Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Từ kí hiệu đến biểu tượng

25/04/2019


Tác giả :
  • PGS.TS. Trịnh Bá Đĩnh (chủ biên)

Năm xuất bản: 2017

Số trang: 428

 

 

Trong hoạt động sống cũng như trong hoạt động ngôn ngữ hàng ngày, chúng ta thường sử dụng các biểu tượng. Trong phê bình nghệ thuật, các nhà phê bình thường nhận xét hình ảnh này, nhân vật kia là các biểu tượng nghệ thuật. Ở nghệ thuật thuộc mọi dân tộc, mọi thời đại, mọi loại hình đều có các biểu tượng và đâu đâu cũng quan sát thấy chúng làm cho tác phẩm có chiều sâu tư tưởng, tăng lượng hàm nghĩa cho các hình tượng. Biểu tượng không chỉ có trong nghệ thuật mà còn có trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, trong các tập tục văn hóa, trong chính trị, hoạt động quảng cáo sản phẩm… Nó là một hiện tượng văn hóa. Không chỉ là hiện tượng văn hóa thông thường, hệ thống biểu tượng là nền tảng cơ bản của một nền văn hóa dân tộc. Để có thể hiểu được văn hóa một dân tộc (tộc người) cần hiểu hệ thống biểu tượng của nó… Có thể nói, chung ta đang sông trong thế giới biểu tượng và các biểu tượng sống trong chúng ta.

Để hiểu rõ hơn về biểu tượng và bản chất của nó trên góc độ khoa học, năm 2017, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn: “Từ kí hiệu đến biểu tượng” do Trịnh Bá Đĩnh làm chủ biên. Cuốn sách gồm hai chương chính: Chương I. Các vấn đề lý luận; Chương II. Thực hành phân tích biểu tượng. Ngoài ra cuốn sách còn có các bản dịch tham khảo nhằm giúp độc giả hiểu rõ hơn đối với từng trường hợp cụ thể.

Chương I. diễn giải một số vấn đề lý luận về kí hiệu, biểu tượng, biểu tượng nghệ thuật và biểu tượng trong tác phẩm văn học. Nghiên cứu chỉ ra rằng, một kí hiệu gồm có hai bình diện “hình thức” và “nội dung”. Hình thức là một thứ “vỏ bọc vật chất” như kí tự, âm thanh, màu sắc, các vật thể lí- hóa. Nội dung là phương diện ngữ nghĩa như các khái niệm, cảm xúc, ước mong. Về biểu tượng, nhóm tác giả đi sâu nghiên cứu theo lịch sử: từ giai đoạn cổ xưa, qua thời Trung cổ, đến Cận –Hiện đại cho thấy quan niệm về biểu tượng đã có những bước tiến triển mới, theo những quan điểm khác nhau: nhân triết học, văn hóa học, phân tâm học, kí hiệu học tu từ học. Đáng chú ý là sự tổng thuật sâu các công trình của nhà lí luận văn học, văn hóa Pháp Tz. Todorov như: “Các lý thuyết biểu tượng” – 1977, “Chủ nghĩa biểu tượng và sự diễn giải”- 1978. Tz. Todorov cho rằng cách hiểu về biểu tượng liên quan đến sự diễn giải, bởi vì cùng một kí hiệu ở thời đại này, dân tộc này coi là biểu tượng, nhưng ở thời đại, dân tộc khác lại không thấy như thế. Nghiên cứu biểu tượng cần chú ý đến sự dễn giải của chủ thể diễn giải, “cộng đồng diễn giải”, tức là môi trường văn hóa trong đó biểu tượng hoạt động. Theo nhóm nghiên cứu, đây có lẽ là con đường dẫn Todorov sau này đến với chủ nghĩa nhân văn và chuyên chú đọc các văn bản xã hội, Ông cho rằng văn chương và nghiên cứu văn chương không bao giờ là lối khẳng định cái tôi, hay lật đổ thần tượng, hay tiêu khiển lúc nhàn, mà trước hết là để kiếm tìm sự thực.   

Chương II tập trung vào thực hành phân tích biểu tượng, bao gồm: Biểu tượng Hà Nội trong văn học; Hệ thống biểu tượng Đạo Mẫu trong Mẫu thượng Ngàn; Biểu tượng cây trong thần thoại các dân tộc thiểu số Việt Nam; Lửa và Nước trong phim Việt Nam đương đại. Về biểu tượng Hà Nội, trong các văn bia, các truyện truyền kì của văn học trung đại Việt Nam, đó là một không gian tâm linh dày đặc các di tích tôn giáo và tín ngưỡng. Trong văn xuôi thế kỷ XVIII, Thăng Long hiện lên như một sân khấu chính trị đậm “mùi thời thế”. Nghiên cứu cho thấy, biểu tượng Hà Nội mang rất nhiều hàm nghĩa, một “vũ trụ nghĩa” và là một đề tài lớn, tuy nhiên nhóm tác giả đã tập trung nêu bật mấy “hằng số nghĩa”, mấy kiểu cảm thức – diễn giải văn học tiêu biểu về Hà Nội trong văn học Việt Nam như: “Chốn thiêng”, “Thành phố lãng mạn”, “ Thành phố-  quốc gia”.Với hệ thống biểu tượng Đạo Mẫu trong Mẫu Thượng Ngàn  của Nguyễn Xuân Khánh, việc thừa nhận sự chi phối và điều khiển của tác giả hàm ẩn trong văn bản nghệ thuật một mặt đặt ra việc xem xét biểu tượng trong cấu trúc chỉnh thể, mặt khác cũng không thể bỏ qua yếu tố ngữ cảnh như các vấn đề chính trị, văn hóa, những thiết chế quyền lực có thể định chế và tác động đến việc hình thành diện mạo xã hội cũng như kiến tạo ý nghĩa biểu tượng. Tác giả cho rằng, hệ thống biểu tượng trong Mẫu thượng ngàn được nhìn nhận từ hai điểm quy chiếu: Thứ nhất, cơ chế tạo nghĩa của văn bản gồm hành trình thiết lập ý nghĩa biểu tượng và những diễn giải từ việc khảo sát văn bản truyện kể gắn với mục đích của tác giả hàm ẩn và sức thuyết phục của mỗi sự lựa chọn biểu tượng trong văn bản; Thứ hai, là những diễn giải từ bối cảnh văn hóa xã hội với những vấn đề liên quan đến cơ chế tạo nghĩa gắn với thiết chế xã hội, luân lí đạo đức và truyền thống văn hóa. Từ điểm quy chiều này, tác giả khẳng định việc tìm kiếm và khám phá biểu tượng có thể song hành với việc xác lập các quyền lực văn hóa. Trong các tác phẩm thơ của Hoàng Cầm, nhà thơ luôn chú ý đến việc đặt nhan đề, dùng nhan đề để mở rộng biên độ của thi phẩm. Với ông, tác giả cho rằng cách đặt tên bài thơ có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ những tiêu chí khác nhau, có thể gom nhan đề thơ Hoàng Cầm vào những dạng thức khác nhau, do đó, khảo sát thơ Hoàng Cầm từ các mã nhan đề là một trong những con đường đến gần hơn với những rung cảm thơ, những ám ảnh vô thức trong thế giới thơ “bất khả giải” của người nghệ sĩ xứ Kinh Bắc này. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh, thi giới Hoàng Cầm là một rừng biểu tượng, ký hiệu. Khi phân tích biểu tượng cây trong thần thoại cac dân tộc thiểu số Việt Nam, nghiên cứu chỉ ra rằng ngoài biểu tượng ý niệm về nguồn gốc các tộc người và biểu tượng về sự kiến tạo thế giới mới, cây còn biểu đạt ý niệm về linh hồn. Theo tác giả, ý niệm này được nảy sinh từ rất sớm, khi con người coi cây cối cũng giống như động vật, sống và chết, khỏe mạnh hay bệnh tật. Như vậy chính ý niệm về linh hồn cây cối trong trường vật linh của tín ngưỡng vật linh đã tạo ra biểu tượng cây tổ tiên và cây vũ trụ. Đáng chú ý của chương này là phân tích các biểu tượng của nghệ thuật điện ảnh:  biểu tượng “Lửa” và “Nước” trong phim Việt Nam đương đại. Nhóm tác giả đã phân tích chi tiết về biểu tượng “Nước” trong các phim “Mùa len trâu”, “Hương rừng Cà Mau”, “Bi, đừng sợ”, biểu tượng “Lửa” trong các tác phẩm “Mê thảo thời vang bóng”, “Đừng đốt”, qua đó cho thấy việc sử dụng biểu tượng, điện ảnh Việt Nam đang tiến đến gần hơn với lối tư duy đa chiều vốn đang làm nên màu sắc của điện ảnh đương đại, thêm nhiều không gian được mở ra từ đó, vừa bí ẩn, vừa quyến rũ.

Phần cuối của cuốn sách, nhóm tác giả giới thiệu một số các bản dịch công trình của những nhà lí luận nghệ thuật nổi tiếng như R. Barthes, R. Jakovson. Iu. Lotman…để giúp các độc giả tham khảo: “Đế chế của ký hiệu”; “ Từ tác phẩm đến văn bản”; “Cái chết của tác giả”; “Khoa học đối sánh văn chương”; “Về vấn đề tín hiệu thị giác và thính giác” và một vài bản dịch khác.

 Hiện nay, việc nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam mặc dù chưa thật phát triển, nhưng với nội dung lí thuyết cơ bản và sự phong phú, cụ thể trong thực hành phân tích biểi tượng, cuốn sách này sẽ đáp ứng được một phần nhu cầu tìm hiểu biêu tượng nghệ thuật, biểu tượng văn hóa của độc giả theo cách khoa học và có tính hệ thống.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Nguyễn Minh Hồng

 

 

 


Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: