Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • 7.1 sach hang nam

Thực hiện bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

23/12/2020


Cơ quan soạn thảo: Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Nhà xuất bản KHXH

Tác giả :
  • GS.TS. Nguyễn Hữu Minh
  • PGS.TS. Đặng Thị Hoa

Địa chỉ liên hệ: 27 Trần Xuân Soạn

Năm xuất bản: 2020

Số trang: 343

Mục tiêu về bình đẳng giới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được cụ thể hóa trong Chiến lược về dân tộc và công tác dân tộc giai đoạn 2011-2015 và nhiều chính sách đặc thù khác của các bộ, ngành liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên trên thực tế, các kết quả của nỗ lực hỗ trợ bình đẳng giới ở Việt Nam nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng chưa đáp ứng được các yêu cầu cua quá trình hội nhập, mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đối với dân tộc thiểu số còn nhiều nút thắt cần được giải quyết để đáp ứng được mục tiêu về bình đẳng giới…Vì vậy, nhằm có có cơ sở khoa học để đánh giá một cách khách quan nhất về thực trạng bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số, tháng 5/2020 Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho ra đời ấn phẩm Thực hiện bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam do GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và PGS.TS. Đặng Thị Hoa, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) chủ biên. Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Quốc gia về: Một số vấn đề cơ bản về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số nước ta đã được thực hiện từ năm 2017-2020. Kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, với dung lượng mẫu khảo sát hộ gia đình là 2.894 và 344 cán bộ cấp huyện tại 8 tỉnh gồm Lạng Sơn, Hà Giang, Điện Biên, Thanh Hóa, Thừa Thiên - Huế, Ninh Thuận, Đắk Lắk, SócTrăng, đại diện cho 14 nhóm dân tộc thiểu số khác nhau, cuốn sách là ấn phẩm mới nhất gần đây cung cấp các nội dung nghiên cứu đầy đủ nhất về vấn đề này.

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cuốn sách được cấu trúc thành 9 chương như sau: Chương 1: Một số vấn đề về cơ sở lý luận nghiên cứu bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số Việt Nam; Chương 2: Thực trạng và hiệu quả thực hiện chính sách bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay; Chương 3: Bình đẳng giới trong chính trị ở vùng dân tộc thiểu số; Chương 4: Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở một số dân tộc thiểu số; Chương 5: Bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lao động, việc làm; Chương 6: Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe; Chương 7: Phân công lao động theo giới trong gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam; Chương 8: Quyền quyết định giữa vợ và chồng trong một số hoạt động mua sắm của gia đình dân tộc Chăm (Ninh Thuận) và Dao (Lạng Sơn); Chương 9: Bạo lực gia đình ở vùng dân tộc thiểu số.

Theo đó, chương 1 sẽ cung cấp tới độc giả các kiến thức liên quan đến khái niệm về bình đẳng giới; cách tiếp cận về giới/văn hóa, bạo lực gia đình (BLGĐ); dân tộc thiểu số; một số lý thuyết cơ bản và các yếu tố tác động đến bình đẳng giới như yếu tố ở cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội; Các chỉ báo đánh giá bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam có liên quan đến quan niệm về năng lực lãnh đạo và quản lý của phụ nữ; hiểu biết về quyền tham gia của phụ nữ vào các hoạt động chính trị và quản lý; sự tham gia của nữ cán bộ theo các loại hình và cấp quản lý trong số cán bộ nữ; Hiệu quả tham gia lãnh đạo, quản lý của cán bộ nữ; Các chỉ báo về giáo dục có liên quan đến trình độ học vấn cao nhất đạt được theo độ tuổi; Tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ; Tình hình đi học của trẻ em; Sự quan tâm của bố mẹ tới việc học tập của trẻ em; Chỉ báo trong lĩnh vực lao động - việc làm; Chăm sóc sức khỏe; Đời sống gia đình và BLGĐ. Căn cứ vào các thông tin thu thập cụ thể ở mỗi cuộc khảo sát nhóm tác giả đã đưa ra được những đánh giá mới nhất về thực trạng bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Qua đó, có thể nhìn nhận sâu sắc hơn về đặc điểm vấn đề này dưới những phân tích có tính tương quan với chỉ báo, với các biến số độc lập cơ bản được nêu ra.

Chương 2 cung cấp các thông tin liên quan đến thực trạng chính sách về bình đẳng giới. Thông qua việc tiếp cận hệ thống các văn bản pháp luật và chính sách về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số; Nghiên cứu quá trình triển khai thực hiện chính sách pháp luật về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Nhóm tác giả đã đánh giá được hiệu quả cũng như những tác động của chính sách về bình đẳng giới những năm gần đây ở vùng dân tộc thiểu số thông qua việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của việc lồng ghép bình đẳng giới trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội; Tác động của việc thực hiện chính sách bình đẳng giới đến việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều và phát triển bền vững ở vùng dân tộc thiểu số. Qua đó có thể thấy Việt Nam vẫn còn rất nhiều vấn đề quan trọng cần tiếp tục được cải thiện. Mở rộng diện bao phủ và nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản; nâng cao cơ hội tiếp cận cho phụ nữ dân tộc thiểu số; tiếp tục mở rộng đối tượng, chính sách và điều kiện để thực hiện an sinh xã hội, ưu tiên đối với nhóm yếu thế và chịu tác động của biến cố tự nhiên, xã hội, ưu tiên vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chuyển dần từ hoạt động hỗ trợ hộ nghèo sang thúc đẩy sự chủ động và thực sự bình đẳng khi tham gia các dịch vụ xã hội ở vùng dân tộc thiểu số nhất là với phụ nữ nhằm phát triển một cách đồng đều ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình triển khai thực hiện chính sách và thụ hưởng sự phát triển chung của đất nước.

Chương 3 cung cấp các thông tin về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở vùng dân tộc thiểu số. Về thực trạng nhận thức về bình đẳng giới nhóm tác giả đã đề cập đến quan niệm của cán bộ về năng lực lãnh đạo và tham gia hoạt động quản lý của nam giới và phụ nữ. Số liệu thu được cho thấy đa số cán bộ và người dân được hỏi cho rằng cả nữ giới và nam giới làm lãnh đạo đều có những lợi thế nhất định. Nhìn chung, ở vùng dân tộc thiểu số, đa số cán bộ cấp huyện và cấp xã có quan điểm bình đẳng giới về sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại định kiến giới về khả năng lãnh đạo của nữ giới ở một số nhóm nhỏ và cho rằng phụ nữ chỉ nên giữ vị trí cấp phó. Bên cạnh đó, vấn đề về quyền tham gia của phụ nữ vào các công việc của cộng đồng và quyền tự ứng cử của phụ nữ cũng được làm rõ, theo số liệu thống kê cho thấy có 83,1% người dân cho rằng việc lấy ý kiến phụ nữ trong các công việc của buôn/làng là cần thiết và 78,4% người dân cho rằng phụ nữ có quyền tự ứng cử, tự đăng kí làm đại biểu hội đồng nhân dân xã/huyện/tỉnh. Như vậy, đa số người dân có biết về quyền tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị nhưng vẫn còn một số bộ phận nhất định người dân chưa rõ về quyền trong lĩnh vực này của phụ nữ… Qua đó có thể nhận thấy vấn đề bình đẳng giới trong chính trị ở vùng dân tộc thiểu số cần phải được nhìn nhận và quan tâm hơn nữa nếu không khoảng cách giới đối với phụ nữ dân tộc thiểu số sẽ ngày càng lớn hơn trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh và thiếu đồng đều giữa các khu vực/vùng miền hiện nay.

Chương 4 được dành riêng để bàn về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục. Nhóm tác giả cho rằng giáo dục là yếu tố cơ bản để xây dựng nguồn nhân lực con người. Thông qua việc tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới (tìm hiểu trình độ học vấn cao nhất đạt được); Tình hình tiếp cận giáo dục của trẻ em; Các yếu tố ảnh hưởng đến binh đẳng giới (thể chế, chính sách, chất lượng, số lượng các cơ sở, dịch vụ giáo dục tại địa phương); yếu tố gia đình/cá nhân; Nhận thức; các yếu tố cộng đồng); Chính sách và những vấn đề đặt ra về bình đẳng giới ở đồng bào các dân tộc thiểu số, nhóm tác giả kết luận: Bất bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục của người dân tộc thiểu số mang tính lịch sử, phụ nữ dân tộc thiểu số phải đối mặt với tình trạng “bất lợi nhiều chiều” so với nam giới. Tiếp cận giáo dục của trẻ em gái thấp hơn trẻ em trai. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là trẻ em người dân tộc thiểu số là điều kiện tiên quyết trong chiến lược phát triển quốc gia nói chung và mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số nói riêng.

Chương 5 cung cấp các thông tin về bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lao động việc làm. Thông qua việc tìm hiểu về sự tham gia thị trường lao động giữa nam và nữ; trình độ chuyên môn và mức độ bình đẳng trong đào tạo nghề; Mức độ hài lòng và khả năng chuyển đổi viêc làm; các vấn đề thực hiện chính sách bình đẳng giới… Nhóm tác giả cho rằng trong những năm qua mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thực hiện chính sách bình đẳng giới thì vẫn còn tồn tại nhiều chính sách chưa chú trọng đến việc lồng ghép giới trong phát triển. Điều đó dẫn đến việc nhận thức và bình đẳng giới còn thấp, chưa tạo được ý thức, động lực để thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng trong lĩnh vực này. Mặt khác còn tồn tại hiện tượng có sự chênh lệch nhất định trong thu nhập giữa nam và nữ;  mức độ chuyển đổi việc làm chậm… do vậy cần nhiều hơn nữa các đề xuất giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới từ cấp vĩ mô đến cấp cơ sở; nâng cao học vấn, nhận thức về giới và bình đẳng giới; hỗ trợ vốn giải quyết việc làm; đổi mới hình thức đào tạo và nâng cao hiệu quả, tăng cường công tác tư vấn và xây dựng các mô hình hỗ trợ, đổi mới quan điểm phát triển, lồng ghép giới trong xây dựng chính sách ở đội ngũ cán bộ.

Chương 6 cung cấp các thông tin về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe. Theo nhóm tác giả, phụ nữ dân tộc thiểu số chịu nhiều thiệt thòi và trở ngại trong việc chăm sóc và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Trong điều kiện cư trú vùng sâu, vùng xa, hầu hết người dân tộc thiểu số phải làm việc nặng nhọc, điều kiện chăm sóc sức khỏe rất hạn chế; quan niệm nhận thức về chăm sóc sức khỏe cá nhân cũng bị nhiều rào cản do thói quen và điều kiện sống; Đánh giá về hiệu quả của chính sách y tế, nhóm tác giả nhận điịnh phụ nữ DTTS luôn bị thiệt thòi và chưa được hưởng lợi đầy đủ thành quả của chính sách y tế, mức độ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản còn hạn chế, dẫn đến tỷ suất chết mẹ ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số trong 10 năm qua còn chậm; Trở ngại từ phong tục tập quán, từ nhận thức và từ các thành viên trong gia đình là vấn đề rất cần sự chung tay của nhiều tổ chức, cá nhân. Trong đó, cần tập trung đầu tư hỗ trợ và đào tạo nhân lực y tế, chú trọng y tế thôn bản và người đỡ đẻ có kỹ năng. Hoạt động này sẽ góp phần hỗ trợ cho phụ nữ và trẻ em DTTS được đảm bảo hơn về sức khỏe, an toàn khi sinh nở và đặc biệt là phải chú trọng truyền thông những thông tin quan trọng đến phụ nữ và thành viên trong hộ gia đình về sức khỏe bà mẹ, trẻ em.

Chương 7 cung cấp thông tin về lao động theo giới trong gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Thông qua việc tìm hiểu quan niệm, thực hành về phân công công việc trong gia đình giữa nam và nữ và sự khác biệt giữa các nhóm xã hội nhóm tác giả nhận định nhìn chung khuôn mẫu giới vẫn còn tồn tại ở mức đáng kể, người phụ nữ DTTS ngoài việc tham gia tích cực vào công việc kiếm thu nhập thì phải chịu thêm gánh nặng kép là người chủ yếu thực hiện các công việc nhà. Nhìn chung, các đặc điểm cá nhân như học vấn và lứa tuổi có ảnh hưởng đến nhận thức và thực hành phân công công việc gia đình theo giới. Bên cạnh đó cũng cần lưu ý đến sức ỳ trong nhận thức và hành vi của một số người đối với một số hoạt động, ví dụ như đối với hoạt động thắp hương, cúng lễ, quan niệm cổ truyền vẫn coi đây là lĩnh vực riêng của nam giới, còn nấu ăn và dạy học là việc của nữ giới và không có sự chia sẻ giữa đôi bên. Những vấn đề này cần được quan tâm trong các định hướng thúc đẩy bình đẳng giới trong thời gian tới.

Chương 8 cung cấp các thông tin liên quan đến quyền quyết định giữa vợ và chồng trong một số hoạt động mua sắm (của gia đình dân tộc Chăm - Ninh Thuận và Dao - Lạng Sơn). Với các lý thuyết và phương pháp phân tích chặt chẽ, nhóm tác giả đã làm rõ mô hình quyền quyết định một số hoạt động mua sắm của vợ và chồng trong gia đình hai dân tộc điển hình này và cho rằng các yếu tố tác động đến việc cả hai vợ chồng là người quyết định chính trong hoạt động mua sắm tài sản có giá trị ở hai dân tộc có sự khác biệt đáng kể, trong đó người Dao có xu hướng bình đẳng hơn người Chăm. Tuy nhiên, yếu tố văn hóa, học vấn và truyền thông lại có tác động không nhỏ tới sự bình đẳng trong việc ra các quyết định trong hoạt động mua sắm của cả hai dân tộc này. Đây cũng chính là cơ sở để nhóm tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc cung cấp hệ thống lý luận hàm ý chính sách, đưa khoa học vào mọi mặt của đời sống chính là xuất phát từ ý nghĩa này.

Chương 9 cung cấp các thông tin về bạo lực gia đình ở vùng DTTS, thông qua các vấn đề như: thực trạng bạo lực (nhận thức hành vi bạo lực, thực trạng bạo lực giữa vợ và chồng trong 12 tháng tại các điểm khảo sát); Chính sách pháp luật trong phòng chống bạo lực gia đình (chính sách đặc thù cho dân tộc thiểu số, quá trình triển khai chính sách), nhóm tác giả nhấn mạnh các địa phương cần có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của bạo lực gia đình. Từ đó phân bổ kinh phí phù hợp để thực hiện các nhiệm vụ thúc đẩy bình đẳng giới, giảm thiểu và loại bỏ hành vi bạo lực gia đình, gắn trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức liên quan trong thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Trong bối cảnh định kiến giới, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã tồn tại lâu đời trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần nhiều thời gian hơn để dần chuyển biến nhận thức của người dân về bình đẳng giới trong lĩnh vực bạo lực gia đình.

Hy vọng với các nội dung như trên, cuốn sách sẽ trở thành tài liệu tham khảo bổ ích với nhiều độc giả.

Xin trân trọng giới thiệu./.

Phạm Vĩnh Hà

 


Các tin đã đưa ngày: