Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • left_banner_HTQT (1)

Hợp tác kinh tế trong quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc – ASEAN

14/08/2018 - Số lượt xem: 483

PGS. TS. Nguyễn Huy Hoàng

Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

Tóm tắt: Quan hệ kinh tế Trung Quốc – ASEAN phát triển mạnh từ đầu những năm 1990, được cho là có vai trò quan trọng trong việc củng cố mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai bên. Bằng việc phân tích thực trạng, xu hướng của quan hệ kinh tế và sự liên hệ giữa quan hệ kinh tế với quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc – ASEAN, bài viết chỉ ra rằng bên cạnh việc thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược, quan hệ kinh tế Trung Quốc – ASEAN gây nên những cản trở nhất định như làm giảm niềm tin của ASEAN đối với Trung Quốc. Để quan hệ kinh tế là nhân tố thúc đẩy đối tác chiến lược Trung Quốc – ASEAN, hai bên cần phải tìm cách cải thiện niềm tin lẫn nhau, đặc biệt là Trung Quốc cần phải làm cho ASEAN tin tưởng vào động cơ thực sự của nước này trong việc thúc đẩy quan hệ giữa hai bên.

Từ khóa: ASEAN, Trung Quốc, quan hệ kinh tế, đối tác chiến lược

Đặt vấn đề

Tháng 7/2018, ASEAN và Trung Quốc kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược. Quan hệ song phương giữa hai bên tiếp tục phát triển thông qua Tầm nhìn đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc 2030, dự kiến ​​sẽ được công bố trong Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc vào tháng 11/2018. Theo Tầm nhìn 2030, khuôn khổ hợp tác ASEAN-Trung Quốc xây dựng năm 2013 dự kiến sẽ được nâng cấp từ mô thức 2 + 7 lên 3 + X[1]. Trong đó, mô thức '2 + 7' đề cập đến hai nhận thức và bảy kiến nghị[2], và '3 + X' thể hiện mối quan hệ phát triển dựa trên ba trụ cột và một chương trình hợp tác chưa được xác định. Ba trụ cột đó là: an ninh chính trị, kinh tế và trao đổi con người.

Hợp tác kinh tế là lĩnh vực quan trọng thúc đẩy tầm nhìn ASEAN-Trung Quốc về quan hệ đối tác chiến lược. Bên cạnh việc thúc đẩy thương mại hai chiều trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ, Trung Quốc ngày càng quan tâm đến việc tăng nguồn vốn FDI và xây dựng cơ sở hạ tầng tại các nước ASEAN. Trong khi sự quan tâm ngày càng tăng của Trung Quốc đối với các thành viên ASEAN nhỏ được đánh giá cao, thì Tầm nhìn đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc 2030 cũng cần được lưu tâm đến vấn đề đang gây quan ngại cho các nước ASEAN như thâm hụt thương mại ngày càng tăng trong quan hệ thương mại với Trung Quốc và việc mất quyền tự chủ chính trị do phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc về mặt kinh tế.

1. Quan hệ kinh tế song phương Trung Quốc – ASEAN

1.1. Về thương mại

Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN đạt mức tăng trưởng đều đặn kể từ giữa những năm 1990. Thương mại hàng hóa song phương tăng từ 13,3 tỷ USD năm 1995 lên 113,5 tỷ USD năm 2005 và lên tới 514,8 tỷ USD năm 2017[3]. Trong suốt giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng thương mại hai chiều đạt khoảng 18%/năm, một con số ấn tượng so với tốc độ tăng trưởng khoảng 7%/ năm đối với thương mại của ASEAN với thế giới.

Thương mại hai chiều trong lĩnh vực dịch vụ cũng tăng nhanh trong giai đoạn 2005-2016. Với Trung Quốc, giá trị đó tăng từ 161 tỷ USD lên 657 tỷ USD, trong khi đó, đối với ASEAN, tăng từ 252 tỷ USD lên 643 tỷ USD[4]. Thời gian gần đây, ASEAN đã đạt mức thặng dư thương mại 8 tỷ USD và Trung Quốc có mức thâm hụt thương mại 243 tỷ USD. Số liệu thống kê này hàm ý rằng Trung Quốc nhập khẩu nhiều dịch vụ từ thế giới hơn so với ASEAN. Về thương mại song phương, Trung Quốc xuất khẩu các dịch vụ kỹ thuật và lao động sang ASEAN và nhập khẩu các dịch vụ vận tải, tài chính và xây dựng từ các nước ASEAN[5]. Thương mại dịch vụ du lịch là rất lớn và có tiềm năng tiếp tục tăng. Năm 2017, khoảng 20,5 triệu du khách Trung Quốc đến các nước ASEAN (chiếm khoảng 18% tổng số khách du lịch vào ASEAN), và khoảng 10,5 triệu khách du lịch ASEAN đến Trung Quốc (chiếm 8% tổng số khách du lịch vào Trung Quốc)[6].

Tỷ trọng dòng đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN tăng từ 3 đến 10% (2 - 9,8 tỷ đô la Mỹ) trong thời gian khi các nước ASEAN hướng tới hoàn thiện Cộng đồng Kinh tế và có khối lượng FDI vào khu vực là rất lớn. Mạng sản xuất thúc đẩy hội nhập chặt chẽ hơn đã làm tăng đầu tư từ Trung Quốc đặc biệt là trong lĩnh vực chế tạo của ASEAN. Ngược lại, dòng FDI từ ASEAN đến Trung Quốc cũng có xu hướng tăng, chiếm ưu thế là từ Singapore. Mối quan hệ kinh tế giữa hai bên ngày càng được củng cố bởi Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA). Hai bên đã ký hiệp định năm 2004 và bắt đầu lộ trình giảm thuế đối với một số dòng sản phẩm giữa các nước ASEAN-6 và Trung Quốc vào năm 2010[7] và giữa các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam) và Trung Quốc vào năm 2015. Các nước đã thông qua Chương trình Thu hoạch sớm (EHP) trước khi thành lập FTA, theo đó Trung Quốc quyết định giảm thuế ngay lập tức cho các thành viên ASEAN trên một số sản phẩm nông nghiệp.

Hiệp định thương mại dịch vụ giữa hai bên được ký vào tháng 1/2007. Tự do hóa trong lĩnh vực du lịch là đáng chú ý vì lợi ích chung của cả hai bên[8]. Mặc dù sự hiện diện thương mại của các công ty đa quốc gia xuyên biên giới là nhạy cảm, nhưng ACFTA hứa hẹn khuyến khích các luồng đầu tư giữa các bên trong các lĩnh vực như dịch vụ kinh doanh, xây dựng, du lịch, vận tải và giáo dục. Thỏa thuận đầu tư giữa hai bên cũng đã được ký kết vào năm 2009, nhằm thúc đẩy sự hợp tác bằng cách tăng tính minh bạch của các quy định và bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư. Tiếp sau đó, ACFTA được nâng cấp vào năm 2016 với những cải tiến trong các lĩnh vực như quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa thương mại, tự do hóa dịch vụ và xúc tiến đầu tư.

Về tương quan thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc

Sự hiện diện tương đối của ASEAN và Trung Quốc tại thị trường của nhau đã khiến cho các nước ASEAN quan ngại. Theo Hình 1, sự hiện diện của hàng hóa ASEAN trong giỏ hàng thương mại của Trung Quốc tăng lên theo thời gian. Nhập khẩu tương đối của Trung Quốc từ ASEAN, sau khi tăng từ 7% đến 11% trong giai đoạn 1995-2005, đã không được cải thiện nhiều thời kỳ hậu ACFTA, tức là sau năm 2010. Tuy nhiên, sự hiện diện của hàng hóa Trung Quốc trong giỏ hàng thương mại của ASEAN đã tăng từ 5-6 lần trong giai đoạn 1995 - 2017. Trong giai đoạn hậu ACFTA, thị phần của Trung Quốc trong nhập khẩu của ASEAN đã tăng nhanh hơn nhiều so với xuất khẩu. Điều này chỉ ra rằng các doanh nghiệp Trung Quốc thâm nhập thị trường ASEAN hiệu quả hơn nhiều so với doanh nghiệp các nước khác.

Hình 1: Trao đổi thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, 1995-2017

Nguồn: Tính toán từ cơ sở dữ liệu của CEIC

Theo số liệu thống kê ở Bảng 1, thị phần của các nước ASEAN riêng lẻ trong xuất, nhập khẩu của Trung Quốc là tương đối khiêm tốn. Số liệu cho thấy sự thâm nhập của Malaysia vào thị trường Trung Quốc là cao nhất trong số các nước ASEAN do nhập khẩu dầu của Trung Quốc từ Malaysia tăng, trong khi thị phần của Singapore trong giỏ hàng thương mại của Trung Quốc đã giảm do vai trò của nhập khẩu dầu từ nước này bị giảm sút. Ngược lại, sự hiện diện của Trung Quốc trong giỏ hàng thương mại của tất cả các nước ASEAN tăng trong giai đoạn 2005-2017. Trong những năm gần đây, nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc chiếm ưu thế nhất là ở Campuchia, tiếp theo là Myanmar và Việt Nam.

Bảng 1. Thị phần của các nước ASEAN trong rổ hàng thương mại

của Trung Quốc và ngược lại

Đơn vị: %

 

Thị phần của ASEAN trong xuất khẩu của Trung Quốc

Thị phần của ASEAN trong nhập khẩu của Trung Quốc

Thị phần của Trung Quốc trong xuất khẩu của ASEAN

Thị phần của Trung Quốc trong nhập khẩu của ASEAN

 

2005

2017

2005

2017

2005

2017

2005

2017

Brunei

0,0

0,0

0,0

0,0

2,4

4,7

8,2

19,6

Cambodia

0,1

0,2

0,0

0,1

0,5

6,9

16,6

34,2

Indonesia

1,1

1,5

1,3

1,6

7,8

13,7

10,1

21,5

Lào

0,0

0,1

0,0

0,1

4,3

28,6

9,3

21,5

Malaysia

1,4

1,9

3,0

3,0

6,6

13,4

11,6

18,4

Myanmar

0,1

0,4

0,0

0,2

3,9

36,5

21,2

31,4

Philippines

0,6

1,4

1,9

1,0

9,9

11,1

6,3

17,2

Singapore

2,2

2,0

2,5

1,8

8,6

14,7

10,3

13,9

Thái Lan

1,0

1,7

2,1

2,3

8,3

12,4

9,4

19,8

Việt Nam

0,7

3,2

0,4

2,8

9,9

14,5

16,0

25,8

Nguồn: Tính toán từ cơ sở dữ liệu của CEIC

Sự hiện diện ngày càng tăng của hàng hóa Trung Quốc tại thị trường ASEAN gây nên mối quan ngại cho các nước ASEAN vì họ không chỉ đối mặt với việc thâm hụt thương mại với Trung Quốc ngày càng tăng mà còn làm tăng khả năng căng thẳng chính trị. Hình 2 cho thấy ngoài Singapore, tất cả các nước ASEAN đều thâm hụt thương mại với Trung Quốc trong năm 2017. Trong khi Brunei, Indonesia và Philippines được hưởng thặng dư thương mại với Trung Quốc trước đó, thì lại đối mặt với thâm hụt trong thời gian gần đây. Thâm hụt thương mại của Campuchia và Việt Nam với Trung Quốc tăng liên tục trong suốt giai đoạn 2005-2017. Động thái này cho thấy xuất khẩu của Trung Quốc sang các nước ASEAN chiếm ưu thế thời gian trước đây nay tiếp tục được tăng cường sau khi ACFTA được ký kết vào năm năm 2010.

Hình 2:. Cán cân thương mại của các nước ASEAN với Trung Quốc (%GDP)

Nguồn: Tính toán từ cơ sở dữ liệu của CEIC

Với Indonesia, ngay từ đầu nước này đã thể hiện sự quan ngại đối với ACFTA. Lý do là vì cán cân thương mại của Indonesia suy giảm trong lĩnh vực sản xuất dẫn đến căng thẳng chính trị trong nước. Indonesia không hài lòng khi bị Trung Quốc phân biệt đối xử. Cụ thể, theo EHP, Indonesia phải trả thuế cao hơn so với Malaysia và Singapore đối với hàng nhập khẩu cacao chế biến của Trung Quốc. Vì vậy, Indonesia cân nhắc việc tái đàm phán một phần của ACFTA, tức là khoảng 220 dòng thuế đối với sắt, thép, dệt may, hàng may mặc và ngành công nghiệp giày dép, nhưng không thành công. Sau đó, mặc dù Trung Quốc hứa hẹn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Indonesia và gia tăng nhập khẩu từ Indonesia, nhưng mối quan ngại về khả năng mất việc làm do nhập khẩu hàng hóa chi phí thấp của Trung Quốc dẫn đến các cuộc biểu tình công khai tại nhiều thành phố của Indonesia.

Vì vậy, mặc dù quan hệ đối tác kinh tế ASEAN và Trung Quốc thường được coi là tích cực, khả năng xung đột kinh tế không thể hoàn toàn bị loại bỏ vì sự khác biệt về quy mô và kế hoạch phát triển giữa hai bên. Điều này làm ảnh hưởng đến quan hệ đối tác chiến lược toàn diện ASEAN-Trung Quốc trong tương lai.

1.2. Về đầu tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc tại ASEAN trong khuôn khổ ACFTA

Bên cạnh quan hệ thương mại, đầu tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở các nước ASEAN có vai trò tăng cường và thúc đẩy kết nối ASEAN - Trung Quốc. Vì mục tiêu đó, hai bên bắt tay hợp tác phát triển giao thông vận tải toàn diện vào năm 2003 khi cả hai nhận thấy rằng “xây dựng một mạng lưới giao thông hội nhập ... là cơ sở hạ tầng hỗ trợ quan trọng cho khu vực thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc[9]. Năm 2016, hai bên thông qua kế hoạch chiến lược hợp tác trong lĩnh vực vận tải ASEAN-Trung Quốc và quyết định tìm kiếm giải pháp nhằm hợp tác hóa các ưu tiên chung giữa Kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN 2025 (MPAC 2025) và Sáng kiến Vành đai - Con đường (BRI) của Trung Quốc. Hai bên đồng ý thúc đẩy các dự án xuyên biên giới như kết nối Đường sắt Côn Minh - Singapore, hợp tác Lan Thương-Mekong, Mạng lưới Hợp tác Thành phố Cảng ASEAN – Trung Quốc và Hợp tác Thông tin - Logistics ASEAN - Trung Quốc.

Ngoài ra, hiện nay các nước ASEAN và Trung Quốc đang có các dự án hợp tác trong các lĩnh vực như điện, giao thông và viễn thông. Các doanh nghiệp đa quốc gia, cả khu vực nhà nước và tư nhân của Trung Quốc đang tích cực tham gia vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng của ASEAN. Cụ thể trong khu vực CLMV, các công ty Trung Quốc là những nhà đầu tư lớn nhất trong các dự án xây dựng nhà máy thủy điện, đập, đường sá, cầu, cảng biển và mạng lưới đường sắt. Bên cạnh đó, Quỹ hợp tác đầu tư Trung Quốc - ASEAN, theo đề xuất của cựu Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo vào năm 2009, cũng đã đầu tư vào ASEAN từ năm 2010. Thêm nữa, từ tháng 1/2016, Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (AIIB) bắt đầu cung cấp các khoản vay xây dựng cơ sở hạ tầng cho các thành viên ASEAN. Indonesia là nước đứng đầu danh sách các nước tiếp nhận được các khoản vay từ AIIB, tiếp theo là Philippines và Myanmar[10].

Bên cạnh những động thái tích cực trong hợp tác giữa hai bên, thì vẫn còn đó những quan ngại về việc đầu tư của Trung Quốc có khả năng làm tổn thương nền kinh tế của của các nước tiếp nhận vốn vay từ AIIB hay từ Quỹ hợp tác đầu tư Trung Quốc-ASEAN. Sự hỗ trợ của Trung Quốc không chỉ là việc cung cấp tài chính mà còn mở rộng đến các vấn đề như quản lý dự án, cung cấp vật tư thiết bị, vật liệu xây dựng và lao động. Động thái này tạo ra mối lo cho các nền kinh tế tiếp nhận nguồn vốn từ Trung Quốc. Ví dụ với trường hợp Campuchia, có rất nhiều lời than phiền từ người dân địa phương về việc những việc làm mới mà đầu tư của Trung Quốc tạo ra lại chỉ dành cho người nhập cư Trung Quốc. Ngay cả các doanh nghiệp bản địa nhỏ cũng bị tổn thương khi công nhân Trung Quốc có xu hướng mua sắm nhu yếu phầm hàng ngày từ các cửa hàng do người Trung Quốc sở hữu[11]. Tương tự ở Indonesia, người dân địa phương phàn nàn về việc các công ty Trung Quốc thường xuyên mang theo “công nhân và máy móc của họ, tạo ra sự xung đột với người dân địa phương[12]. Các dự án do Trung Quốc cấp vốn cũng bị cho là có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường của các nước tiếp nhận đầu tư. Gần đây, khi Thái Lan quyết định đẩy nhanh quá trình phê duyệt dự án đầu tư của Trung Quốc vào nhà máy điện bị cho là chống lại luật pháp bảo vệ môi trường của nước này[13].

Lợi ích của Trung Quốc khi đầu tư vào các dự án lớn như thành phố Forest City ở Malaysia, thành phố cảng Sihanoukville ở Campuchia, dự án đường sắt Trung Quốc - Lào, và đặc khu kinh tế Kyaukpyu ở Myanmar lại bị xem là bất lợi cho nợ quốc gia của các nước tiếp nhận vì nó liên quan đến khả năng trả nợ và những rủi ro chiến lược khác mà các nước này phải đối mặt trong tương lai. Đặc biệt, đối với Campuchia và Lào, Trung Quốc nắm giữ khoảng 50% tổng số nợ của hai nước này. Sự phụ thuộc này buộc Campuchia phải tính đến lợi ích chính trị và ngoại giao với Trung Quốc thông qua những  phí tổn mà các nước ASEAN phải gánh chịu[14]. Trong tương lai, khi gánh nặng nợ nần trở nên quá sức chịu đựng, các nước này có thể phải sử dụng đến các loại tài sản nhà nước như cảng biển sâu hoặc mỏ dầu và khí đốt, để trả nợ cho Trung Quốc. Đây được cho là “bẫy nợ”, qua đó Bắc Kinh có thể có được các tài sản chiến lược. Vì vậy, các nước ASEAN phải thận trọng khi tiếp cận các khoản đầu tư lớn từ Trung Quốc.

2. Vai trò của ACFTA đối với đối tác chiến lược Trung Quốc – ASEAN

ASEAN và Trung Quốc bắt đầu “Hợp tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng” vào năm 2003. Nhận thức được sự phức tạp và những thay đổi đáng kể trong nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia nhận thấy sự hợp tác đó, bao gồm các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và xã hội, có vai trò quan trọng phục vụ lợi ích trước mắt và lâu dài của cả hai bên[15]. Đặc biệt về hợp tác kinh tế, ASEAN và Trung Quốc đồng ý đẩy mạnh ACFTA nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, nhân lực, đầu tư và công nghệ thông tin. Nhưng vẫn còn đó một câu hỏi là: liệu ACFTA có khả năng tiến xa hay không và kết quả liên kết kinh tế thu được có đóng góp vào việc tăng cường quan hệ đối tác chiến lược giữa hai bên hay không?

ACFTA lần đầu tiên được cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đề xuất vào năm 2000. Vào thời điểm đó, nhiều nước ASEAN đang chịu sự tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-98 và phải đối mặt với suy giảm tăng trưởng kinh tế nghiêm trọng. Đồng thời, các nước này cảm thấy không thoải mái về việc Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, vì thông qua đó Trung Quốc có khả năng thu hút phần lớn vốn đầu tư FDI vào khu vực. Để giảm bớt căng thẳng đó, ACFTA được cho là giải pháp có thể giúp các nước ASEAN và Trung Quốc cơ hội tiếp cận thị trường của nhau. Thông qua đó, Trung Quốc có mục tiêu giúp đỡ các nước ASEAN thông qua sự trỗi dậy của họ[16]. Lợi ích của việc kí kết ACFTA được thể hiện rõ ràng hơn sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008. Khi tăng trưởng kinh tế ở các nước phương Tây chậm lại, ACFTA trở thành phương tiện tăng cường hợp tác kinh tế giữa các quốc gia được cho là có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Vì vậy, nhân kỷ niệm 10 năm hợp tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc vào năm 2013, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đề xuất khung hợp tác 2 + 7 cho thập kỷ tiếp theo (2013-2023). Theo mô thức đó, 2 là tăng cường niềm tin chiến lược và hợp tác kinh tế sâu rộng hơn và 7 đề cập đến các lĩnh vực hợp tác trong khuôn khổ ACFTA và xây dựng cơ sở hạ tầng tốt hơn[17]. Sau đó, các thành viên đồng ý nâng cấp ACFTA bằng cách cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường tổng thể và cán cân thương mại giữa hai bên cũng như mở rộng phạm vi và lĩnh vực của Khuôn khổ hợp tác. Các nước tham gia đặt mục tiêu tăng cường thương mại và đầu tư hai chiều lên 1 nghìn tỷ và 150 tỷ đô la Mỹ vào năm 2020[18].

Mặc dù hoan nghênh những sáng kiến và động thái khi kí kết ACFTA của Trung Quốc, nhưng các nước thành viên ASEAN vẫn cảnh giác ở hai điểm sau. Thứ nhất, ACFTA dường như mang lại lợi ích cho Trung Quốc nhiều hơn cho các nước ASEAN. Vì khả năng cạnh tranh cao hơn nên các doanh nghiệp Trung Quốc thâm nhập thị trường ASEAN hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp ASEAN thâm nhập vào thị trường Trung Quốc. Xu hướng này dẫn đến tình trạng thâm hụt thương mại hàng hóa đối với tất cả các thành viên ASEAN (trừ Singapore), qua đó tạo ra sự ác cảm đối với hàng hóa của Trung Quốc và gây nên sự thù địch giữa các doanh nghiệp địa phương và chính phủ ở nhiều nước ASEAN. Thứ hai, các nước nhỏ lo ngại rằng sự phụ thuộc kinh tế quá mức vào Trung Quốc sẽ làm suy yếu quyền và khả năng đàm phán của họ trong các vấn đề an ninh. Qua đó, các nước ASEAN có thể mất đi quyền tự chủ trong chính sách đối ngoại của mình đối với Trung Quốc trong tương lai. Điều này đã được minh chứng trong quá khứ khi Trung Quốc sử dụng Phnom Penh nhằm ngăn chặn tuyên bố của Hội nghị các bộ trưởng ngoại giao ASEAN về việc phản đối tuyên bố của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông[19]. Thêm vào đó, việc Philippines phản đối những tuyên bố của Trung Quốc về vấn đề biển Đông có chiều hướng suy giảm dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Duterte so với thời Aquino, vì Duterte coi sự hỗ trợ kinh tế của Trung Quốc là quan trọng hơn nhiều so với tuyên bố chủ quyền ở biển Đông.

Do đó, trong khi ACFTA và các sáng kiến cơ sở hạ tầng liên quan là những cơ chế quan trọng nhằm tăng cường thương mại và đầu tư giữa ASEAN và Trung Quốc, thì quan hệ đối tác chiến lược giữa hai bên chưa được hoàn thiện và chưa phát triển mạnh mẽ. Kể từ cuối những năm 1990, Trung Quốc đã cố gắng tăng cường quan hệ kinh tế với ASEAN, nhưng thâm hụt thương mại ngày càng tăng và thiếu niềm tin lẫn nhau là những nhân tố cản trở mối quan hệ ASEAN-Trung Quốc. Dường như niềm tin lẫn nhau giữa hai bên về các vấn đề an ninh chưa được nâng lên ngang tầm với giá trị thương mại của cả hai[20]. Đây được cho là điểm mấu chốt mà Trung Quốc nên thực hiện một sự thay đổi cần có trong tương lai. Nhằm đánh dấu 15 năm hợp tác chiến lược, Bắc Kinh đã đề xuất nâng cấp khung hợp tác “2 + 7” hiện có lên thành “3 + X”. Thông qua đó, Trung Quốc có ý định tạo ra một khuôn khổ hợp tác mới dựa trên 3 trụ cột: an ninh chính trị, kinh tế và giao lưu nhân dân, phù hợp với mục tiêu của Cộng đồng ASEAN. Vì số lượng các chương trình nghị sự cho hợp tác vẫn chưa được xác định, nên Trung Quốc cần chú ý đến các mối quan tâm của ASEAN nhiều hơn để khung hợp tác 3+X có thể có hiệu lực và có giá trị hơn.

Theo tuyên bố trước đó của Trung Quốc về việc cải thiện cán cân thương mại giữa hai bên, thì nước này cần có kế hoạch hành động cụ thể. Triển lãm Trung Quốc-ASEAN[21], được bắt đầu vào năm 2004, là một diễn đàn hữu ích cho các nhà sản xuất, chế tạo ASEAN giới thiệu hàng hóa, sản phẩm của mình tại thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, diễn đàn này vẫn không đủ để thu hẹp thâm hụt thương mại mà các nước thành viên ASEAN đối mặt khi quan hệ thương mại với Trung Quốc. Bên cạnh đó, thương mại dịch vụ cần được tăng cường. Trong khi Trung Quốc là nước nhập khẩu đáng kể các dịch vụ vận tải, du lịch và thương mại khác, thì Singapore, Thái Lan và Malaysia là những nhà xuất khẩu hàng đầu các dịch vụ này. Điều này tạo ra tiềm năng thương mại to lớn giữa các quốc gia này trong lĩnh vực dịch vụ, qua đó thúc đẩy quan hệ thương mại dịch vụ ASEAN-Trung Quốc.

Trong bối cảnh hiện nay, ASEAN và Trung Quốc cần mở rộng phạm vi hợp tác sang các lĩnh vực mới, trong đó có thương mại điện tử. Với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hai bên nên thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như đổi mới công nghệ và kinh tế kỹ thuật số. Khi ASEAN bắt đầu cơ chế hợp tác trong khu vực ASEAN về việc xây dựng mạng lưới các thành phố thông minh vào năm 2018, Trung Quốc có vai trò lớn trong việc chia sẻ kinh nghiệm vì nước này có hơn 500 dự án thành phố thông minh đang được tiến hành xây dựng[22].

Cuối cùng, mặc dù sự hiệp lực, phối hợp giữa ASEAN và Trung Quốc có thể được tạo ra giữa dự án MPAC của ASEAN và BRI của Trung Quốc, nhưng những dự án này cần phải được phát triển theo cách mà cả hai bên đều có thể được hưởng lợi. Trung Quốc không nên coi các khoản đầu tư vào các dự án MPAC như một cách để nước này có được các tài sản chiến lược từ các nước ASEAN thông qua quá trình gây ảnh hưởng, phụ thuộc mà qua đó Trung Quốc có thể nâng cao ảnh hưởng quân sự của mình hoặc tiếp cận với các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thay vào đó, đầu tư cho các dự án trong khuôn khổ MPAC từ Trung Quốc phải là điều kiện tiên quyết để tăng cường hoạt động sản xuất, chuyển giao công nghệ và tạo việc làm cho các nước ASEAN. Điều quan trọng nhất là thông qua đó để đặt mục tiêu thúc đẩy hội nhập trong khuôn khổ các nước ASEAN mạnh mẽ hơn thay vì nhằm mục tiêu thao túng các vấn đề địa chính trị trong tương lai ở khu vực Đông Nam Á, biến khu vực này thành sân sau của Trung Quốc. Như vậy, thì quan hệ kinh tế hai bên không có vai trò thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc.

Kết luận

Hợp tác kinh tế là một khía cạnh và là nhân tố quan trọng của quan hệ đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc. Trong nhiều năm qua, thương mại và đầu tư giữa hai bên đã góp phần tăng cường quan hệ kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc. Nhưng vẫn còn đó những lo ngại trong các nước ASEAN về sự thâm hụt thương mại dẫn đến sự phụ thuộc kinh tế và chính trị quá lớn vào Trung Quốc mà kết quả là làm cho các nước ASEAN mất dần khả năng thương lượng và đàm phán chính trị cũng như chính sách đối ngoại của mình.

Trong thời điểm hiện nay, khi Trung Quốc mong muốn nâng cấp mối quan hệ hiện tại Trung Quốc – ASEAN nhân kỷ niệm 15 năm quan hệ đối tác chiến lược, thì nước này cần lưu ý và quan tâm nhiều hơn đến các mối quan ngại mà các nước thành viên ASEAN đang có và băn khoăn để tìm ra giải pháp cụ thể nhằm xây dựng lòng tin lẫn nhau, cơ sở quan trọng cho việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược mạnh mẽ ASEAN-Trung Quốc. Xét cho cùng, liên kết kinh tế phải mang lại lợi ích cho tất cả các nước và người dân trước khi nó có thể đóng góp tích cực vào một hình thức thể chế hóa hợp tác Tầm nhìn 2030 của ASEAN-Trung Quốc, làm mạnh mẽ hơn quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc – ASEAN. Khi và chỉ khi ASEAN có được miền tin vào Trung Quốc và tháo bỏ được nỗi lo sợ về thâm hụt thương mại, sự phụ thuộc vào Trung Quốc về lĩnh vực kinh tế thì khi đó ASEAN mới đủ tự tin để thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc lên một nấc thang mới: quan hệ đối tác chiến lược toàn diện trong tương lai./.

 

Tài liệu tham khảo:

1. ASEAN Secretariat 2017 (http://asean.org/storage/2017/11/China-and-ASEAN-on-Cooperation-Connectivity-CN-ASEAN_adopted.pdf)

2. http://www.chinadaily.com.cn/world/2017-11/13/content_34491398.htm

3. Yang, Chunmei. 2009. ‘Analysis on the Service Trade between China and ASEAN’, International Journal of Economic and Finance, Vol. 1, No. 1, 221–24.

4. Ishido, Hikari. 2011. ‘Liberalization of trade in services under ASEAN+n: A mapping exercise’, ERIA Discussion Paper, No. 2.

5. Stephen V. Marks. 2015 ‘ASEAN-China Free Trade Agreement: Political Economy in Indonesia’, Bulletin of Indonesian Economic Studies, Vol 51 (2): 287-306

6. Koon Peng Ooi. 2016. ‘Examining the Impact of ASEAN-China Free Trade Agreement on Indonesian Manufacturing Employment’, CSAE Working Paper (WPS/ 2016-15), University of Oxford

7. ASEAN Secretariat 2003 (http://asean.org/joint-media-statement-of-the-2nd-asean-china-transport-ministers-meeting-yangon/)

8. ASEAN Secretariat 2016 (http://asean.org/storage/2016/09/Joint-Statement-of-ASEAN-China-Commemorative-Summit-Final.pdf)

9. ASEAN Secretariat and UNCTAD (2015), ‘ASEAN Investment Report 2015: Infrastructure Investment and Connectivity’.

10. ASEAN Secretariat and UNCTAD (2015), ‘ASEAN Investment Report 2015: Infrastructure Investment and Connectivity’.

11. http://asean.org/?static_post=external-relations-china-joint-declaration-of-the-heads-of-stategovernment-of-the-association-of-southeast-asian-nations-and-the-people-s-republic-of-china-on-strategic-partnership-for-peace-and-prosp

22 Yuzhu, Wang and Sarah Y. Tong. 2010. ‘China–ASEAN FTA Changes ASEAN’s Perspective on China’, East Asian Policy, Vol. 2, No. 2, 47–54.

12.http://www.asean.org/storage/images/archive/23rdASEANSummit/7.%20joint%20statement%20of%20the%2016th%20asean-china%20summit%20final.pdf

13. Anuson Chinvanno, (2015). ‘ASEAN-China Relations: Prospects and Challenges’, RJSH Vol. 2, No. 1: 9-14

 


[2] Cụ thể, hai nhận thức chung là tiếp tục xây dựng lòng tin và quan hệ láng giềng tốt đẹp giữa hai bên, bao gồm cả vấn đề Biển Ðông và tập trung thúc đẩy hợp tác kinh tế đôi bên cùng có lợi. Bảy kiến nghị là: Tích cực thảo luận khả năng ký một Hiệp định láng giềng tốt; Khởi động đàm phán nâng cấp ACFTA; Ðẩy nhanh kết nối hạ tầng khu vực; Thúc đẩy hợp tác tài chính khu vực nhằm ngăn ngừa rủi ro; Thúc đẩy hợp tác biển; Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực an ninh và Tăng cường hợp tác khoa học - công nghệ và trao đổi con người.

[4] Tính toán từ số liệu thu thập từ hệ thống dữ liệu thương mại của WTO.

[5] Yang, Chunmei. 2009. ‘Analysis on the Service Trade between China and ASEAN’, International Journal of Economic and Finance, Vol. 1, No. 1, 221–24.

[7] Trong năm 2010, các nước ASEAN nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc chịu mức thuế nhập khẩu bình quân là 0,6% (so với trước đó là 12,8%), trong khi đó Trung Quốc nhập khẩu hàng hóa ASEAN chỉ chịu mức thuế 0,1% (trước đó là 9,8%).

[8] Ishido, Hikari. 2011. ‘Liberalization of trade in services under ASEAN+n: A mapping exercise’, ERIA Discussion Paper, No. 2.

[9] ASEAN Transportation Cooperation. Chi tiết tại: https://www.unescap.org/sites/default/files/pub_2354_ann2.pdf

[10] Ngân hàng đầu tư hạ tầng châu Á: www.aiib.org

[11] https://thediplomat.com/2018/02/what-does-chinese-investment-mean-for-cambodia/

[16] Yuzhu, Wang and Sarah Y. Tong. 2010. ‘China–ASEAN FTA Changes ASEAN’s Perspective on China’, East Asian Policy, Vol. 2, No. 2, 47–54. 

[17] Các chương trình hợp tác khác bao gồm: kí kết hiệp ước láng giềng tốt; khởi động đàm phán nâng cấp ACFTA; Ðẩy nhanh kết nối hạ tầng khu vực; Thúc đẩy hợp tác tài chính khu vực nhằm ngăn ngừa rủi ro; Thúc đẩy hợp tác biển; Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực an ninh và Tăng cường hợp tác khoa học - công nghệ và trao đổi con người. Chi tiết tại: http://www.asean-china-center.org/english/2013-10/10/c_132785560.htm

[18]http://www.asean.org/storage/images/archive/23rdASEANSummit/7.%20joint%20statement%20of%20the%2016th%20asean-china%20summit%20final.pdf

[20] Anuson Chinvanno, (2015). ‘ASEAN-China Relations: Prospects and Challenges’, RJSH Vol. 2, No. 1: 9-14

[21] The China-ASEAN EXPO (CAEXPO) trưng bày các loại sản phẩm hàng hóa từ ASEAN và Trung Quốc. Sự kiện này được Trung Quốc tổ chức và là nước chủ nhà mỗi năm một lần kể từ năm 2004. Các sự kiên bên lề của CAEXPO là Thượng đỉnh đầu tư và kinh doanh ASEAN-Trung Quốc được tổ chức nhằm tập hợp chính phủ và khu vực tư nhân lại với nhau để trao đổi quan điểm về những vấn đề mà cả hia quan tâm..

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số tháng 7 năm 2018.

 

 

Các tin đã đưa ngày: