Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Tri thức tộc người trong ứng phó với biến đổi khí hậu của người Kinh và Khơ – Me ở tỉnh Cà Mau

24/10/2020


Tác giả :
  • TS. Nguyễn Công Thảo (Chủ biên)
  • TS. Nguyễn Thẩm Thu Hà
  • CN. Tạ Hữu Dực
  • TS. Phạm Thị Cẩm Vân
  • ThS. Lý Cẩm Tú

Năm xuất bản: 2019

Số trang: 276

 

 

Trong suốt 30 năm vừa qua, mực nước dọc theo bờ biền Việt  Nam có dấu hiệu gia tăng, ước tính đến năm 2050, mực nước biển sẽ tăng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ tăng thêm 1m. Số các trận bão mà Việt Nam phải gánh chịu đã tăng lên từ những năm 1950 đến những năm 1980, nhưng lại giảm đi trong những năm 1990, bên cạnh đó những thay đổi về hình thái mưa sẽ phức tạp theo mùa và theo vùng cụ thể. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, các vùng ven biển cũng sẽ phải hứng chịu các cơn bão có cường độ lớn hơn, đe dọa nhiều hơn đến tính mạng người dân, sinh kế, cơ sở hạ tầng và sản xuất nông nghiệp. So với cả nước, Cà Mau là một trong những tỉnh đã, đang và sẽ phải chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu bởi địa hình thấp so với mặt nước biển và là tỉnh duy nhất chịu tác động của cả hai chế độ nhật triều và bán nhật triều trong khi có khoảng 254km đường bờ biển, bởi vậy Cà Mau được dự báo chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nặng nề khi mực nước biển dâng.

Tại địa bàn Cà Mau, người Kinh và người Khơ Me là hai tộc người chính, có nhiều đặc điểm văn hóa, hệ sinh kế, lịch sử tụ cư khác nhau do đó họ cũng có những kinh nghiệm khác nhau trong cuộc sống cũng như ứng phó với môi trường thiên nhiên, đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu. Bởi vậy, việc kế thừa tri thức của người dân là việc làm cần thiết, giúp tận dụng nguồn lực tại chỗ và góp phần giúp quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu hiệu quả và bền vững hơn. Điều đó đặc biệt cần thiết trong bối cảnh mỗi tộc người thường có hệ sinh kế, mạng lưới xã hội, kinh nghiệm, tri thức và chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu khác nhau. Để tìm hiểu rõ hơn về cách ứng phó của hai tộc người Kinh và Khơ Me ở vùng đất này đối với vấn đề biến đổi khí hậu, từ đó có thể tạo luận cứ giúp cho việc xây dựng các chiến lược ứng phó cụ thẻ cho từng nhóm tộc người, từng địa phương ở Cà Mau nói riêng và ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, năm 2019, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn sách với tựa để: “Tri thức tộc người trong ứng phó với biến đổi khí hậu của người Kinh và Khơ – Me ở tỉnh Cà Mau” do Nguyễn Công Thảo làm chủ biên.

Ngoài phần Lời nói đầu, Mở đầu và Kết luân, nội dung cuốn sách được chia thành 4 chương:

Chương 1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng biến đổi khí hậu của điểm nghiên cứu

Khái quát đặc điểm tự nhiên, sinh kế của tỉnh Cà Mau, trong đó nhấn mạnh đến hai điểm nghiên cứu là xã Khánh Hưng thuộc huyện Trần Văn Thời và xã Khánh Hội thuộc huyện U Minh. Qua việc tham khảo và tổng hợp số liệu từ nhiều báo cáo của các tổ chức và cơ quan có uy tín trong và ngoài nước liên quan đến diện tích lúa, diện tích gieo trồng, năng suất lúa, diện tích hoa màu, tổng đàn gia súc- gia cầm… từ năm 2012 đến năm 2016, nghiên cứu chỉ ra rằng, những diễn biến thời tiết ở cả hai huyện này càng càng trở nên khó dự báo, lượng mưa trung bình năm có xu hướng giảm nhưng số ngày mưa lại tăng, nhiệt độ trung bình năm sau luôn cao hơn năm trước và số ngày nắng nóng bất thường trở nên phổ biến hơn. Bên cạnh đó, tình trạng xâm nhập mặn ở hai huyện này còn có mối liên hệ với sự xuống cấp của hệ thống đê bao, cống ngăn mặn, quá trình chuyển đổi đất trồng lúa sang nuôi tôm một cách ồ ạt, không theo đúng quy hoạch cũng gây ra các vấn đề về suy thoái môi trường đất. Đứng trước những thách thức ấy, người Kinh và Khơ-me đã buộc phải đưa ra một số thích ứng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ quá trình BĐKH. Điều đó thể hiện qua việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; điều chỉnh lịch thời vụ, kỹ thuật canh tác, kỹ thuật chăm sóc cũng như cách tổ chức cuộc sống của mình.

Chương 2. Tri thức tộc người trong ứng phó với biến đổi khí hậu qua các hoạt động sinh kế

Nhìn vào cấp độ cộng đồng, nhóm tác giả đã cho người đọc thấy được cách người dân vận dụng tri thức tộc người để đưa ra sự thay đổi trong trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt thủy hải sản đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng cũng như khác biệt giữa người Khơ –me và người Kinh. Dưới phương diện chăn nuôi, có 4 xu thế ứng phó phổ biến ở hai xã Khánh Hưng và Khánh Hội: (i) Han chế chăn nuôi gia súc, gia cầm; (ii) phát triển nuôi cá đồng xen canh trên đất ruộng; (iii) Phát triển nuôi tôm xen canh trên đất lúa; (iv) chuyên canh nuôi tôm và một số loài hải sản khác trên đất lúa. Trong đó 2 biện pháp đầu diễn ra khá tương đồng còn 2 biện pháp sau lại có sự khác biệt, nguyên nhân được cho là xuất phát từ nguồn vốn tài chính và tập quán sinh hoạt. Trong khi hầu hết người Khơ – me vẫn duy trì làm ruộng, sự thích ứng của họ mang tính từng phần, theo mùa thì ở một bộ phận người Kinh đã có sự chuyển đổi hoàn toàn từ sản xuất lúa sang chuyên canh, nuôi trồng hải sản. Dưới phương diện đánh bắt thủy hải sản, phương pháp tìm kiếm các ngư trường đánh bắt mới, xa bờ hơn được thực hiện chủ yếu bởi người Kinh, còn người Khơ – me tập trung đánh bắt ven bờ trong bối cảnh phải cạnh tranh mạnh mẽ từ các chủ thuyền người Kinh, những người đánh bắt trái phép theo quy định của tỉnh. Trước thực tế suy giảm nguồn hải sản, cả người Kinh và người Khơ – me cùng thực hành các phương pháp khai thác mang tính tận diệt, dẫn đến làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, hệ sinh thái và dẫn đến cạn kiệt tài nguyên. Có thế nói đối với hoạt động đánh bắt thủy sản, người Kinh chịu nhiều tác động hơn từ quá trình BĐKH so với người Khơ – me.

Chương 3. Tri thức tộc người trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu qua các sinh hoạt trong đời sống

Tập trung phân tích tri thức tộc người trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu qua các sinh hoạt trong đời sống như: xây dựng nhà cửa, sử dụng nguồn nước sinh hoạt, đi lại và vận chuyển, một số lĩnh vực liên quan đến chăm sóc sức khỏe và nghi lễ cộng đồng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, so với người Kinh, sự thích ứng với BĐKH của người Khơ – me dưới phương diện nhà ở mang tính bị động hơn do hạn chế về nguồn lực tài chính cũng như yếu tố về văn hóa. Tập quán di cư theo mùa vụ phổ biến ở nhiều hộ người Khơ-me nên nhà cửa của họ thường có quy mô nhỏ, xây dựng khá sơ sài và điều này được người Kinh cho là mang tính chất tạm bợ, ngược lại theo người Khơ-me, chùa mới là nơi nhận được sự quan tâm đặc biệt của cả cộng đồng. Điều này lý giải vì sao đa số chùa của người Khơ-me ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long thường có quy mô lớn và trang trí đẹp. Đối với người Kinh, nhà có vai trò hết sức quan trọng, là một trong ba việc lớn của một đời người, bởi vậy, khi làm nhà, họ cân nhắc kỹ về tính bền vững, khả năng thích ứng với điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên. Đối với nước sinh hoạt ở hai xã Khánh Hưng và Khánh Hội vẫn mang tính bị động, dựa trên nguồn lực tại chỗ. Nhìn chung, các hộ người Kinh có nhiều phương án để trữ nước hơn so với người Khơ – me, hầu hết các nhà mới hiện nay của người Kinh đều xây bể chứa nước ngầm với khối lượng tối thiểu 5m3 , trong khi đó, người Khơ – me ở Kênh Đứng B chủ yếu vẫn là chưa nước trong lu, bình. Việc đào giếng khoan sâu hơn để có nguồn nước đảm bảo hơn cũng đã được nhiều hộ dân ở cả người Kinh và Khơ – me thực hiện và tính đến, tuy nhiên do hạn chế về nguồn lực tài chính nên việc này thực sự là vấn đề khó khăn đối với các hộ nghèo người Khơ-me. Theo ghi nhận của nhiều chuyên gia thì tình trạng khoan giếng tràn lan càng có tác động tiêu cực đến nền địa chất cũng như nguồn nước ngầm trong tương lai. Các vấn đề còn lại như đi lại, vận chuyển và chăm sóc sức khỏe hầu như không có sự khác biệt giữa người Kinh và người Khơ-me. Chính sự phát triển và đầu tư của Nhà nước đối với mạng lưới y tế cơ sở cùng chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cộng đồng khiến người Khơ-me có cơ hội và bình đẳng với người Kinh. Đối với các sinh hoạt và nghi lễ cộng đồng khác, cũng có đôi chút khác biệt tại Kênh Đứng B giữa người Kinh và người Khơ – me, chính tập quán uống rượu của người Khơ –me đã ảnh hưởng phần nào tới thời gian tham gia việc đồng áng của người dân. Cũng để ứng phó với BĐKH, người dân đã có sự điều chỉnh về địa điểm và thời gian mai táng, cưới hỏi. Nhằm hạn chế tác động từ quá trình xâm nhập mặn, ngập khi có bão, hầu hết người dân, đặc biệt là người Kinh đã tìm những địa điểm cao hơn để mai táng người chết. Bên cạnh đó, hình thức hỏa táng rồi gửi cốt trong chùa ngày càng phổ biến bởi đa phần người Khơ-me tin rằng chùa là nơi tốt nhất cho người đã khuất, hơn nữa, chùa luôn được xây kiên cố ở những địa thế cao nên ít khi bị ngập lụt khi mưa bão.

Chương 4. Nhận xét, khuyến nghị và giải pháp

Nhận xét về các giá trị tích cực của tri thức tộc người trong việc ứng phó với BĐKH, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh đến 5 giá trị sau: (i) Tận dụng được kinh nghiệm thực tế của người dân; (ii) Tận dung được nguồn lực tại chỗ; (iii) Tiết kiệm được kinh phí đầu tư; (iv) Tăng và đa dạng nguồn thu nhập; (v) Giảm thiểu rủi ro. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra một số thách thức liên quan đến tính bền vững về mặt môi trường, sự can thiệp của con người vượt quá ngưỡng đe dọa đến sự cân bằng hệ sinh thái.

Chính những thách thức đặt ra trong quá trình thích ứng với BĐKH của người Khơ-me cũng như người Kinh ở hai xã Khánh Hưng và Khánh Hội đòi hỏi cần có giải pháp phù hợp nhằm giúp người dân vượt qua thách thức, tối ưu hóa hoạt động sinh kế theo hướng bền vững nhưng không làm tổn hại tới môi trường tự nhiên, mối quan hệ hài hòa với các cộng đồng khác. Do đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm phát huy vai trò của tri thức tộc người  trong việc ứng phó, giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH trên từng phương diện cụ thể. Từ những phân tích, kết luận trên, nhóm tác giả đã đề xuất một vài hướng nghiên cứu tiếp theo rút ra từ quá trình nghiên cứu thực địa kết hợp với cập nhật thông tin trong quá trình tổng hợp nghiên cứu.

Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu công phu và tâm huyết của nhóm tác giả điều này được thể hiện qua các phụ lục, bảng hỏi và hộp thông tin trích dẫn cụ thể và chi tiết từ những cuộc phỏng vấn trực tiếp người dân, cán bộ cấp xã tại địa bàn nghiên cứu và ảnh minh họa trong suốt quá trình đi thực địa của nhóm nghiên cứu. Hy vọng cuốn sách là nguồn tư liệu hữu ích dành cho những độc giả quan tâm.

Xin trân trọng giới thiệu!

Nguyễn Minh Hồng

 

 


Nhà xuất bản Khoa học xã hội

Các tin đã đưa ngày: