Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Điều chỉnh quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước GMS là thành viên của ASEAN trong bối cảnh mới

23/10/2019


Tác giả :
  • PGS.TS. Nguyễn Duy Dũng (chủ biên)
  • ThS. Lê Hoàng Anh
  • TS. Phan Cao Nhật Anh
  • TS. Dương Văn Huy

Năm xuất bản: 2018

Số trang: 208

 

Được biết đến là khu vực giàu tiềm năng nhưng còn nghèo nàn và gặp nhiều khó khăn, song chỉ sau mấy thập niên ngắn ngủi, các nước tiểu vùng Sông Mekong  mở rộng (Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan và tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc- GMS) đã trở thành địa điểm khá hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Sự tham gia đầy đủ của các quốc gia trong khu vực ở hầu hết các lĩnh vực, nhất là trong hợp tác kinh tế cho thấy những lợi ích mang lại cho các nước là rất đáng kể. Với phương châm: "Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế", quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong những năm qua không ngừng được củng cố và mở rộng, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Do vậy việc nghiên cứu các mối quan hệ hợp tác nhất là linh vực kinh tế giữa Việt Nam với các nước GMS là thành viên của ASEAN (Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan - CLMT) nói chung, từng quốc gia nói riêng luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của các học giả trong nước và quốc tế.

Mặc dù việt Nam đã luôn coi trọng quan hệ với các nước CLMT, nhất là trong các khuôn khổ GMS cũng như hợp tác song phương, song cho đến nay 5 nước vẫn chưa có chiến lược hợp tác chung với nhau. Hơn thế nữa, Việt Nam chưa nghiên cứu xây dựng chiến lược tổng thể hợp tác với cả 4 nước với tư cách là một nhóm nước mà chúng ta là một thành viên trước bối cảnh quốc tế, khu vực và trong các quốc gia luôn biến động khó lường. Trong khi đó chiến lược hợp tác giữa các nước Campuchia, Lào, Việt Nam, Mianmar, Thái Lan (CLVMT) nói chung, kinh tế nói riêng, trong đó có Việt Nam vẫn chưa có sự điều chỉnh phù hợp. Trước thực tế đó, năm 2018 Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn: “Điều chỉnh quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước GMS là thành viên của ASEAN trong bối cảnh mới” do PGS.TS. Nguyễn Duy Dũng làm chủ biên. Cuốn sách nhằm làm rõ những yếu tố tác động tới mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma và Thái Lan đồng thời xác định phương hướng và giải pháp để thực hiện có hiệu quả khi thực hiện điều chỉnh hợp tác kinh tế của Việt Nam với CLMT vì sự phát triển chung của GMS và mỗi quốc gia. Cuốn sách gồm 3 chương:

Chương I. Bối cảnh quốc tế mới tác động đến điều chỉnh quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước GMS – thành viên của ASEAN

Cùng với việc phân tích những vấn đề toàn cầu và khu vực, nhóm tác giả nhận diện một số vấn đề nổi bật trong khu vực ASEAN và GMS hiện nay: (i) Thể chế của các quốc gia riêng biệt cũng như của cả khối ASEAN đang là thách thức lớn; (ii) Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế chính trị xã hội của các nước trong ASEAN và GMS; (iii) Các vấn đề xã hội, bình đẳng, dân chủ, xung đột sắc tộc tôn giáo và ở một số nước trong khối… vẫn còn nhiều vấn đề nan giải; (iv) Sự phụ thuộc bên ngoài chưa giảm thậm chí đang có xu hướng gia tăng ở nhiều quốc gia; (v) Những vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống ở các nước GMS. Trên cơ sở phân tích một số tác động trước bối cảnh mới đến hợp tác GMS, nhóm nghiên cứu cho rằng chính những nhân tố này đã tác động mạnh mẽ đến sự hợp tác của các nước nói chung, lĩnh vực kinh tế nói riêng, trong đó có Việt Nam.

Chương II. Điều chỉnh quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam với nước Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan (CLMT) và những vấn đề đặt ra

Đánh giá thực trạng hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước CLMT thuộc GMS, nhóm tác giả nhận định các bên đều có lợi khi khai thác được các thế mạnh của nhau: Trong quan hệ hợp tác Việt Nam- Campuchia, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ Campuchia các mặt hàng cao su, hạt điều, gỗ, ngô, nguyên liệu thuốc lá, ngược lại Việt Nam cũng luôn ở vị trí xuất siêu so với Campuchia trong và tăng liên tục trong nhiều năm; Trong hợp tác thương mại với Lào, trao đổi thương mại giữa hai nước tăng gấp 10 lần từ 0,132 tỷ USD lên đến 1,286 tỷ USD (giai đoạn 2001-2014); Đối với Thái Lan, để đạt được mục tiêu đưa kim ngạch thương mại hai chiều đạt 20 tỷ USD trong năm 2020, Việt Nam và Thái Lan cam kết cùng tích cực triển khai các biện pháp nhằm phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương và đa phương; Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Myanmar trong những năm gần đây ngày càng phát triển, tốc độ buôn bán hai chiều đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 24%/năm trong giai đoạn 2001-2014. Bên cạnh những thuận lợi trong hợp tác giữa Việt Nam với các nước GMS, nghiên cứu nhận thấy có một số vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện các nội dung điều chỉnh hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước này: (i) Tác động của những yếu tố bất ổn và rủi ro đối với việc thực hiện hợp tác; (ii) Vấn đề biến đổi khí hậu, môi trường, nguồn nước và dân số; (iii) Vấn đề xác định được hướng chủ yếu và ưu tiên trong điều chỉnh chính sách hợp tác nói chung, Việt Nam nói riêng; (iv) Vấn đề nguồn lực cho việc thực hiện các nội dung hợp tác kinh tế. Trước thực trạng đó, nghiên cứu đã tập trung phân tích các nội dung điều chỉnh hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với CLMT trong khuôn khổ GMS và cho thấy sự cần thiết trong việc phối hợp điều chỉnh cả bên trong và bên ngoài: Thứ nhất, điều chỉnh hợp tác kinh tế giữa việt Nam với các nước GMS từ quan hệ thương mại sang mở rộng đầu tư ở các ngành, lĩnh vực Việt Nam có lợi thế; Thứ hai, điều chỉnh các hoạt động đầu tư gắn với hỗ trợ phát triển, đảm bảo an sinh xã hội, môi trường và phát triển bền vững; Thứ ba, điều chỉnh quan hệ hợp tác trong xây dựng và phát triển, kết nối hạ tầng, (cứng và mềm), phát triển nguồn nhân lực với các nước GMS; Thứ tư, điều chỉnh phạm vi hợp tác (mở rộng sang lĩnh vực phát triển du lịch, khai thác tiềm năng về di sản…) các hoạt động gắn liền với viện trợ.

Chương III. Định hướng, giải pháp điều chỉnh quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước GMS – là thành viên của ASEAN trong giai đoạn 2015-2025

Qua phân tích cách thức tham gia hợp tác kinh tế Tiểu vùng của Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan cũng như khung chiến lược mới của GMS và khung hành động của Việt Nam trong hợp tác kinh tế với các nước GMS, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu trong điều chỉnh hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước GMS – là thành viên của ASEAN: Thứ nhất, tư duy lại, thống nhất nhận thức và sự phối hợp trong hợp tác song phương, đa phương nhất là với CLMT trong khuôn khổ GMS; Thứ hai, giải pháp tập trung vào các lĩnh vực, chương trình ưu tiên cụ thể, thống nhất và phối hợp triển khai các nội dung hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước GMS; Thứ ba, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam; Thứ tư, đảm bảo kỷ cương, minh bạch  trong điều hành và tuân thủ theo pháp luật quốc tế của Việt Nam đối với hợp tác kinh tế GMS. Cùng với bốn giải pháp trên là một số khuyến nghị nhằm phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với CLMT hiện nay và trong thời gian tới.

Đây là công trình nghiên cứu công phu, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu các mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước trong khu vực, đặc biệt là nghiên cứu những điều chỉnh về quan hệ hợp tác kinh tế với các nước GMS là thành viên của ASEAN. Hy vọng cuốn sách là nguồn tài liệu hữu ích dành cho độc giả quan tâm, đặc biết là những nhà hoạch định và xây dựng chính sách kinh tế và hợp tác quốc tế trong giai đoạn tới.

Xin trân trọng giới thiệu!

 

 Nguyễn Minh Hồng


Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: