Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • left_banner_HTQT (1)

Kinh tế khu vực Đông Nam Á năm 2018 và triển vọng năm 2019

27/02/2019 - Số lượt xem: 3074

PGS. TS. Nguyễn Huy Hoàng

Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

1. Tình hình kinh tế khu vực Đông Nam Á năm 2018

1.1 Các nhân tố chủ yếu tác động tới kinh tế khu vực Đông Nam Á năm 2018

Tình hình kinh tế khu vực Đông Nam Á năm 2018 tiếp tục bị tác động mạnh mẽ bởi những diễn biến bất ổn và khó lường của kinh tế thế giới cũng như các thách thức bên trong của các nền kinh tế thành viên.

Thứ nhất, những điều chỉnh chính sách lãi suất của FED đã có tác động mạnh mẽ tới thị trường tài chính và tiền tệ của khu vực. Theo dự báo của FED, kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng mạnh mẽ ở mức 3,1% năm 2018, đặc biệt tăng trưởng trong quý II đạt mức cao nhất trong 4 năm qua với mức 4,2%. Sự phục hồi vượt bậc của kinh tế Mỹ có được là nhờ sự tăng lên trong tiêu dùng cá nhân, chi tiêu chính phủ và tăng trưởng xuất khẩu. Những kết quả tích cực này là cơ sở để FED tiến hành bình thường hóa chính sách tiền tệ thông qua 3 lần nâng lãi suất trong năm 2018 với tổng cộng 75 điểm lên mức 2%-2,25%.[1] Việc nâng lãi suất của FED trong năm qua đã dẫn tới những biến động mạnh mẽ của các nhà đầu tư trên các thị trường chứng khoán và thị trường tài sản ở khu vực. Bên cạnh đó, hầu hết các đồng tiền nội tệ trong khu vực đã bị mất giá so với đồng USD và dẫn tới áp lực điều chỉnh chính sách tiền tệ của nhiều nước trong khu vực.

Thứ hai, sự phân hóa về tăng trưởng giữa các nền kinh tế phát triển cũng gây ra những khó khăn và rủi ro đối với kinh tế khu vực. Trong khi nền kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh mẽ, kinh tế châu Âu đã có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất. Kinh tế Trung Quốc cũng giảm tốc nhẹ...Những diễn biến trái chiều này tạo ra biến động khó lường trong nhu cầu thế giới về hàng hóa và dịch vụ từ các nền kinh tế trong khu vực.

Thứ ba, sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ đã dẫn tới những căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế lớn và tác động khó lường tới kinh tế khu vực trong năm 2018. Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đã leo thang nghiêm trọng sau khi hai cường  quốc này liên tục đưa ra các biện pháp áp thuế lên các hàng hóa xuất khẩu của nhau. Bên cạnh đó, các căng thẳng thương mại giữa Mỹ và các đối tác thương mại lớn khác như EU, Canada, Mexico cũng đã ảnh hưởng tiêu cực trong ngắn hạn tới hoạt động thương mại và môi trường tài chính toàn cầu cũng như tác động tới nhiều nhà đầu tư nước ngoài ở thị trường khu vực Đông Nam Á. Về mặt dài hạn, tác động của việc gia tăng chủ nghĩa bảo hộ này còn rất khó lường khi mà các nước có thể sẽ áp đặt những biện pháp nhằm hạn chế nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ các nước trong khu vực. Tuy nhiên, tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung cũng có thể mang lại cơ hội cho các nền kinh tế trong khu vực khi mà chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu thay đổi và chuyển hướng sang khu vực Đông Nam Á.

Thứ tư, sự biến động giá nhiên liệu thế giới cũng tạo ra áp lực lạm phát đối với nhiều nền kinh tế trong khu vực. Do những lo ngại thiếu hụt nguồn cung, giá dầu thô thế giới trong năm nay có thời điểm tăng lên mức kỷ lục 75 USD/ thùng (tháng 7)– mức cao nhất trong vòng 3 năm qua.[2] Điều này tạo ra áp lực tăng giá các sản phẩm hàng hóa và rủi ro lạm phát của các nền kinh tế trong khu vực tăng cao.

Thứ năm, ngoài các nhân tố trên, tình hình kinh tế khu vực Đông Nam Á cũng còn chịu ảnh hưởng một số nhân tố bên trong mỗi nước thành viên. Một số nhân tố chính bao gồm: tác động của các diễn biến chính trị (chuyển đổi quyền lực chính trị ở Malaysia, bầu cử quốc hội ở Campuchia...), các điều chỉnh chính sách kinh tế (thuế khóa, đầu tư,...), tác động của thiên tai (thảm họa động đất sóng thần ở Indonesia hồi cuối tháng 9, siêu bão Mangkhut ở Philippines,...). Những nhân tố này cũng đã tác động tới cả về phía cung và cầu đối với tăng trưởng kinh tế khu vực trong năm 2018.

1.2 Đánh giá tình hình kinh tế của khu vực Đông Nam Á năm 2018

Thứ nhất, nhìn tổng thể, tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực Đông Nam Á năm 2018 vẫn được duy trì ổn định so với các khu vực và nền kinh tế khác khác mặc dù phải đối mặt với nhiều biến động lớn và khó lường từ tình hình kinh tế chính trị thế giới cũng như các thách thức ở trong nước đem lại. Theo dự báo của OECD (2018b), kinh tế của khu vực ASEAN sẽ tiếp tục giữ được đà tăng trưởng của năm 2017 với mức 5,3% (Bảng 1). Trong khu vực, tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN-5[3] năm 2018 có xu hướng giảm xuống so với năm 2017, ngoại trừ Việt Nam. CLMV được dự báo vẫn đạt mức cao nhất, song duy nhất chỉ có Việt Nam có sự cải thiện so với năm 2017 (6,9%) trong khi đó các nước CLM đều bị suy giảm. Kinh tế Thái Lan cũng cải thiện tương đối mạnh mẽ trong năm 2018. Kinh tế Malaysia biến động mạnh nhất với mức dự báo tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 4,9% năm 2018 (so với mức 5,9% năm 2017) trong bối cảnh chuyển giao quyền lực cho chính phủ mới. Xu hướng sụt giảm tăng trưởng kinh tế của Philippines dưới sự cầm quyền của chính quyền Tổng thống Duterte ngày càng rõ rệt với mức dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2018 là 6,4%, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng.

Bảng 1 – Tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế trong ASEAN (Đơn vị: %)

Quốc gia

2016

2017

2018*

2018-2022

Indonesia

5,0

5,1

5,2

5,4

Malaysia

4,2

5,9

4,9

4,9

Philippines

6,9

6,7

6,4

6,4

Thái Lan

3,2

3,9

4,5

3,6

Việt Nam

6,2

6,8

6,9

6,2

Brunei

-2,5

1,3

2,0

0,5

Singapore

2,0

3,6

3,5

2,3

Campuchia

6,9

7,0

7,0

7,2

Lào

7,0

6,9

6,6

7,1

Myanmar

5,9

6,8

6,6

7,4

ASEAN

4,8

5,3

5,3

5,2

 

(*: Dự báo)

Nguồn: OECD

Thứ hai, mặc dù tiêu dùng trong nước tiếp tục là trụ cột quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của khu vực, song tốc độ tăng trưởng tiêu dùng có sự chững lại so với năm 2017. Trong đó, chi tiêu chính phủ trong khu vực vào các dự án cơ sở hạ tầng của một số nước đã giảm xuống do những khó khăn trong tài khóa hay lo ngại về rủi ro nợ công. Như trường hợp của Malaysia, chính phủ đã quyết định huỷ một số dự án cơ sở hạ tầng trong Sáng kiến Vành đai Con đường (BRI) của Trung Quốc. Bên cạnh đó, tăng trưởng tiêu dùng tư nhân của một số nền kinh tế cũng bị chững lại do những điều chỉnh thuế khóa của chính phủ. Về phía cung, sự cải thiện trong lĩnh vực dịch vụ đã bù đắp cho sự chững lại của ngành công nghiệp. Lĩnh vực nông nghiệp cũng tăng trưởng tương đối ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi. Ngoài ra, tình hình xuất khẩu cũng có nhiều biến động do sự chững lại của nền kinh tế Trung Quốc và EU cũng như những căng thẳng thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế lớn.

Thứ ba, mặc dù giá nhiên liệu và thực phẩm thế giới tăng cùng với nhiều áp lực từ bên ngoài khác, song tình hình lạm phát của khu vực Đông Nam Á trong năm 2018 về cơ bản vẫn được duy trì ổn định, ngoại trừ trường hợp của Philippines. Một trong những nguyên nhân giúp lạm phát ở mức kiểm soát là nhờ giá cả các mặt hàng thiết yếu ít có biến động lớn. Trong đó, giá cả thực phẩm được giữ ổn định nhờ hoạt động sản xuất nông nghiệp thuận lợi. Tuy nhiên, trong khu vực, tình hình lạm phát của Philippines năm 2018 đã tăng mạnh, vượt xa mục tiêu của chính phủ đề ra (2-4%).

Thứ tư, những điều chỉnh lãi suất của FED cùng với sự leo thang căng thẳng trong cuộc chiến Mỹ-Trung đã tác động mạnh tới thị trường tài chính và tiền tệ của khu vực Đông Nam Á trong năm 2018. Năm 2018 tiếp tục chứng kiến các dòng vốn rút ra khỏi các thị trường tài sản và chứng khoán. Trong đó, thị trường tài chính của Indonesia chịu tác động mạnh nhất do quốc gia này phụ thuộc rất lớn vào các dòng vốn nước ngoài để trang trải thâm hụt tài khoản vãng lai. Bên cạnh đó, nhiều đồng tiền trong khu vực đã mất giá mạnh so với đồng USD như đồng Rupiah, Peso. Trước những áp lực này, NHTW của một số nước trong khu vực đã buộc phải điều chỉnh chính sách tiền tệ liên tiếp trong giai đoạn nửa sau của năm 2018 nhằm ổn định đồng tiền và hệ thống tài chính. Đặc biệt, NHTW BSP của Philippines đã phải tăng lãi suất liên tục với tổng cộng 175 điểm cơ bản kể từ tháng 5 – mức điều chỉnh lớn nhất trong khu vực, tiếp theo là NHTW Indonesia (tăng 5 lần lãi suất với tổng cộng 150 điểm cơ bản).

1.3 Đánh giá tình hình kinh tế của một số nước trong khu vực năm 2018

1.3.1 Indonesia

Kinh tế Indonesia năm 2018 được dự báo ở mức 5,2%, tăng nhẹ so với năm 2017 (5,1%). Trong đó, nhu cầu trong nước đã đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng với sự mở rộng chi tiêu chính phủ và của khu vực tư nhân trong một số sự kiện chính như cuộc bầu cử địa phương giai đoạn giữa năm và sự kiện Asian Games trong tháng 8 và tháng 9 do Indonesia đăng cai tổ chức. [4] Ngoài ra, tăng trưởng cũng được hỗ trợ nhờ tình hình lạm phát được kiểm soát tương đối tốt và cải thiện trong thị trường lao động. Về phía cung, lĩnh vực nông nghiệp đã tăng trưởng tương đối tốt nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi. Sản lượng nông nghiệp đã tăng từ 3,3% quý I lên 4,8% trong quý II và 3,6% quý III/2018. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng dầu mỏ, khí gas đã được cải thiện sau 7 quý sụt giảm liên tiếp. Trong khi đó, sản xuất quặng kim loại và các vật liệu xây dựng tăng mạnh kể từ quý I. Lĩnh vực chế tạo cũng được phục hồi trong quý III. Lĩnh vực dịch vụ cũng tăng trưởng tương đối ổn định trong năm 2018 nhờ sự đóng góp của các ngành công nghệ thông tin, thương mại bán buôn và bán lẻ, vận tải và kho chứa.

Mặc dù vậy, Indonesia là một trong số các quốc gia ở khu vực bị tác động mạnh nhất trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ trước các biến động bên ngoài do quốc gia này phụ thuộc rất lớn vào các dòng vốn nước ngoài để trang trải thâm hụt tài khoản vãng lai. Đặc biệt, trong khu vực, đồng rupiah bị mất giá mạnh nhất so với các đồng tiền khác. Tính bình quân trong 10 tháng đầu năm, đồng Rupiah đã mất giá 12,42% so với đồng USD, thậm chí tỷ giá đồng Rp với đồng USD đã giảm xuống mức kỷ lục còn 15.051 Rupiah/USD vào ngày 2/10, gần sát với mức thấp nhất trong vòng 20 năm qua.[5] Điều này buộc NHTW Indonesia đã phải điều chỉnh tăng lãi suất chủ chốt 5 lần với tổng cộng 150 điểm cơ bản trong năm 2018 để hạn chế sự mất giá của đồng Rupiah cũng như để kiểm soát mức thâm hụt tài khoản vãng lai. Ngoài ra, BI cũng đã phải bổ sung hàng tỷ USD nguồn dự trữ ngoại hối nhằm đối phó với việc đồng Rupiah bị mất giá mạnh.

1.3.2 Philippines

Mặc dù vẫn là một trong số những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc loại cao nhất khu vực, song Philippines đang cho thấy xu hướng suy giảm trong thời gian gần đây. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Philippines năm 2018 được dự báo đạt 6,4%, thấp hơn so với năm 2017 (6,7%) và năm 2016 (6,9%). Về phía cung, sản lượng nông nghiệp đã giảm mạnh. Lĩnh vực nông nghiệp chỉ tăng trưởng 0,3% trong quý II, mức thấp nhất kể từ quý IV/2016. Đặc biệt, siêu bão Mangkhut đã tác động nặng nề tới lĩnh vực nông nghiệp. Trong khi đó, lĩnh vực chế tạo tăng trưởng chậm lại trong nhiều quý liên tiếp. Mặc dù vậy, lĩnh vực dịch vụ vẫn là trụ cột chính đóng góp vào tăng trưởng với sự mở rộng mạnh mẽ của các ngành dịch vụ công, tài chính, vận tải, viễn thông và kho bãi.

Lạm phát của Philippines năm 2018 tăng cao liên tục và không có dấu hiệu hạ nhiệt, đặc biệt ở giai đoạn nửa sau của năm. Đặc biệt, trong tháng 9, lạm phát tăng lên mức 6,7% - mức cao kỷ lục trong 9 năm qua.[6] Tình hình lạm phát đã nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ đề ra (2-4%). Nguyên nhân lạm phát tăng cao chủ yếu là do các áp lực tăng giá về phía cung, bao gồm: giá dầu mỏ thế giới tăng cũng như tác động của việc chính phủ tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nhiên liệu và một số mặt hàng thuốc lá, rượu…theo Luật Cải cách thuế quan mới (có hiệu lực từ tháng 1/2018). Ngoài ra, giá lương thực và năng lượng tiếp tục tăng cao còn xuất phát từ điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt tác động của cơn bão Mangkhut.

Cũng như nhiều đồng tiền khác trong khu vực, đồng Peso đã bị mất giá mạnh so với đồng USD. Đặc biệt, có thời điểm, tỷ giá đồng Peso/USD đã rớt xuống còn 53,26 vào tháng 6, thấp kỷ lục trong vòng 12 năm qua.[7] Tính tới tháng 8, đồng Peso đã mất giá hơn 7% so với đồng USD và là một trong những đồng tiền bị mất giá mạnh nhất ở khu vực châu Á. Áp lực lạm phát tăng cao cùng với sự mất giá mạnh của đồng Peso đã buộc BSP phải liên tục điều chỉnh tăng lãi suất trong năm nay với tổng cộng 175 điểm cơ bản kể từ tháng 5 nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Hệ quả của tình trạng mất kiểm soát lạm phát và tăng lãi suất đã ảnh hưởng tới tiêu dùng trong nước và niềm tin của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục rút vốn ra khỏi thị trường trong những tháng cuối năm.

1.3.3 Malaysia

Tăng trưởng kinh tế của Malaysia năm 2018 được dự báo ở mức 4,9%, thấp hơn so với những dự báo đầu năm. Điều này một phần là do tăng trưởng xuất khẩu đã giảm xuống kể từ quý II, đặc biệt là các mặt hàng công nghiệp chế tạo. Tăng trưởng tiêu dùng trong nước cũng chững lại sau khi chính phủ đưa ra thuế tiêu dùng trong tháng 9.

Tình hình thu hút FDI cũng có xu hướng giảm trong năm 2018, đặc biệt dòng vốn FDI trong quý II đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ quý IV/2012. Việc chính phủ cắt giảm một số dự án đầu tư cũng khiến cho tình hình đầu tư trở nên trì trệ. Trong đó, quyết định huỷ một số dự án cơ sở hạ tầng theo Sáng kiến Vành đai con đường (BRI) của Trung Quốc đã gây ra những thiệt hại trong ngắn hạn cho tăng trưởng, thương mại và đầu tư của Malaysia. Bên cạnh đó, khó khăn tài khóa cùng với những lo ngại về gia tăng nợ công cũng tác động hạn chế mức chi tiêu công.

Mặc dù cũng chứng kiến sự rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài ra khỏi thị trường tài sản do các tác động bên ngoài, song Malaysia vẫn là thị trường ít chịu sự thoái vốn trong khu vực ASEAN. Đây là cơ sở để NHTW Malaysia tiếp tục giữ nguyên mức lãi suất chính sách.

1.3.4 Thái Lan

Tăng trưởng kinh tế Thái Lan ước đạt 4,5% năm 2018, cải thiện đáng kể so với trong năm 2017. Đặc biệt, nền kinh tế đạt tăng trưởng cao vào 2 quý đầu của năm với mức tăng lần lượt là 4,9% và 4,6%. Trong bối cảnh chi tiêu chính phủ giảm xuống thì tiêu dùng tư nhân thông qua việc đẩy mạnh trong lĩnh vực đầu tư cố định đã bù đắp cầu nội địa, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Thái Lan trong năm nay. Xuất khẩu hàng hóa đã tăng đáng kể trong nửa đầu năm từ 4,7% quý I lên 7,4% quý II. Tuy nhiên, xuất khẩu dịch vụ đã giảm xuống. Về phía cung, lĩnh vực nông nghiệp tăng trưởng tốt, từ mức 6,5% quý I lên 10,4% quý II nhờ sự cải thiện nhu cầu của các thị trường bên ngoài, điều kiện thời tiết thuận lợi. Ở lĩnh vực công nghiệp, trong khi ngành xây dựng được cải thiện thì các ngành chế tạo và khai thác mỏ tăng trưởng trì trệ. Trong lĩnh vực dịch vụ, các ngành thương mại bán buôn và bán lẻ và dịch vụ tài chính có mức tăng trưởng nhanh nhất.

Sự cải thiện về tăng trưởng kinh tế của Thái Lan trong năm nay cũng được hỗ trợ nhờ tình hình lạm phát được duy trì ở mức thấp và ổn định. Bên cạnh đó, mặc dù cũng bị mất giá so với đồng USD, song đồng Bạt được đánh giá là ổn định nhất trong số các đồng tiền trong khu vực. Tính tới tháng 11, đồng Bạt chỉ mất giá khoảng 0,9% so với đồng USD. Cùng với sự ổn định của đồng Bạt và nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào đã giúp cho NHTW Thái Lan không phải chịu áp lực tăng lãi suất như nhiều quốc gia khác trong khu vực (giữ nguyên ở mức 1,5% trong hơn 2 năm qua) và đảm bảo việc thực hiện chủ động các chính sách tiền tệ.

1.3.5 Việt Nam

Kinh tế Việt Nam được dự báo tiếp tục đạt mức tăng trưởng GDP cao nhất trong các nước ASEAN-5 với mức 6,9%  (OECD). Đáng chú ý là tăng trưởng GDP trong 9 tháng đầu năm đạt 6,98%, mức tăng 9 tháng cao nhất từ năm 2011. Sự tăng trưởng tốt trong các lĩnh vực sản xuất đã góp phần quan trọng vào kết quả tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay. Lĩnh vực nông nghiệp đã phục hồi đáng kể nhờ điều kiện thuận lợi từ bên ngoài, đặc biệt ngành thủy sản tăng trưởng mạnh với mức tăng 6,73% - mức cao nhất trong 8 năm qua.[8] Trong lĩnh vực công nghiệp, ngành công nghiệp và xây dựng trong 3 quý đầu năm đạt tăng trưởng 8,89%, cao hơn nhiều so với cùng kỳ các năm trước. Ngành dịch vụ cũng tiếp tục cải thiện tích cực, đặc biệt là ngành bán buôn và bán lẻ, du lịch.

Lạm phát của Việt Nam tăng tương đối cao ở giai đoạn giữa năm (với mức 4,67% hồi tháng 6) và duy trì ở mức 3,98% trong quý III. Điều này là do giá cả lương thực, thực phẩm tăng mạnh trở lại so với năm 2017. Bên cạnh đó, cũng như nhiều quốc gia khác trong khu vực, đồng VND cũng bị mất giá so với đồng USD do tác động từ việc FED tăng lãi suất trong quý III cũng như lo ngại từ cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung. Mặc dù vậy, đồng VND vẫn giữ tương đối ổn định so với các nước trong khu vực nhờ nguồn ngoại tệ ổn định có được từ xuất khẩu.

1.3.6 Singapore

Tăng trưởng kinh tế của Singapore năm 2018 ước tính ở mức 3,5%, giảm nhẹ so với năm 2017 (3,6%). Nền kinh tế có xu hướng giảm dần tốc độ tăng trưởng qua các quý với mức 4,6% quý I, 4,1% quý II và 2,6% quý III. Trong đó, lĩnh vực chế tạo có sự sụt giảm mạnh mẽ, từ mức 10,8% quý I xuống còn 4,5% quý III. Lĩnh vực dịch vụ cũng có xu hướng giảm nhưng với mức độ thấp hơn.

Về phía cầu, tiêu dùng tư nhân tăng trưởng chậm do chịu tác động của việc lãi suất và giá cả tài sản tăng. Bên cạnh đó, chi tiêu chính phủ cũng giảm mạnh qua các quý, từ 8,7% quý I xuống còn 2,2% quý II. Lĩnh vực xuất khẩu có cải thiện đáng kể trong những quý cuối của năm, đặc biệt các sản phẩm hóa chất, nhiên liệu khoáng và sản phẩm chế tạo.

1.3.7 Các nước CLM

Các nước CLM tiếp tục tăng trưởng ở mức cao nhất trong khu vực nhờ vào sự ổn định trong tiêu dùng tư nhân, đầu tư và hoạt động xuất khẩu. Trong đó, nền kinh tế Campuchia tiếp tục đạt mức tăng trưởng tốt nhất so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Niềm tin vào môi trường kinh doanh là nhân tố quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng ổn định của Campuchia trong năm 2018. Bất động sản, vận tải và kho bãi là những lĩnh vực phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây.[9] Tình hình đầu tư FDI tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ từ 8,23% quý I lên 38,7% quý II, đặc biệt dòng FDI chảy chủ yếu vào các lĩnh vực ngân hàng, lắp ráp, điện tử và bất động sản. Chi tiêu chính phủ cũng tăng trưởng ổn định ở mức bình quân 16,3% trong 8 tháng đầu năm. Lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa cũng tăng lên, đặc biệt các mặt hàng may mặc và nông nghiệp. Đối với Lào, tăng trưởng kinh tế năm 2018 ước tính ở mức 6,6%, giảm nhẹ so với năm 2017 (6,9%). Điều này là do tăng trưởng xuất khẩu có xu hướng chậm lại so với năm 2017, đặc biệt là các mặt hàng nông nghiệp do sự sụt giảm giá cao su và cà phê. Cũng tương tự như Lào, tăng trưởng kinh tế của Myanmar năm 2018 được dự báo ở mức 6,6%, thấp hơn so với năm 2017 (6,8%). Một phần nguyên nhân là do lĩnh vực nông nghiệp đã chịu tác động nặng nề của trận lụt hồi quý III

2. Triển vọng tăng trưởng kinh tế của khu vực Đông Nam Á năm 2019

2.1 Một số nhân tố tác động tới kinh tế khu vực năm 2019

  1. Những nhân tố thuận lợi

- Khả năng đồng USD giảm giá trong năm 2019 sẽ giúp ổn định lại các đồng tiền nội tệ trong khu vực sau nhiều biến động mạnh trong năm 2018. Theo dự báo của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO), nền kinh tế Mỹ sẽ giảm tốc còn 2,4% do tăng trưởng trong đầu tư kinh doanh và chi tiêu chính phủ chậm lại. Đây là mức thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 3% của chính quyền Tổng thống Donal Trump. Sự giảm tốc này sẽ khiến FED có khả năng dừng tăng lãi suất trong năm tới và dẫn tới đồng USD sẽ giảm giá. Nếu kịch bản này xảy ra thì đây sẽ là nhân tố thuận lợi cho các thị trường tài chính và tiền tệ trong khu vực trong bối cảnh một lượng lớn dòng vốn rút ra khỏi các thị trường chứng khoán và tài sản trong năm 2018 cũng như áp lực lớn tới tăng lãi suất khi các đồng nội tệ bị mất giá so với đồng USD.

- Việc tạm dừng leo thang cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung sau khi hai bên thống nhất sẽ không áp thêm thuế quan lên hàng hóa xuất khẩu của nhau là tín hiệu tích cực đối với kinh tế toàn cầu nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng.[10] Mặc dù đây mới chỉ là cam kết chứ chưa có bất cứ văn bản ký kết chính thức nào giữa hai bên, song có thể thấy những tác động tích cực gần như ngay lập tức đối với thị trường chứng khoán toàn cầu. Hầu hết các sàn chứng khoán khu vực Đông Nam Á đã đồng loạt tăng điểm sau đó. Trong bối cảnh lo ngại về leo thang chiến tranh thương mại gần đây tăng cao thì đây có thể coi là tín hiệu tích cực cho ổn định và tăng trưởng kinh tế khu vực trong năm 2019.

- Việc đẩy nhanh tiến độ phê chuẩn thông qua CPTPP trong thời gian qua cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho 4 nước ASEAN tham gia vào hiệp định này có thể nhanh chóng tận dụng lợi ích từ CPTPP mang lại khi việc cắt giảm thuế quan có thể được thực hiện từ tháng 1/2019.[11]

Ngoài các nhân tố từ bên ngoài trên, sự củng cố vững chắc trong nền tảng kinh tế vĩ mô của các nước trong khu vực thông qua các cải cách và tái cấu trúc từ sau khủng hoảng tài chính châu Á đến nay sẽ là yếu tố thuận lợi để các nền kinh tế khu vực có thể giảm thiểu và thích ứng tốt hơn những tác động từ các biến động kinh tế bên ngoài cũng như để tăng trưởng kinh tế ổn tốt hơn trong năm 2019.

2.1.2 Một số rủi ro và thách thức đối với tăng trưởng của khu vực năm 2019

Các rủi ro và thách thức đối với sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực năm 2019 và trong thời gian tới vẫn chủ yếu bắt nguồn từ những biến động khó lường trong tình hình kinh tế chính trị thế giới.

- Nếu kịch bản kinh tế Mỹ không giảm tốc mà tiếp tục tăng trưởng cao xảy ra thì kinh tế khu vực sẽ phải đối mặt với rủi ro lớn trên thị trường tài chính và lĩnh vực thương mại. Theo kịch bản này, FED có thể tiếp tục tăng lãi suất và dẫn tới sự rút vốn mạnh của các nhà đầu tư ra khỏi thị trường tài sản khu vực cũng như áp lực mất giá lớn hơn của các đồng tiền nội tệ. Điều này có thể gây ra mất ổn định và ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế khu vực.

- Trong trường hợp căng thẳng thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Trung Quốc tiếp tục leo thang sẽ tạo ra bất ổn và rủi ro đối với kinh tế khu vực. Mặc dù diễn biến mới nhất của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung khá tích cực, song đây vẫn chỉ được coi là cam kết “ngừng chiến” mà chưa giải quyết được những vấn đề căn cốt giữa hai bên, nhất là với những vấn đề còn bất đồng lớn như quyền sở hữu trí tuệ và tiếp cận thị trường. Nếu các xung đột thương mại kéo dài sẽ tác động tiêu cực tới niềm tin của các nhà đầu tư và tạo ra rủi ro khó lường trong hoạt động sản xuất và đầu tư ở khu vực do đây là hai thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của khu vực. Do vậy, những rủi ro liên quan tới căng thẳng thương mại vẫn là một trong những lo ngại lớn nhất đối với triển vọng tăng trưởng kinh tế khu vực năm 2019. Mặc dù vậy, các nền kinh tế khu vực Đông Nam Á cũng có thể có lợi khi các tập đoàn, công ty nước ngoài rút khỏi Trung Quốc và chuyển sang đầu tư ở khu vực.

 

2.2 Dự báo kinh tế khu vực Đông Nam Á và một số quốc gia năm 2019

Mặc dù triển vọng kinh tế toàn cầu có nhiều biến động khó lường trong năm tới, song triển vọng tăng trưởng kinh tế của khu vực Đông Nam Á vẫn được dự báo khá tích cực. Trong đó, phần lớn các nền kinh tế ASEAN-5 tăng trưởng cao hơn năm 2018, ngoại trừ Việt Nam và Thái Lan có dấu hiệu chững lại. Các nước CLM tiếp tục tăng trưởng cao, đặc biệt kinh tế Myanmar sẽ tăng trưởng cao nhất khu vực trong năm 2019 (Bảng 2). Tiêu dùng tư nhân sẽ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng nhờ lương và thị trường lao động tiếp tục được cải thiện. Xuất khẩu vẫn được duy trì mặc dù có thể sẽ tăng trưởng chậm hơn so với năm 2018. Nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc sẽ giúp các nền kinh tế trong khu vực ứng phó tốt hơn với các thách thức từ bên ngoài. Tuy nhiên, thị trường tài chính - tiền tệ vẫn sẽ là một trong những lĩnh vực ẩn chứa nhiều rủi ro nhất và đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ của các chính phủ để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.

Bảng 2– Dự báo tăng trưởng kinh tế của ASEAN năm 2019 (Đơn vị: %)

Quốc gia

2019

Indonesia

5,4

Malaysia

5,1

Philippines

6,7

Thái Lan

3,9

Việt Nam

6,6

Brunei

2,1

Singapore

3,0

Campuchia

7,0

Lào

6,9

Myanmar

7,1

ASEAN

5,3

 

Nguồn: OECD

Dự báo đối với một số nền kinh tế trong khu vực năm 2019

Indonesia

Kinh tế Indonesia được dự báo tăng trưởng ở mức 5,4% năm 2019 và duy trì ổn định trong trung hạn. Nhờ những cải cách hành chính gần đây của chính phủ Indonesia, môi trường đầu tư kinh doanh đã có nhiều cải thiện và góp phần thúc đẩy mở rộng sản xuất và gia tăng cơ hội việc làm. Cuộc bầu cử quốc gia dự kiến diễn ra vào tháng 4/2019 cũng sẽ góp phần đẩy mạnh tiêu dùng trong nước. Lĩnh vực tài khóa của Indonesia cũng tiếp tục được cải thiện từ quý IV/2017. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện nhiều dự án đầu tư công bị trì trệ và những rủi ro từ các yếu tố bên ngoài là những yếu tố có thể làm suy giảm tăng trưởng của Indonesia trong năm 2019.

Philippines

Tăng trưởng kinh tế của Philippines được dự báo tiếp tục duy trì với mức 6,7% trong năm 2019, cao nhất trong các nước ASEAN-5. Trong đó, chi tiêu chính phủ và đầu tư công vào cơ sở hạ tầng thông qua chương trình “Build, Build, Build” của chính quyền Duterte được hi vọng đẩy mạnh hơn nữa để có thể đóng góp lớn hơn vào tăng trưởng. Bên cạnh đó, tăng trưởng tiêu dùng tiêu nhân tiếp tục được hỗ trợ nhờ nguồn kiều hối chuyển về ổn định.

Malaysia

Tăng trưởng kinh tế của Malaysia có thể sẽ giảm nhẹ trong năm 2019 khi mà các nhà đầu tư vẫn có tâm lý lo ngại về những thay đổi trong chính sách của chính phủ mới, đặc biệt việc đánh giá lại các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng lớn. Bên cạnh đó, mặc dù chính phủ Malaysia đã tiến hành một số cải cách ngân sách gần đây, song vấn đề tài khóa vẫn là một trong những lo ngại đối với nền kinh tế trong năm 2019.

Thái Lan

Kinh tế Thái Lan năm 2019 được dự báo tăng trưởng ở mức 3,9%, thấp hơn so với năm 2018 do tăng trưởng trong tiêu dùng tư nhân và xuất khẩu chậm hơn. Mặc dù vậy, lĩnh vực đầu tư cố định có thể tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm 2019 và trung hạn nhờ những cải thiện môi trường kinh doanh gần đây sau khi chính phủ đưa ra Luật Tăng cường Năng lực cạnh tranh quốc gia trong một số ngành và sửa đổi Luật Khuyến khích Đầu tư. Chính phủ Thái Lan cũng đưa ra kế hoạch chi tiêu vào các dự án lớn vào nửa đầu năm 2019, đặc biệt là các dự án như tuyến đường sắt tốc độ cao kết nối với 3 sân bay quốc tế, đầu tư mới vào sân bay U-tapao và mở rộng cảng biển nước sâu ở Laem Chabang và Map Ta Phut được hi vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn.

Các nước CLM

Các nước CLM được dự báo tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong năm 2019. Trong đó, kinh tế Myanmar có thể đạt mức tăng trưởng cao nhất khu vực Đông Nam Á với tốc độ 7,1%. Điều này là do sự đẩy mạnh các dự án đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng của chính phủ gần đây, đặc biệt là các dự án nằm trong Kế hoạch Tổng thể Vận tải Quốc gia của Myanmar. Chính phủ Myanmar cũng đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư như nới lỏng các quy định sở hữu doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực game và giải trí, hình thành các đặc khu kinh tế mới,... Đối với Campuchia, dòng vốn nước ngoài được kỳ vọng tiếp tục tăng lên mạnh mẽ trong thời gian tới và góp phần tạo ra việc làm và kích thích chi tiêu của các hộ gia đình. Bên cạnh đó, sự tham gia của Campuchia vào các dự án cơ sở hạ tầng ở GMS và Sáng kiến Vành đai Con đường cũng giúp giảm thiểu áp lực tài khóa cho chính phủ. Kinh tế Lào sẽ vẫn giữ được đà tăng trưởng trong năm 2019 và trung hạn nhờ sự mở rộng các dự án năng lượng điện và các dự án đầu tư vào các đặc khu kinh tế mới. Cũng như Campuchia, việc tham gia vào các dự án cơ sở hạ tầng ở GMS và BRI sẽ hỗ trợ tăng trưởng trong trung hạn và hạn chế áp lực tài khóa. Tuy nhiên, vấn đề thanh khoản và nợ xấu của ngân hàng vẫn là rủi ro đối với nền kinh tế./.

 

 

Tài liệu tham khảo

ADB (2018), Asian Development Outlook 2018 Update: Maintaining stability amid heightened uncertainty, September 2018, https://www.adb.org/sites/default/files/publication/452971/ado2018-update.pdf

IMF (2018), Regional Economic Outlook Update

OECD (2018a), Economic Outlook for Southeast Asia, China and India 2018: Fostering growth through digitalization

OECD (2018b), Economic Outlook for Southeast Asia, China and India 2019: Towards Smart Urban Transportation, http://www.oecd.org/development/asia-pacific/SAEO_2019_Overview.pdf

World Bank (2018), East Asia and Pacific Economic Update Oct 2018, https://openknowledge.worldbank.org/bitstream/handle/10986/30447/9781464813665.pdf?sequence=5&isAllowed=y

 

 


[3] Trong báo cáo này, ASEAN-5 bao gồm các nước: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam.

[4] Sự mở rộng đầu tư vào xây dựng cơ sở vật chất và các loại hình kiến trúc khác đã tăng từ 5,6% trong 6 tháng đầu năm lên 5,7% trong quý III/2018.

[8] Nguồn: VEPR, Báo cáo kinh tế vĩ mô Việt Nam Quý 3-2018

[9] Nguồn tín dụng cho vay trong lĩnh vực bất động sản và vận tải và kho bãi tăng lần lượt là 48,2% và 42,15%. Nguồn: OECD (2018b).

[10] Thỏa thuận này được đưa ra sau cuộc gặp giữa ông Trump và ông Tập bên lề thượng đỉnh G20 ở thủ đô Buenos Aires của Argentina vào ngày 1/12. Theo đó, Mỹ sẽ giữ nguyên thuế suất bổ sung đối với 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc ở mức 10% như hiện nay trong vòng 90 ngày, không nâng thuế suất lên 25% kể từ ngày 1/1/2019 như dự định.

[11] Có 4 nước ASEAN tham gia vào CPTPP bao gồm: Việt Nam, Malaysia, Singapore và Brunei. Việt Nam chính thức  trở thành thành viên thứ 7 của CPTPP sau khi Quốc hội phê chuẩn thông qua vào ngày 12/11. Tính tới nay, có 7/11 thành viên đã phê chuẩn thông qua CPTPP.

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á. Số 1 – 2019

 

 

 

Các tin đã đưa ngày: