khuyến khích tinh thần khởi nghiệp đang dần hoàn thiện và vẫn cần thời gian để kiểm chứng hiệu quả của các chính sách; Thứ hai, Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 của Chính phủ phê duyệt “Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia đến năm 2025” đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp là loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh, loại hình kinh doanh mới và ứng dụng công nghệ; Thứ ba, có những doanh nghiệp khởi nghiệp không coi vốn là khó khăn lớn nhất mà coi “tinh thần kinh doanh” là khó khăn lớn nhất trong các doanh nghiệp khởi nghiệp; Thứ tư, các doanh nghiệp khởi nghiệp mong muốn Cục Sở hữu trí tuệ đẩy mạnh cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu trí tuệ; Thứ năm, các doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung luôn thiếu vốn để triển khai thực hiện ý tưởng; Thứ sáu, chính phủ cần đẩy mạnh thông tin, truyền thông và tuyên truyền các chính sách liên quan đến khởi nghiệp để các doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng có thể hiểu được chính sách của Nhà nước để triển khai các ý tưởng thuận tiện nhất.

Chương 3, phân tích các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề khuyến khích khởi nghiệp doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu nhận thấy các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý nhà nước đã bắt đầu nhìn nhận khởi nghiệp như một động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế tương lai. Mặc dù vậy, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách về khởi nghiệp và trong những năm tiếp theo, dựa trên cơ chế đó nhằm nâng tầm cho hoạt động khởi nghiệp. Cụ thể là: (1) Khuyến khích các hoạt động khởi nghiệp doanh nghiệp trên cơ sở hoàn thiện các chính sách cụ thể về thành lập doanh nghiệp mới, các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, chấp nhận mạo hiểm; (2) Xác định tầm nhìn dài hạn và có lộ trình hợp lý trong từng thời kỳ. Những định hướng này nhằm mục tiêu đẩy mạnh xây dựng “Quốc gia khởi nghiệp” và khuyến khích xây dựng “Doanh nghiệp khởi nghiệp”. Trên cơ sở đánh giá tổng thể về những thuận lợi và khó khăn về hoạt động khởi nghiệp cũng như chính sách khởi nghiệp, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp có giá trị đột phá nhằm đẩy mạnh khởi nghiệp và khuyến khích tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Thứ nhất, nhóm giải pháp khuyến khích tinh thần khởi nghiệp; Thứ hai, nhóm giải pháp tạo thuận lợi cho thành lập mới doanh nghiệp; Thứ ba, nhóm giải pháp thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Hy vọng rằng với những thông tin mới nhất, tương đối đầy đủ và có hệ thống về các lý thuyết khởi nghiệp cũng như thực trạng hoạt động khởi nghiệp của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay sẽ đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của độc giả quan tâm.

Xin trân trọng giới thiệu!

Nguyễn Minh Hồng

 


Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: