Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Chiến lược RTA của các nước Đông Á và kinh nghiệm cho Việt Nam

20/11/2019


Tác giả :
  • TS. Lê Thị Ái Lâm (Đồng chủ biên)
  • ThS. Nguyễn Thị Hồng Nga (Đồng chủ biên)
  • ThS. Nguyễn Thị Hiền
  • ThS. Chu Phương Quỳnh

Năm xuất bản: 2018

Số trang: 196

 

 

Trong xu hướng hình thành và phát triển RTA trên thế giới, Đông Á được đánh giá là khu vực tham gia và ủng hộ các hiệp định khu vực tích cực nhất. Mặc dù khởi động chậm hơn so với làn sóng RTA ở các quốc gia châu Mỹ, châu Âu và châu Phi, song Đông Á lại thể hiện sự bứt phá ngoạn mục của mình trong nỗ lực tham gia RTA. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, mặc dù cùng hòa chung vào làn sóng RTA ở khu vực nhưng các quốc gia Đông Á lại có những chiến lược RTA khác nhau. Đối với Việt Nam, quan điểm hội nhập vào RTA là tự do hóa thương mại đạt được thông qua các hiệp định có ý nghĩa bổ sung cho những nỗ lực tự do hóa trong WTO trên phạm vi toàn cầu tuy nhiên, đến nay Việt Nam vẫn chưa có một chiến lược rõ ràng nào đối với quá trình hội nhập các hiệp ước. Xuất phát từ thực tế đó, năm 2018, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn: “Chiến lược RTA của các nước Đông Á và kinh nghiệm cho Việt Nam” do Lê Thị Ái Lâm và Nguyễn Thị Hồng Nga đồng chủ biên. Qua việc tìm hiểu, phân tích và so sánh các chiến lược, chính sách RTA của các nước Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Indonesia) để từ đó nhìn nhận những thách thức của Việt Nam trong thời gian tới đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình tham gia RTA của Việt Nam trong thời gian tới. Cuốn sách gồm 7 chương:

Chương 1. Khái niệm, chiến lược và xu thế phát triển RTA ở Đông Á

Trên cơ sở khái niệm RTA cả về quan niệm truyền thống và quan niệm mới, nhóm tác giả đã đi sâu tìm hiểu về chiến lược RTA của một quốc gia và cho rằng đa số đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động như: bối cảnh kinh tế trong nước, vị thế quan hệ đối ngoại, sự thỏa thuận trong lọi ích nhóm và phe phái chính trị. Bàn về xu hướng phát triển RTA ở Đông Á, nghiên cứu cho rằng, trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI đang chuyển động ở cả hai mặt bao gồm: (i) hoạt động giao thương, đầu tư nhộn nhịp giúp các nước ngày càng phụ thuộc vào nhau; (ii) các cơ chế hợp tác mà trọng tâm là FTA đang được thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ hơn. Trong thời gian tới, FTA với tự do mậu dịch và các kênh hơp tác kinh tế như chuyển giao công nghệ, thuận lợi hóa và hiệu suất hóa hoạt động mậu dịch vẫn là những nội dung chủ đạo của cộng đồng kinh tế Đông Á.

Chương 2. Chiến lược tham gia các hiệp định thương mại khu vực của Nhật Bản

Năm 1999, Nhật bắt đầu thỏa thuận cùng nghiên cứu khả năng hiện thức hóa một FTA song phương Nhật Bản – Hàn Quốc, sau 15 năm, nước này đã ký kết 24 FTA với các quốc gia châu Á và châu Âu với hai tiêu chí cơ bản: (i) đẩy mạnh tự do hóa thương mại ở một phạm vi rộng lớn bên cạnh việc loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan trên cơ sở lựa chọn đối tác FTA là những nước tiên tiến có khả năng đáp ứng được các tiêu chuẩn cao của những hiệp định nay; (ii) thiết lập cơ cấu phân công lao động quốc tế mới ở Đông Á, trong đó Nhật Bản đứng ở vị trí cao nhất, điều này giúp Nhật Bản có thể tham gia hợp tác kinh tế toàn diện với các đối tác của mình, tạo đà thúc đẩy cho quá trình cải cách cơ cấu đang diễn ra ở Nhật Bản. Qua phân tích một số đặc trưng chiến lược RTA của Nhật Bản, nhóm tác giả đưa ra một số nhận định và đánh giá chiến lược RTA/FTA của Nhật Bản ở cả phương diện kinh tếphương diện an ninh, chính trị, xã hội và nhận thấy việc tham gia RTA/FTA của Nhật Bản dường như chỉ nhằm mục đích tự vệ, tránh bị gạt ra ngoài chứ không dựa trên một chiến lược chủ động nào. Thêm vào đó, do có những khó khăn xuất phát từ sự khác biệt về lập trường an ninh quốc gia giữa các nước trong khu vực nên việc hình thành một RTA ở Đông Á đối với Nhật Bản rất khó khăn, đặc biệt phải đổi mặt với những thách thức trong lịch sử - trường hợp Hàn Quốc và Trung Quốc.

Chương 3. Chiến lược tham gia các hiệp định thương mại khu vực của Trung Quốc

Mục tiêu của các RTA Trung Quốc là sử dụng các RTA để tiếp tục mở cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài và tăng tốc độ cải cách trong nước. Nhóm tác giả nhận định, các động lực thúc đẩy cũng như mục tiêu của các RTA Trung Quốc bao gồm: mở rộng thị trường, tăng cường sự tham gia vào các mạng sản xuất toàn cầu, đẩy mạnh cải cách trong nước, khắc phục các bất lợi trong WTO và phát triển những quy tắc thương mại toàn cầu mới. Cũng theo đánh giá của nhóm tác giả, nhìn chung, chiến lược và các chính sách RTA/FTA của Trung Quốc chưa thực sự rõ ràng, thông tin về các cuộc đàm phán vẫn còn thiếu do chính phủ không bắt buộc các đơn vị sự nghiệp báo cáo về tác động của FTA. Do những cân nhắc về chính trị mà đặc biệt là cơ chế hoạch định chính sách dễ bị các nhóm lợi ích tác động với nhiều mặt hàng được xếp vào danh mục nhạy cảm nên chất lượng các FTA của Trung Quốc nhìn chung khá thấp, thiếu vắng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt và tồn tại nhiều quy tắc không chính thức.

Chương 4. Chiến lược tham gia các hiệp định thương mại khu vực của Hàn Quốc

Với mục tiêu trong chiến lược FTA của Hàn Quốc là tối đa hóa các “tác động mang tính động lực” bao gồm việc mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và túc đẩy năng lực cạnh tranh trong nước, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra một số đặc điểm chính của RTA/FTA của Hàn Quốc: (i) đa dạng về địa lý và hình thái; (ii) đàm phán nhanh và chủ động; (iii) phạm vi điều chỉnh sâu, rộng và tự do hóa cao; (iv) các chủ thể tham gia và quy trình đàm phán FTA Hàn Quốc, trên cơ sở đó nhận định và đưa ra một số đánh giá chiến lược RTA của Hàn Quốc trên phương diện kinh tế, an ninh, chính trị và xã hội.

Chương 5. Chiến lược tham gia các hiệp định thương mại khu vực của Indonesia

Theo phân tích của nhóm nghiên cứu, chính phủ Indonesia thiếu những mục tiêu rõ ràng có tính hệ thống khi tham gia đàm phán FTA song phương với các đối tác thương mại chủ chốt vì bấy lâu nay chỉ thụ động ứng phó với các lời đề nghị FTA song phương từ các đối tác thương mại chính này. Tuy nhiên, khi đánh giá về chiến lược RTA của Indonesia trên phương diện kinh tế, chính trị, an ninh và đối ngoại, nhóm tác giả cho lại rằng, Indonisia đã và đang thu hút được những kết quả nhất định đối với nền kinh tế như mức độ hội nhập của nền kinh tế tăng lên thông qua quá trình cắt giảm các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, tăng áp lực cho cải cách trong nước tạo ra hiệu ứng chính trị, an ninh, đối ngoại tốt cho việc gia tăng vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Chương 6. So sánh chiến lược tham gia RTA của Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Indonesia và bài học rút ra

Điểm nhấn của cuốn sách là tác giả đã so sánh về các chiến lược tham gia RTA của 4 nước (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Indonesia), qua đó Hàn Quốc nổi lên với chiến lược FTA rõ ràng minh bạch cùng lộ trình phát triển theo thời gian so với 3 nước còn lại. Về mục tiêu, động lực đưa ra trong chiến lược RTA/FTA của các nước nhóm nghiên cứu nhận thấy có nhiều điểm chung như: cùng hướng tới các mục tiêu xuất khẩu, đầu tư, cải cách trong nước. Tuy nhiên với mục tiêu chính trị và đối ngoại, mỗi nước đều có mục tiêu riêng và chính sự khác biệt này, nhóm tác giả cho rằng đó là do tham vọng chính trị trên trường quốc tế và khu vực rõ ràng của mỗi nước. Nếu như Nhật Bản và Hàn Quốc tập trung nhiều hơn vào thương mại dịch vụ và chính sách đầu tư cũng như bảo hộ mạnh hơn cho khu vực nông nghiệp thì Trung Quốc lại có xu hướng sử dụng các RTA/FTA như là hình thức khuyến khích phát triển các quan hệ đối tác kinh tế và chính trị.

Chương 7. Thách thức đối với Việt Nam khi tham gia RTA và một số gợi ý từ bài học của các nước Đông Á

Bên cạnh những thành tựu đạt được khi tham gia FTA/RTA, nghiên cứu đã chỉ ra không ít thách thức đối với Việt Nam như vấn đề về thể chế luật pháp, giảm thu ngân sách, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa, rào cản thương mại tinh vi, đặc biệt là cách thức thức trong giai đoạn xây dựng, đưa ra chiến lược RTA cũng như khả năng đàm phán để đạt mục tiêu là khá nhiều. Trước những khó khăn đó, nhóm tác giả đưa ra một số gợi mở: Thứ nhất, Việt Nam cần lưu ý việc đưa ra một chính sách RTA/FTA theo các giai đoạn lộ trình, đặc biệt có nghiên cứu đầy đủ các mục tiêu đối với với các RTA cụ thể; Thứ hai, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc đưa ra các chiến lược đàm phán rõ ràng theo ba giai đoạn trước, trong và sau đàm phán; Thứ ba, cần xác định rõ không phải ký kết càng nhiều FTA càng tốt, mà thay vào đó phải có sự lựa chọn, chắt lọc đối tác FTA một cách chiến lược, tinh tế; Thứ tư, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có hiểu biết về thương mại quốc tế và khả năng tham gia đàm phán hiệu quả; Thứ năm, cần xác định rõ mục tiêu chính trị, đối ngoại đi kèm với chiến lược FTA.

Với những nội dung trên, hy vọng cuốn sách là nguồn tài liệu hữu ích dành cho độc giả quan tâm.

Xin trân trọng giới thiệu!

Nguyễn Minh Hồng

 


Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: