Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Giá trị và chức năng của Tin Lành trong vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

27/05/2019


Tác giả :
  • Vũ Thị Thu Hà (Chủ biên)

Năm xuất bản: 2018

Số trang: 200

 

Tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy đời sống tôn giáo, tín ngưỡng không những có vai trò tích cực đối với xã hội thông qua các giá trị văn hóa, đạo đức, mà còn góp phần tạo nên sự ổn định xã hội, đoàn kết, khoan dung và phát triển bền vững. Tôn giáo cũng là một trong những lực lượng quan trọng góp phần thúc đẩy, mở rộng tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và tăng cường sự đồng thuận xã hội. Tôn giáo vừa có gia trị tự thân, vừa có giá trị phổ quát, do đó là một trong những nhân tố quan trọng vừa tạo ra, vừa hấp thụ và phát triển hệ giá trị chung của xã hội.

Ý thức rõ về việc cần phát huy những giá trị tốt đẹp của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và sự nghiệp xây dựng đạo đức, con người Việt Nam nói riêng, trong nội dung Nghị quyết 24/NQ-TW, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới mang tính bước ngoặt về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó nêu rõ đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tin Lành là một tôn giáo lớn, đứng hàng thứ 3 trên thế giới về tín đồ và phạm vi hoạt động, nó có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị - xã hội, trong tâm lý, đời sống, phong tục tập quán của nhiều nước. Ở Việt Nam thời gian gần đây, Tin lành đã phát triển với tốc độ nhanh và trở thành một cộng đồng tôn giáo lớn mạnh trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên. Với những giá trị của mình, Tin Lành ngày càng có vai trò, vị trí trong đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để làm rõ những đóng góp của các tôn giáo đối với sự phát triển xã hội, năm 2018, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn: “Giá trị và chức năng của Tin Lành trong vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay” do TS. Vũ Thị Thu Hà làm chủ biên. Cuốn sách được bố cục thành 3 chương, nghiên cứu nhằm góp phần nhìn nhận giá trị của Tin Lành nói chung và việc truyền tải những giá trị đó thông qua các chức năng của Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay nói riêng, đồng thời đưa ra một số kiến nghị giải pháp phát huy giá trị của Tin Lành, góp phần ổn định và đồng thuận xã hội tại những khu vực này.

Chương 1. Giá trị và chức năng của Tin Lành.

Nhóm tác giả tìm hiểu trên 4 giá trị của Tin Lành: giá trị chân lý; giá trị luân lý, đạo đức; giá trị thẩm mỹ; giá trị ý thức hệ và khẳng định hệ giá trị của Tin Lành tồn tại và được dung chứa dưới nhiều hình thức từ Kinh Thánh đến triết lý thần học, từ phương châm hành đạo đến ứng xử hàng ngày được thể hiện khá rõ như kính Chúa, yêu người, bình đẳng, bác ái và có trách nhiệm xã hội. Những giá trị này đều là những giá trị chuẩn được nhiều lớp thế hệ người Việt Nam đón nhận và lấy đó làm phương châm sống, tu dưỡng đạo đức bản thân cũng như thực hành quản trị xã hội. Nghiên cứu cũng chỉ ra 4 chức năng của Tin Lành ở Việt Nam: Chức năng liên kết xã hội; Chức năng hỗ trợ xã hội (từ thiện, cứu trợ và y tế); chức năng điều chỉnh xã hội; Chức năng giáo dục. Qua phân tích cho thấy, những chức năng này có những điểm phù hợp với văn hóa truyền thống, phù hợp với giá trị của thời đại mới, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước rất cần được phát huy nhằm xây dựng đạo đức, lối sống của con người Việt Nam hiện nay.

Chương 2. Thực trạng tác động của các giá trị Tin Lành đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay.

Qua phân tích tác động của các giá trị Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy cộng đồng Tin Lành người dân tộc đã chiếm phần áp đảo (2/3) trong tổng số hơn 1 triệu tín đồ Tin Lành tại Việt Nam. Để lý giải điều ngày, nghiên cứu chỉ ra một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, do thiết chế xã hội thay đổi dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức của người dân tộc thiểu số; Thứ hai, do đối tượng truyền giáo chủ yếu của Tin Lành là đồng bào dân tộc thiểu số, phương pháp truyền giáo của Tin Lành năng động, phù hợp với tâm lý và trình độ nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số; Thứ ba, Tin Lành có những giá trị đạo đức phù hợp với đạo đức, lối sống của người Việt Nam, phù hợp với giá trị của thời đại mới và phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới ở Việt Nam; Thứ tư, do kinh tế khó khăn; Thứ năm, do những thiếu sót, bất cập trong công tác đào tạo cán bộ, công tác quản lý xã hội, quản lý hoạt động của các tổ chức tôn giáo của Nhà nước. Do đó, tác giả khẳng định, Tin Lành đã đáp ứng nhu cầu của một bộ phận người dân tộc thiểu số đang muốn đi tìm “một con đường mới” với mục đích thay đổi cuộc sống. Trên thực tế, Tin Lành đang góp phần đào tạo nên những cá nhân có tư cách đạo đức tốt, những gia đình có tình gắn kết bền chặt và những cộng đồng xã hội có sức đề kháng tốt với những tệ nạn xã hội đang hoành hành hiện nay. Những giá trị này nên được phát huy nhằm ổn định vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra hiện nay đối với việc phát huy giá trị của Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số là phải dựa trên cơ sở giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc Việt Nam, đồng thời áp dụng những giá luân lý, đạo đức tốt đẹp của Tin Lành một cách mềm dẻo, linh hoạt để đáp ứng yêu cầu xây dựng con người Việt Nam trong thời đại mới, phù hợp với cuộc sống và xã hội hiện đại.

Chương 3. Các giải pháp phát huy giá trị Tin Lành nhằm ổn định xã hội vùng đồng bào tộc thiểu số hiện nay.

Qua tìm hiểu thực tế tại địa phương một số tỉnh miền núi và các vùng dân tộc thiểu số, nhóm tác giả nhận thấy mặc dù sau 10 năm thực hiện chủ trương, chính sách mới về Tin lành đã có nhiều kết quả tích cực, đáng ghi nhận, song vẫn còn nhiều tồn tại khúc mắc đối với cộng đồng tín đồ Tin Lành. Trước tình hình đó, nghiên cứu đã đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy giá trị Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay: Thứ nhất, nhà nước cần tạo hành lang pháp luật để Tin Lành phát huy được giá trị của mình vào việc phục vụ xã hội; Thứ hai, để công tác quản lý hoạt động của các tổ chức tôn giáo đạt hiệu quả thực sự, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý trên lĩnh vực tôn giáo phải là những người có trình độ học vấn cao, có am hiểu sâu sắc về vấn đề tôn giáo, kiên định theo chủ trương đường lối của Đảng, nhạy bén trong nhận thức về bản chất của mọi trường hợp phát sinh từ thực tiễn, có khả năng ứng xử linh hoạt trước diễn biến theo chiều hướng phức tạp và biết tiếng dân tộc; Thứ ba, Nhà nước cần tạo ra sự thống nhất giữa các tổ chức chính trị cơ sở có liên quan đến công tác quản lý hoạt động của các tổ chức tôn giáo, cần xây dựng quy chế, chức năng, nhiệm vụ làm công tác tôn giáo của các tổ chức chính trị phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; Đối với Tin Lành, cần chủ động xóa bỏ định kiến, chủ động hòa mình vào xã hội Việt Nam nhiều hơn nữa, chủ động thể hiện những giá trị của mình, đồng thời Hội Thánh Tin Lành cần quan tâm tới việc phát triển một nền thần học hài hòa với bối cảnh Việt Nam, tín đồ Tin Lành cần phải thấm nhuần tinh thần đạo đức trong Kinh Thánh đặc biệt là cần trang bị kiến thức về pháp luật để thực hiện sống đạo trên cơ sở tôn trọng pháp luật để thực sự “sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc”

Với những nội dung trên, hy vọng cuốn sách đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của độc giả về Tin Lành ở vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là giá trị và chức năng của Tin Lành.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Nguyễn Minh Hồng

 


Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: