Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam sau 30 Đổi mới: Thực trạng và giải pháp

07/10/2019


Cơ quan soạn thảo: Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật

Tác giả :
  • GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn

Năm xuất bản: 2018

Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước nói chung và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nói riêng ở Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh doanh và năng suất của doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên xu hướng giảm hiệu quả và năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nước kể từ cuối năm 2000 trở lại đây đã phản ánh sự chậm lại đáng kể của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam.

Cuốn sách “Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam sau 30 năm Đổi mới: Thực trạng và giải pháp” do GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn chủ biên, được Nhà xuất bản Xuất bản Chính trị quốc gia sự thật phát hành tháng 1/2018. Nội dung cuốn sách nhằm phân tích những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình sắp xếp, đổi  mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước kể từ năm 1986 trở lại đây. Đồng thời, chỉ ra những cơ hội và thách thức mà khối doanh nghiệp nhà nước phải đối mặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Ngoài phần Mở đầu, kết luận, cuốn sách được cấu trúc thành 3 chương như sau: Chương 1: Kinh nghiệm quốc tế về cải cách doanh nghiệp nhà nước và những bài học cho Việt Nam; Chương 2: Thực trạng cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1986-2015; Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn 2016-2025.

Tại chương 1 bạn đọc sẽ được tiếp cận với 03 vấn đề chính: Một là, tổng quan về tình hình cải cách doanh nghiệp nhà nước ở một số nước như Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên bang Nga. Các tác giả cho rằng ở hầu hết các nước trên thế giới, doanh nghiệp nhà nước đều có các vấn đề tương tự nhau, nổi lên là sự can thiệp chính trị, thiếu minh bạch. Doanh nghiệp nhà nước chịu gánh nặng về các nhu cầu công cộng trong khi vẫn phải đeo đuổi mục đích kinh doanh. Ví dụ như ở Indonesia, một trong những vấn đề của doanh nghiệp nhà nước là xuất phát từ các nhà chính trị và nền  hành chính đôi lúc đã không thực hiện công việc theo hướng lợi ích chung của toàn xã hội mà vận hành theo các lợi ích cá nhân như củng cố quyền lực chính trị của họ. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, phát triển các tập đoàn lớn có sự hậu thuẫn của chính phủ cũng gặp vấn đề khi quy mô của các doanh nghiệp trở lên quá lớn thì hiệu suất của nó lại giảm đi. Hay cuộc khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra ở Indonesia và Hàn Quốc năm 1997-1998 đã lộ rõ những yếu kém của doanh nghiệp nhà nước khi không có khả năng giải trình và thiếu giám sát của tổ chức tài chính. Các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước ở Liên bang Nga thường có định hướng hẹp trong việc chọn các đơn vị thực hiện hợp đồng do đó thường hình thành nên những nhóm lợi ích, tạo điều kiện để nảy sinh tham nhũng. Một khiếm khuyết nữa của hệ thống tư bản nhà nước nói chung ở Liên bang Nga hiện nay chính là tạo cơ hội cho “chủ nghĩa thân hữu” và nhóm lợi ích phát triển, hình thành nên quan hệ mật thiết, gắn bó giữa giới chính trị và các tài phiệt…

Hai là, Kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp nhà nước ở các nước. Đây là phần các tác giả định vị vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường; cung cấp các thông tin liên quan đến cải cách cơ cấu sở hữu, tạo nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước; Các thay đổi trong cách thức quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước và những thay đổi trong quản trị doanh nghiệp và giám sát…

Thứ ba, bài học gợi mở cho Việt Nam về việc cải cách doanh nghiệp nhà nước đến năm 2025. Tại phần này độc giả sẽ tiếp cận với các thông tin về việc xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp nhà nước; Cải cách sở hữu của doanh nghiệp nhà nước; Quản lý/quản trị doanh nghiệp đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Chương 2 đề cập đến những vấn đề như sau: (1). Khái niệm kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; (2). Thực trạng cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ sau Đổi mới (năm 1986) đến nay; (3). Hiệu quả đóng góp của doanh nghiệp nhà nước với kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2015). (4). Nguyên nhân doanh nghiệp nhà nước đóng góp chưa tương xứng với nguồn lực ưu đãi. (5). Tóm tắt kết quả cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ đổi mới đến nay. Qua đó, các tác giả đã phác họa được khá rõ nét về hiện trạng những yếu kém còn tồn tại trong cải cách doanh nghiệp nhà nước, nêu rõ những nguyên nhân, bất cập trong cải cách doanh nghiệp và những kết quả tích cực trong cải cách doanh nghiệp nhà nước.

Chương 3 luận bàn về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến năm 2025. Tại phần này độc giả sẽ được tiếp cận với các thông tin liên quan đến vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; Quan điểm định hướng về cải cách doanh nghiệp nhà nước; Các bài học kinh nghiệm thành công và thất bại từ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), công ty cổ  phần Dược Hâu Giang, tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines). Các tác giả cho rằng, để cải cách doanh nghiệp nhà nước thành công cần  phải đổi mới tư duy và nhận thức về doanh nghiệp nhà nướ trong bối cảnh hội nhập quốc tế; Thúc đẩy cải cách thể chế đảm bảo khuôn khổ pháp lý có hiệu quả cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong môi trường kinh doanh bình đẳng; Nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và quản lý nhà nước; Áp dụng đầy đủ khuôn khổ quản trị doanh nghiệp hiện đại cho doanh nghiệp nhà nước. Chú trọng đặc biệt tới chiến lược xây dựng, quảng bá và phát triển “thương hiệu” doanh nghiệp dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa chất lượng sản phẩm theo chuẩn quốc tế với chiến lược văn hóa kinh doanh cũng như triết lý kinh doanh của doanh nghiệp “kinh doanh gắn liền với thực hiện trách nhiệm xã hội và thân thiện với môi trường”.

Hy vọng với các nội dung như trên, cuốn sách sẽ trở thành tài liệu tham khảo bổ ích với nhiều độc giả.

Xin trân trọng giới thiệu./.

Phạm Vĩnh Hà

 


Các tin đã đưa ngày: