Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Tên Tự Tên Hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam

29/05/2019


Tác giả :
  • PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh

Năm xuất bản: 2019

Số trang: 737

 

Thời xưa, ở Trung Quốc, tầng lớp quý tộc quan lại, ngoài họ tên chính thức do ông, bà, cha, mẹ đặt cho; khi lớn lên người ta thường đặt tên tự, tên hiệu và biệt hiệu.

Sách Từ nguyên mục Danh tự giải thích: “Tầng lớp quý tộc thời xưa khi mới sinh thì đặt tên (danh), hai mươi tuổi trưởng thành thì làm lễ đội mũ và đặt thêm tên chữ (tự), gọi chung là danh tự. Về sau ngoài tên tự lại đặt hiệu, gọi chung là danh hiệu. Tên (danh) dùng để tự xưng, còn người khác muốn biểu thị sự tôn kính người mình gọi, thường gọi bằng tên tự hoặc tên hiệu”. Mục Tự giải thích: Thiên Khúc lễ thượng sách Lễ ký chép: “Con trai hai mươi tuổi thì đội mũ và đặt tên tự”. Mục Sĩ quan lễ sách Nghi lễ chép: “Đến tuổi đội mũ thì đặt tên tự, là để tỏ ý kính trọng đối với danh”. Thiên Đàn cung thượng sách Lễ ký chép: “Đặt tên (danh) khi còn nhỏ, đặt tự khi đến tuổi đội mũ........ đó là phép của nhà Chu”. Chú thích rằng: “Con người khi đến hai mươi tuổi là đã có đủ tư cách làm cha, khi đó bạn bè cùng lứa không được gọi bằng tên (danh) nữa, cho nên khi đến tuổi đội mũ thì đặt tên tự”.  Như vậy, người đời xưa thường có tên (danh), có tên chữ (tự) và có tên hiệu (hiệu), có người còn có cả biệt hiệu nữa. Việc đặt tên tự, tên hiệu và biệt hiệu ban đầu được sử dụng trong tầng lớp quý tộc; sau này được mở rộng, không chỉ có ở tầng lớp quí tộc mà cả các tầng lớp khác trong xã hội, như: quan lại, nho sĩ, các bậc tao nhân mặc khách, v.v...

Tên (danh) là tên riêng do ông, bà, cha, mẹ đặt cho. Việc đặt tên cũng có những phép tắc nhất định, như thời nhà Chu, cách đặt tên của tầng lớp quý tộc được quy định như sau: trẻ nhỏ sau khi sinh ra được 1 tháng hoặc 100 ngày mới được đặt tên (danh). Thời cổ đại, tên người (danh) thường được đặt đơn giản và người ta lấy can chi đặt làm danh, điều này có thể liên quan đến sự coi trọng thời gian của người đương thời. Sau này, theo sự phát triển của văn hóa và ngôn ngữ văn tự, tên người ngày càng được đặt một cách phong phú hơn. Hoặc có người lại cố tình đặt cho các con những tên xấu cho phù hợp với quan niệm là dễ nuôi và không bị chết yểu.

Tên chữ (tự) thường giải thích và bổ sung cho danh, giữa danh và tự có mối liên hệ chặt chẽ về ý nghĩa, biểu thị sự hô ứng và bổ sung cho danh, nên còn được gọi là biểu tự. Tên tự được đặt khi đã thành niên và thường do cha mẹ hoặc bề trên đặt cho, cũng có khi do chính bản thân tự đặt. Việc đặt tên tự chứng tỏ người đó bắt đầu được mọi người trong xã hội công nhận và tôn trọng. Khi đặt tên tự, người ta thường căn cứ vào danh để chọn từ tương ứng mang ý nghĩa liên quan và phụ trợ cho danh, như Gia Cát Lượng nhà Thục thời Tam quốc tự Khổng Minh (lượng là sáng còn khổng minh là rất sáng), Bao Chửng thời Bắc Tống tự Hy Nhân (chửng là cứu giúp còn hy nhân là mong làm điều nhân), v.v... Có người tự và danh lấy câu chữ trong cổ thư, như Tào Tháo nhà Hán thời Tam quốc tự Mạnh Đức lấy từ câu trong Tuân Tử: “Phù thị chi vị đức tháo” (đó là phẩm hạnh của đức), v.v... Lại có người lấy tên tự ngược hẳn nghĩa với danh, như Chu Hy đời Tống tự Nguyên Hối và Trọng Hối, hiệu Hối Am (hy là sáng còn hối là tối), v.v... Ngoài ra, còn có tiểu tự, tức nhũ danh (tên gọi khi đứa trẻ còn bú mẹ), như Tào Tháo có tiểu tự A Man, Lưu Thiện có tiểu tự A Đẩu, v.v... Danh và tự của người xưa còn được dùng để chỉ quan hệ thứ bậc trong gia tộc, biểu thị anh em trong gia đình và thường có thêm chữ (mạnh) là lớn, trọng là thứ hai, thúc là em, quý là út, v.v...

Tên hiệu (hiệu) là tên gọi được đặt khi người ta đã thực sự trưởng thành, các sĩ phu và văn nhân thời phong kiến thường có tên hiệu hoặc biệt hiệu của mình. Tên hiệu do người sử dụng tự đặt, không hề bị chi phối bởi gia tộc, thứ bậc trong gia đình. Thông qua việc đặt tên hiệu, hoặc biệt hiệu, người ta có thể tự do gửi gắm tư tưởng và tình cảm, biểu lộ chí hướng và hoài bão, thể hiện sở thích của mình trong cuộc sống. Việc đặt tên hiệu hoặc biệt hiệu đôi khi còn để mang dấu ấn địa phương, quê hương bản quán. Một người có thể thay đổi khá nhiều tên hiệu hoặc biệt hiệu, và thông qua sự thay đổi này có thể hiểu được quan niệm sống, tâm tư tình cảm và tư tưởng của người đó trong cuộc sống ở các thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên, trong lịch sử cũng có người chọn hiệu hoặc biệt hiệu chỉ là học đòi làm sang, chứ không hề phù hợp với thân thế và sự nghiệp của họ chút nào.

Nằm trong khu vực ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, ở Việt Nam thời kỳ phong kiến, nhà nho, nhà thơ, nhà văn, hàng ngũ quan lại, ngoài tên (danh) ra cũng đặt tên tự và tên hiệu hoặc biệt hiệu, dựa theo những nguyên tắc của Trung Hoa. Có thể kể như:

Ngô Tuấn (1019 - 1105), người thành Thăng Long (nay là thành phố Hà Nội). Ông vốn họ Ngô, tự Thường Kiệt, sau được ban quốc tính họ Lý nên thường được gọi là Lý Thường Kiệt. Danh và tự của Lý Thường Kiệt hoàn toàn hỗ trợ cho nhau (tuấn là tài hoa hơn người còn kiệt là tài năng xuất chúng).

 Trần Nguyên Đán (1325 - 1390), người xã Tức Mặc lộ Thiên Trường (nay thuộc thành phố Nam Định tỉnh Nam Định). Trần Nguyên Đán lấy hiệu Băng Hồ lấy ý trong câu thơ Đường “Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ” (một tấm lòng trong trắng trong bình ngọc) để thể hiện tấm lòng của mình đối với nhà Trần.

Nguyễn Quý Đức (1648 - 1720), người xã Thiên Mỗ huyện Từ Liêm (nay là phường Đại Mỗ quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội). Sinh thời ông là người sống thuần hậu, với tên là Đức nên ông đã lấy tự Bản Nhân (nhân là gốc của đức), còn có hiệu Đường Hiên.

Ngô Thì  Sĩ (1725 - 1780), người xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Oai trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội). Ngô Thời Sĩ có tên tự Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong Tiên Sinh và đạo hiệu Nhị Thanh Cư Sĩ, để kỷ niệm một thời làm quan Đốc trấn Lạng Sơn nơi có động Nhị Thanh.

Phạm Đình Hổ (1768 - 1839), người xã Đan Loan huyện Đường An trấn Hải Dương (nay thuộc xã Nhân Quyền huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Phạm Đình Hổ hiệu Châu Phong, Đan Sơn và Đông Dã Tiều, tự Tùng Niên và Bỉnh Trực, thường gọi là Tế Đan Loan. Với tên gọi là Hổ (hổ phách) và tự Tùng Niên, chúng ta hiểu thêm về mối quan hệ giữa danh và tự.

Danh, tự và hiệu hay biệt hiệu tuy đều là tên người, nhưng khi sử dụng không thể tùy tiện mà phải tuân theo phép tắc nhất định. Do người xưa rất trọng lễ nghĩa nên cách dùng danh, tự và hiệu cũng rất cầu kỳ. Trong giao tiếp, danh thường dùng trong trường hợp khiêm xưng, hoặc trên gọi dưới, còn những người ngang hàng chỉ gọi danh khi thật thân mật. Khi không được phép mà gọi thẳng danh của người đang nói chuyện là bất lễ, danh của cha mẹ mà nhắc tới là bất kính, còn danh của vua chúa mà nhắc tới là đại nghịch. Tự và hiệu dùng trong trường hợp người dưới gọi người trên, hoặc những người ngang hàng gọi nhau.

Danh, tự và hiệu hoặc biệt hiệu, ngoài việc dùng trong giao tiếp, người ta còn dùng để đặt tên cho các tác phẩm của người đó, như: Chu Văn An đã dùng tên hiệu để đặt cho các tên sách: Tiều Ẩn thi tập, Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập. Trần Nguyên Đán đã dùng tên hiệu để đặt tên sách: Băng Hồ ngọc hác tập. Nguyễn Thiếp đã dùng các tên hiệu để đặt cho các tên sách: Hạnh Am di văn, Lạp Phong văn cảo.

Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam được trình bày thành các mục từ, gồm tên tự, tên hiệu, pháp hiệu, đạo hiệu và biệt hiệu; các mục từ này được đánh số thứ tự và xếp theo vần chữ cái (a, b, c,..). Trong các mục từ, có mục từ chính và mục từ phụ. Mỗi mục từ chính được trình bày theo quy cách thống nhất bao gồm: ảnh (nếu có); tên tự; tên hiệu hoặc biệt hiệu; tên thường gọi; ngày tháng năm sinh; các tên tự, tên hiệu và tên gọi khác; quê quán (có quy đổi theo địa danh hiện nay khi tác giả biết được); thân thế, sự nghiệp và tác phẩm; mục tìm đọc là giới thiệu sách về tác gia và tác phẩm được xuất bản bằng tiếng Việt. Khi một người có nhiều tên tự hoặc nhiều tên hiệu, chúng tôi lấy một tên tự (hoặc một tên hiệu) thường được nhiều người biết đến làm mục từ chính còn các tên khác thì đưa vào mục từ phụ và được hướng dẫn xem mục từ chính.

Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam còn cung cấp cho độc giả hệ thống những bảng tra, như: Bảng tra tên tự tên hiệu (chữ Việt và chữ Hán), Bảng tra tên thường gọi, Bảng tra tác phẩm Hán NômBảng tra địa danh của các tác gia Hán Nôm được giới thiệu trong tập sách này. Các số ghi kèm theo mỗi đơn vị là số thứ tự ghi trong sách theo tên tự, tên hiệu mà tác giả biên soạn để tiện cho việc tra cứu khi cần thiết.

Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam tái bản lần này, tác giả mới đưa được 1.137 tên tự, tên hiệu, đạo hiệu và biệt hiệu khác nhau của 791 tác gia Hán Nôm. Các tên tự, tên hiệu, đạo hiệu và biệt hiệu được lựa chọn lần này chủ yếu lấy ở thư tịch Hán Nôm, văn khắc Hán Nôm hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, còn thư tịch Hán Nôm ở các địa phương cũng như các loại hình văn bản khác, tác giả chưa có điều kiện đi sâu. Hy vọng vào một thời điểm thích hợp, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam sẽ tiếp tục lựa chọn bổ sung một cách đầy đủ hơn. Việc sưu tầm tên tự tên hiệu của các tác gia Hán Nôm Việt Nam tựa như mò kim đáy biển, nhưng chắc chắn sẽ tiếp tục được sưu tầm và bổ sung.

Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam là một loại sách công cụ, trong quá trình biên soạn thực sự gặp nhiều khó khăn, tác giả đã cố gắng ở mức độ cao nhất, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong được độc giả chỉ giáo để có thể bổ sung và sửa chữa được tốt hơn.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

 

TS. Nguyễn Xuân Khoát


Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: