Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • left_banner_HTQT (1)

Mô hình và thực tiễn quản lý sự phát triển xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

14/05/2019 - Số lượt xem: 199

GS.TS. Trịnh Duy Luân, Nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta là chủ đề được giới nghiên cứu và các nhà quản lý thảo luận khá sôi nổi trong thời gian vừa qua. Đi sâu hơn vào chủ đề này là vấn đề có hay không một mô hình PTXH hay mô hình quản lý PTXH thích hợp ở nước ta hiện nay trên cả 2 cả phương diện: nhận thức và thực tiễn ? Bài viết này là bước đầu thử trả lời cho những câu hỏi này.     

1. Mô hình phát triển xã hội

          Trong lĩnh vực xã hội, mô hình là tập hợp các yếu tố / trụ cột cơ bản trong một hệ thống, được điều hành, giám sát và quản lý một cách có ý thức, trên cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn. Các yếu tố / trụ cột như­ là những modules của một hệ thống, có tương tác qua lại xác định, có thể điều chỉnh trong nội bộ mô hình khi cần thiết để bảo đảm quá rình phát triển xã hội cân bằng, bền vững cùng với các lĩnh vực phát triển kinh tế và bảo vệ môi tr­ường.

          Mô hình PTXH cũng là sự mô hình hóa, hệ thống hóa các yếu tố của lĩnh vực PTXH trong một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất bao gồm: i)  Các yếu tố “thực thể” cấu thành mô hình; ii) Chức năng, vai trò và vị trí của từng yếu tố trong mô hình đư­ợc xác định; iii) Cơ cấu và tư­ơng tác / liên kết giữa tất cả các yếu tố, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài hệ thống được định hình; iv) Đ­ược l­ượng hóa, có thể điều khiển, giám sát, đánh giá các kết quả và hiệu quả tác động; v) Có các công cụ giám sát hiệu quả như: hệ thống chỉ báo và các tổ chức chuyên môn theo dõi và giám sát đánh giá định kỳ về tác động thực tế của các lĩnh vực/ yếu tố PTXH.

2. Thực tế về “mô hình quản lý PTXH” ở nước ta hiện nay        

Mô hình quản lý PTXH như đã xác định ở trên phải là một cấu trúc, một thiết chế tương đối ổn định, được thể chế hóa, có vai trò / chức năng điều tiết bảo đảm sự PTXH ổn định, tiến bộ, và có thể linh hoạt điều chỉnh trước những thay đổi trong thực tiễn PTXH.

Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến loại “mô hình quản lý PTXH” mang tính thực tiễn - ứng dụng. Nó gắn liền tương ứng với các lĩnh vực và các thiết chế thuộc bộ máy quản lý nhà nước hiện hành và khác với các mô hình PTXH hay quản lý PTXH mang tính lý thuyết, không có liên hệ trực tiếp với hoạt động quản lý thực tiễn của lĩnh vực PTXH.

 Mô hình quản lý thực tiễn - ứng dụng này sẽ tích hợp nhiều yếu tố và chiều cạnh của sự PTXH, cùng với những yếu tố của hoạt động quản lý, để bảo đảm sự PTXH được vận hành hiệu quả, thông qua các cơ chế, công cụ, bộ máy quản lý hiện có. Là một cấu trúc hay một thiết chế tương đối ổn định, đồng thời nó phải đủ “mở” và linh hoạt để có thể được đổi mới, hoàn thiện theo thời gian. Nó cũng gắn liề với thực trạng và những sự thay đổi, hoặc hỗ trợ trên thực tế cho các hoạt động quản lý sự PTXH, thực hiện các chính sách xã hội, thông quan hoạt động các bộ / ngành chủ quản các lĩnh vực xã hội.

 Tuy nhiên, nếu căn cứ vào các tiêu chí và đặc điểm như vậy thì đến nay chúng ta hầu chưa có một “mô hình PTXH” thực tiễn - quản lý cấp quốc gia đúng với nội hàm của khái niệm này. Trên thực tế chúng ta chỉ có sẵn một số yếu tố của phát triển xã hội, đã và đang được theo dõi, giám sát - đánh giá, quản lý - điều hành ở mức độ nhất định, thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Việc kết nối các yếu tố này từ phương diện khoa học quản lý là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn.

Sự thiếu vắng một mô hình quản lý PTXH thực tiễn - quản lý ở cấp quốc gia cũng như ở cấp địa phương được thấy ngay ở chiều cạnh tổ chức - thể chế của nó. Chẳng hạn: có khá nhiều lĩnh vực xã hội riêng lẻ đã có sẵn các chủ thể quản lý (ví dụ các bộ: Lao động-Thương binh và Xã hội, Giáo dục - Đào tạo, Y tế, Văn hóa - Thể thao - Du lịch,...). Bên cạnh đó, còn có các chiều cạnh xã hội bên trong những lĩnh vực khác (như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, tài nguyên - môi trường, v.v....) mà chưa có chủ thể chính thức để quản lý về PTXH.

Quan trọng hơn là chưa có sự kết nối mang tính chức năng, cấp quốc gia giữa các lĩnh vực và chiều cạnh này. Chưa có một cơ quan nào chính thức làm đầu mối cho toàn bộ lĩnh vực PTXH ở cấp Trung ương và cấp địa phương.

Ở cấp Trung ương, trong số các Ban của Đảng, bên cạnh Ban Kinh tế Trung ương”, không thấy có một “Ban Xã hội Trung ương”. Ở Quốc hội thì có Ủy ban Các vấn đề xã hội. Ở cấp Chính phủ có một Phó Thủ tướng phụ trách về Giáo dục, Văn hóa - Thể thao - Du lịch, Xã hội, Thông tin truyền thông và Y tế - một tên gọi rất dài, nhưng vẫn chưa bao quát được toàn bộ lĩnh vực PTXH cần được quản lý.

Trong số các Hội đồng Quốc gia hay Chương trình Quốc gia trực thuộc Chính phủ, không thấy có “Hội đồng Quốc gia” hay “Chương trình Quốc gia” nào về PTXH”. Trong thập niên 2000, Hội đồng Quốc gia về Phát triển bền vững (PTBV) có giao cho Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội làm đầu mối về PTBV trong lĩnh vực xã hội. Nhưng từ năm 2012 Hội đồng này đã đổi tên thành “Hội đồng Quốc gia về PTBV và Nâng cao năng lực cạnh tranh” - thiên nhiều về kinh tế hơn.

Nhìn chung chưa thấy rõ một cơ chế, một đầu mối hay nột thiết chế/ tổ chức nào chịu trách nhiệm bao quát về toàn bộ lĩnh vực PTXH và sự kết nối với các yếu tố / bộ phận của lĩnh vực này.       

Ngay cả các lĩnh vực PTXH của Chính phủ (năm 1995) hay các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG-2015), trong chừng mực nhất định chỉ có thể được xem là một “mô hình liệt kê” về PTXH để phục vụ cho quản lý  PTXH trong một giai đoạn nhất định, chứ chưa thể gọi đó là mô hình quản lý PTXH. 

Một số lĩnh vực lại có các mô hình / nguyên tắc quản lý riêng trong nội bộ ngành, mang tính cục bộ, mà không phải cho toàn bộ lĩnh vực PTXH. Ví dụ trong lĩnh vực an sinh xã hội, ngành Bảo hiểm (xã hội, y tế, thất nghiệp,...) thực hiện mô hình / nguyên tắc “có đóng -  có hưởng”, kết hợp với các trợ giúp xã hội cho các nhóm mục tiêu (đối tượng chính sách), các nhóm dễ bị tổn thương (như người nghèo, người cao tuổi 80+, người khuyết tật, nạn nhân thiên tai,...); trong lĩnh vực dịch vụ thì có nguyên tắc “use to pay” (sử dụng - trả tiền), hoặc trợ cấp một phần (ví dụ cho dịch vụ giao thông công cộng), hoặc miễn phí với một vài dạng các dịch vụ công ích (thư viện, công viên, vườn hoa)... Một số lĩnh vực khác thì lại tập trung vào phương châm “khuyến khích / tạo điều kiện” là chính....

Nói tóm lại, chúng ta chưa có một mô hình quản lý PTXH với đúng nghĩa của khái niệm này. Từ thực tiễn quản lý hiện nay là chúng ta mới có những yếu tố / bộ phận chủ yếu, và những nguyên tắc quản lý riêng lẻ, có thể cấu thành nên một mô hình quản lý như vậy. Giờ đây, rất cần có sự kết nối các yếu tố / bộ phận này và thể chế hóa thành một loại mô hình quản lý lĩnh vực PTXH. Mô hình như vậy sẽ có 2 yếu tố quan trọng nhất: Chủ thể và Khách thể quản lý.

Các chủ thể quản lý PTXH thường khá đa dạng với nhiều khu vực, nhiều tổ chức, khu vực chính thức và phi chính thức. Các chủ thể này lại có các yếu tố công cụ tỏng quản lý như: Mục tiêu, Phương pháp và Cấp độ triển khai hoạt động quản lý,...

 Khách thể quản lý sẽ còn đa dạng hơn vì bản thân khái niệm PTXH đã nó bao hàm nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động hoặc xã hội hoặc có chiều cạnh xã hội, mà muốn quản lý được thì cần phải có một đầu mối chính thức (một tổ chức hay một thiết chế) chịu trách nhiệm chung.

3. Đề xuất một khung logic để phân tích và xây dựng mô hình quản lý PTXH hiện nay ở nước ta

Trong bối cảnh như vậy, bài viết này đề xuất một khung logic (logframe) để phân tích mô hình quản lý PTXH. Ở cấp độ đơn giản, khung logic này có thể bao gồm 7 nhóm khách thể (xếp theo dòng) và 3 nhóm yếu tố quản lý (xếp theo cột) dưới dạng bảng (hay ma trận) được nêu dưới đây:  

Khung logic phân tích mô hình Quản lý Phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

 

Các chiều cạnh quản lý (giả định để thảo luận)

Các chủ thể             quản lý

Mục tiêu tối thiểu và tính phổ cập

Cấp độ và phương pháp triển khai

 

 

 

Các

 

lĩnh

 

 vực

 

&

 chiều

 

cạnh

 

của 

 

PTXH

 

  1. Lao động - Việc làm

Bộ LĐTBXH

Doanh nghiệp

Giai đoạn 2012-2020: mỗi năm tạo 1,6 triệu việc làm mới.

Chính sách vĩ mô và triển khai vi mô

Dịch vụ, tư vấn miễn phí và có phí thấp

 

 

2.An sinh xã hội và phúc lợi xã hội

Bộ LĐTBXH

Mô hình ASXH

BTXH, TCXH

Nhóm yếu thế: nghèo, chính sách NCC, dân tộc thiểu số.

Trợ cấp đột xuất

Phổ cập: NCT80+

Nguyên tắc “đóng - hưởng”

Trợ cấp nhóm yếu thế và đột xuất theo khả năng

Thiện nguyện cho nhóm yếu thế và CS

 

3.Dịch vụ xã hội cơ bản (Y tế và Giáo dục)

Bộ Y tế, Bộ GD-ĐT, Bộ LĐ-TB-XH,..

Nhà nước, Thị trường, Cộng đồng, gia đình và người dân

Tối thiểu

Phổ cập

Nhóm yếu thế và diện chính sách

Thường xuyên và đột xuất

Cấp địa phương, cơ sở

Có miễn/ giảm phí

Có chi phí (khu vực tư nhân)

4.Dịch vụ công

(Dịch vụ công, cộng và dịch vụ Hành chính công)

Nhà nước

Khu vực tư nhân (DVCC, DV công chứng)

Tham gia của CĐ và người dân

Xã hội hóa, đa dnagj hóa chủ thể (dịch vụ công cộng)

Hành chính một cửa, Dịch vụ thân thiện, đánh giá sự hài long của người dân,…

 

Xã hội hóa DVCC Khu vực đô thị

DVHC công

Khu vực đô thị và Nông thôn

 

5.Đời sống văn hóa - tinh thần

Bộ VH-TT-DL, đoàn thể xã hội

Khu vực tư nhân

Cộng đồng cơ sở tự tổ chức

Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gia đình văn hóa, văn nghệ quần chúng, cơ sở

Khu vực nhà nước (TƯ và địa phương)

Thị trường, khu vực tư nhân

Các hoạt động tại cộng đồng và do cộng đồng tổ chức

6.Dân chủ và sự tham gia của người dân

Nhà nước-Dân chủ cơ sở,

Cộng đồng tham gia, Mạng XH

DCCS, phản biện xã hội, các hiệp hội và XHDS

Thực hiện Dân chủ ở cơ sở

Truyền thong địa chúng và khai thác mặt tích cực của mạng xã hội

 

7. Chiều cạnh xã trong các lĩnh vực  khác

Nhà nước (các bộ chủ quản)

Chính quyền các cấp

 

Lồng ghép một số vấn đề lớn.

Xử lý tình huống (thụ động)

Đánh giá tác động xã hội

Chủ động và thụ động trong chuẩn bị và xử lý


Giải thích về các yếu tố của quản lý torg khung logic:

Các chủ thể quản lý: cấu trúc vai trò của mỗi chủ thể, sự phối kết hợp giữa các chủ thể:  Nhà nước, Thị trường (khu vực tư nhân), cộng đồng, gia đình - và các tổ hợp trong mô hình. Quan trọng là xác định rõ hơn vai trò của nhà nước và của thị trường, tương quan giữa các chủ thể và xu hướng biến đổi, đa dạng hóa các chủ thể của lĩnh vực PTXH và quản lý lĩnh vực này.

Mục tiêu PTXH: lưu ý tới tính chất bao phủ của mục tiêu: phổ cập, toàn thể/ toàn bộ hay theo các nhóm mục tiêu ưu tiên (các nhóm yếu thế, các nhóm đối tượng chính sách xã hội); xu hướng vươn tới tính phổ cập và con đường đạt tới tính phổ cập trong tương lai (ví dụ: BHYT toàn dân, phổ cập trung học cơ sở hay trung học phooe thông, BHXH toàn dân,…)

Cấp độ và phương thức triển khai: Thường có các loại hình công cụ thực hiện việc quản lý ở các cấp độ như: chiến lược, trung hạn, ngắn hạn và ứng phó tại chỗ,… Ngoài ra còn có nhiều phân cấp khác, theo ngành, theo địa phương, theo mức độ hoạt động/ dịch vụ có phí, miền giảm phí, tự nguyện,v.v…

          Có thể xem đây là một “mô hình” giản đơn, ban đầu dùng dung để đánh giá và có cái nhìn bao quát, toàn thể về quản lý PTXH. Các ô trong bảng này còn để “mở” để bổ sung các mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể quản lý. Các cột và dòng cũng là “mở” để có thể bổ sung thêm nhiều nội dung của PTXH và các yếu tố quản lý (bổ sung thêm các dòng và cột vào bảng trên).

Chẳng hạn, có thể bổ sung cột “chi phí / đầu tư” cho lĩnh PTXH - một khoản mục rất khó tính toán cụ thể và đánh giá. Nhưng nếu “bóc tách” được những thông tin này thì sẽ có nhiều bằng chứng để xác minh cho những nhạn định / định kiến như: “các chiến lược, chính sách, chương trình, dự án,… thường chỉ ưu tiên cho chiều cạnh kinh tế, vật chất, dẫn đến tăng trưởng nóng, tăng trưởng xấu và bỏ qua nhiều vấn đề xã hội”; hay các chiều cạnh / vấn đề xã hội “thường chỉ được tính đến khi nó xuất hiện và ảnh hưởng đến sự phát triển nói chung”; kinh phí cho lĩnh vực xã hội thường được tính đến như một khoản phụ, phần “còn lại”, sau các chi phí kinh tế,… mà thường là dẫn đến hệ quả là phát triển không bền vững, là sự trả giá và hạ thấp hiệu quả tổng hợp của phát triển, trong đó có sự PTXH.

4.Một số vấn đề đặt ra

Chúng tôi đã thử phân tích các khách thể (theo dòng) và các yếu tố của chủ thể của quản lý (theo cột) của Mô hình Quản lý PTXH trên đây. Kết quả có thể đưa ra đánh giá sơ bộ thực trạng của mô hình quản lý này, cùng những vấn đề đang đặt ra và những giải pháp hoàn thiện nó trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam vào những thập niên tới. Sau đây sẽ trình bày một số vấn đề như vậy cùng những khuyến nghị ban đầu.

4.1. Nhận thức về PTXH và quản lý PTXH

Trước hết, cần tái khẳng định rằng, đầu tư cho PTXH, giải quyết các vấn đề xã hội và ASXH cũng chính là đầu tư cho phát triển nói chung, cũng quan trọng không kém đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Bởi vì mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh tế hay xã hội đều nhằm phục vụ con người và cuộc sống của con người ngày một tốt hơn. Đương nhiên PTXH phải dựa trên trên nền tảng phát triển kinh tế, song không vi thế mà phát triển xã hội, chính sách xã hội chỉ bị động, đi sau kinh tế.

Thực tế quản lý phát triển hiện nay, do áp lực của kinh tế thị trường, các yếu tố kinh tế, vật chất, thường thường được chú trọng, ưu tiên hơn các yếu tố xã hội. Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ “tăng trưởng xấu” hay phát triển không bền vững nói chung.

Cần ghi nhận rằng, ngay từ Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng, đã đề cập đến 4 lĩnh vực chính sách xã hội bao gồm: 1. Chính sách lao động, việc làm và thu nhập; 2. Bảo đảm an sinh xã hội; 3. Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em; 4. Đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông. Đây là lần đầu tiên, một bộ phận quan trọng của lĩnh vực PTXH được nêu lên trong Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng, được những “vấn đềxã hội cấp bách” đang được đặt ra trong thập niên mở đầu Thiên niên kỷ. Tiếp theo đó, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 15-NQ/TW (ngày 1/6/2012) về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, coi đây “vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta”. Nghị quyết cũng nhấn mạnh: Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ”.

Gần đây hơn, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ ra 4 định hướng lớn trong lĩnh vực chính sách xã hội và an sinh xã hội, dựa trên cơ sở lý luận về chức năng, cấu trúc, các trụ cột,... của mô hình quản lý phát triển triển xã hội: Một là, giải quyết vấn đề lao động, việc làm, thu nhập cho người lao động và đổi mới chính sách giảm nghèo đa chiều bền vững. Hai là, tiếp tục phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm. Ba là, mở rộng và nâng cao hiệu quả của công tác trợ giúp xã hội. Bốn là, bảo đảm cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu, mức tối thiểu về thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin (Đảng Cộng sản Việt nam, 2016).

Ở đây, đã thể hiện quan niệm và ý chí chính trị rất rõ ràng về sự PTXH (cho dù mới thể hiện ở các chính sách xã hội, liên quan đến một số lĩnh vực). Việc triển khai quan niệm và ý chí chính trị này thành các hoạt động dới dạng một mô hình quản lý PTXH tổng thể đòi hỏi phải tiếp tục thực hiện và hoàn thiện.

4.2. Xác định khuôn khổ nội dung PTXH và mô hình PTXH, Quản lý PTXH

Thế giới hiện có nhiều mô hình PTXH, đặc biệt trong lĩnh vực ASXH. Các mô hình đó đều giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với các chủ thể khác, và phương thức thực hiện đều phụ thuộc vào bối cảnh trình độ phát triển của họ - hay là những mô hình thích hợp.

Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay, thế nào là một mô hình quản lý PTXH “thích hợp”? Đó sẽ không thể là một mô hình duy nhất, thống nhất, mà phải là “những” mô hình linh hoạt, phân nhánh và phân tầng để đạt được hiệu quả và công bằng tối đa trong những điều kiện có thể.

Mặc dù đã có ý chí chính trị mạnh, nhưng với  nguồn ngân sách có hạn, chúng ta lại đang tập trung cho tăng trưởng kinh tế và chưa thể có đủ nguồn lực cho phát triển văn hóa - xã hội và môi trường, đảm bảo PTBV, trong đó có PTBV về xã hội. Vì vậy, một lộ trình từng bước, phân nhánh và phân tầng có lẽ là thích hợp với mô hình quản lý PTXH ở nước ta hiện nay và trong những thập niên tới. Lô gic của nó có thể tham khảo cấu trúc của “Sàn ASXH” đã được Liên hợp quốc phát triển năm 2009 và Việt Nam đã từng áp dụng, gồm 3 tầng cơ bản sau: 

Tầng 1: Bảo đảm y tế tối thiểu (chăm sóc sức khỏe tối thiểu và tham gia bảo hiểm y tế); thu nhập tối thiểu cho người nghèo, người thất nghiệp, người già và trẻ em và các đối tượng đặc biệt khác. Nguồn tài chính của tầng 1 do nhà nước đảm bảo là chính thông qua nguồn thu từ thuế.

Tầng 2: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và các hình thức an sinh khác có đóng góp của người dân (hướng tới mọi đối tượng). Nguồn tài chính của tầng 2 do doanh nghiệp và người lao động đóng góp, nhà nước có thể hỗ trợ một phần cho một số đối tượng.

Tầng 3: Bảo hiểm xã hội tự nguyện (cho một số đối tượng nhất định). Nguồn tài chính của tầng 3 do doanh nghiệp và người lao động đóng góp, nhà nước hỗ trợ thông qua chính sách thuế thu nhập.

(Nguồn: Viện Khoa học Lao động và xã hội. 2013).

Ở đây sự phân tầng và phân nhánh theo nhu cầu, và các ưu tiên (cho các các đói tượng chính sách và các nhóm yếu thế, dễ bị tỏn thương), nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và hiệu quả của hệ thống ASXH và PTXH.

Về lâu dài, ở cấp độ quốc gia, mô hình PTXH và quản lý PTXH của Việt Nam sẽ thích hợp hơn nếu tham khảo mô hình “nhà nước xã hội“ với các nguyên tắc cơ bản trong hệ thống ASXH.

Mô hình nhà nước xã hội đề cập đến vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm các thiết chế/điều kiện tối thiểu thông qua cơ chế đóng- hưởng, tăng cường trách nhiệm về an sinh xã hội của cá nhân, của cộng đồng, sau đó mới đến vai trò của xã hội. Các nguyên tắc cơ bản của mô hình nhà nước xã hội, bao gồm:

      Cùng hỗ trợ: Nguyên tắc này hàm ý là nhà nước phải xây dựng các chính sách để cho các nhóm tự cứu phát triển, không bị ngăn cấm;

      Hỗ trợ một phần: Các hỗ trợ của nhà nước không nhằm mục tiêu thay thế các nỗ lực của cá nhân và cộng đồng trong việc bảo đảm an sinh xã hội;

      Hỗ trợ chức năng: Nhà nước chỉ can thiệp/tham gia vào an sinh xã hội khi cơ chế tự an sinh và hỗ trợ xã hội có sự trục trặc (không có, không hoạt động hiệu quả..);

      Giảm dần hỗ trợ: Sự hỗ trợ của nhà nước sẽ kết thúc khi cá nhân tự bảo đảm được;

       Phân cấp hỗ trợ: Nhà nước Trung ương cần kết hợp với chính quyền địa phương để thực hiện chính sách an sinh xã hội. Cần phải tiếp tục phân quyền   cho   địa   phương   nhằm   tăng   cường   hiệu   quả   thực   hiện   chính sách;

       Hỗ trợ pháp lý: Điều này yêu cầu phải có cơ quan cung cấp dịch vụ an sinh xã hội trung ương đồng thời có các cơ quan địa phương với quyền tự chủ tương đối để bảo đảm cho chính sách phù hợp với đặc thù của từng địa phương, từng nhóm đối tượng.                     

(Nguồn: Viện Khoa học Lao động và xã hội. 2013).

4.3. Đa dạng hoá các chủ thể quản lý

Đa dạng hoá chủ thể quản lý là điều kiện hết sức quan trọng để phát triển xã hội tốt hơn. Song quan trọng nhất vẫn là xây dựng và vận hành được một bộ máy chính phủ hiện đại, trong sạch và minh bạch. Cùng với đó, cần tính đến vai trò tham gia quản lý của các tổ chức xã hội và công dân. Trước đây, người dân thường không biết rằng, họ chính là một chủ thể quản lý quan trọng của xã hội. Ngày nay họ cần biết về vai trò đó, rằng sự giám sát và phản hồi ý kiến của họ có tác dụng to lớn đối với việc xây dựng một chính phủ hiện đại, trong sạch và minh bạch; góp phần hoàn thiện và lành mạnh hoá xã hội.

Ở hầu hết các lĩnh vực PTXH, luôn có sự hiện diện của các chủ thể khác nhau tham gia với những vai trò, đóng góp khác nhau. Tuy nhiên, vai trò nhà nước vẫn là nổi bật với chức năng quan trọng nhất, mặc dù xu hướng chuyển dần một phần vai trò/ chức năng của nhà nước sang cho khu vực phi nhà nước, khu vực tư nhân dưới sự giám sát của nhà nước. Lý do: nhà nước không thể ôm đồm bao sân tất cả mọi lĩnh vực, khiến bộ máy cồng kềnh và rất kém hiệu quả.

Khu vực tư nhân thông qua thị trường cung cấp các hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực PTXH, chủ yếu cho các nhóm xã hội không nghèo, có điều kiện kinh tế. Ngoài ra còn các tổ chức cộng đồng, tự nguyện, các tổ chức thuộc xã hội dân sự

Lĩnh vực “dân chủ và sự tham gia” là biểu hiện rõ nhất của người dân và cộng đồng trở thành chủ thể và ngày càng được tham, gia vào nhiều hoạt động quản lý, trong đó có hoạt động quản lý xã hội.

Bất định nhất về vai trò chủ thể là ở các chiều cạnh / vấn đề xã hội nảy sinh trong các lĩnh vực khác nhau. Trong trường hợp này, nhà nước vẫn phải là chủ thể chính trong khi người dân, thông qua các kênh khác nhau, trong đó có mạng xã hội có thể tham gia phát hiện các vấn đề và ủng hộ nhà nước giải quyết chúng 

5. Một số khuyến nghị chính sách

Quản lý PTXH là lĩnh vực liên ngành, rất rộng lớn và phức tạp. Vì vậy cần có những cách tiếp cận, cơ chế, thể chế đặc thù để đi đến xây dựng một mô hình quản lý PTXH hiệu quả ở cấp quốc gia.

     Để gia tăng vai trò của quản lý PTXH, trước hết cần gia tăng những yếu tố / hàm lượng mang “tính  xã hội” trong tất cả các hoạt động và chính sách, liên quan đến PTXH, theo định hướng PTBV. Cần khắc phục sự thiên vị các chiều cạnh kinh tế, vật chất trong phát triển so với các chiều cạnh xã hội (và môi trường).

Vấn đề đặt ra về phương diện quản lý ở đây là: trong chủ thể nhà nước (các cơ quan chức năng của nó) chưa có sự phân biệt rõ rang giữa chức năng quản lý nhà nước của với chức năng quản lý PTXH trong từng lĩnh vực? Và liệu có thể và cần phải có sự phân biệt này ?

Trong điều kiện như vậy, để xây dựng một mô hình quản lý PTXH phù hợp và hiệu quả, chúng tôi xin nêu một số khuyến nghị sau:

1. Cần vận dụng nhiều hơn mô hình lồng ghép để tích hợp nhiều hơn các yếu tố xã hội vào trong các chính sách, chương trình, dự án phát triển, như các Nghị quyết Đại hội X và XI của Đảng đã chỉ rõ “trong từng bước đi, trong từng chính sách phát triển”.

2. Các bộ / ngành chủ quản về các lĩnh vực xã hội như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa - Thế thao - Du lịch: cần làm rõ hơn mối quan hệ và chức năng “kép“: vừa quản lý nhà nước, vừa tham gia quản lý PTXH của lĩnh vực này.

3. Với các bộ / ngành khác (về kinh tế, khoa học - kỹ thuật, môi trường,...) vấn là làm sao kết nối được những chiều cạnh/ vấn đề xã hội nảy sinh với sự quản lý PTXH quốc gia thống nhất ? Liệu có cần một đơn vị theo dõi chiều cạnh / vấn đề xã hội trong các lĩnh vực này không ? Theo chúng tôi, ít nhất các bộ / ngành này nên có các “Báo cáo Xã hội“ hàng năm, tổng hợp những vấn đề xã hội phát sinh của ngành mình cho cơ quan đầu mối về PTXH của Chính phủ.

4. Tiến tới thể chế hóa lĩnh vực quản lý PTXH. Chẳng hạn Chính phủ sẽ có một than viên phụ trách về PTXH; hay thành lập một Hội đồng Quốc gia về quản lý PTXH trực thuộc Chính phủ được kết nối với hoạt động của một số Hội đồng, Ủy ban, Chương trình cấp quốc gia như: Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ MDGs, UBQG về phát triển bền vững (nay là Hồi đồng Quốc gia về PTBV và Nâng cao năng lực cạnh tranh), và Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội,…

5. Bên cạnh các Báo cáo Kinh tế Quốc gia thường niên, cần có những Báo cáo Xã hội Quốc gia thường niên (thay vì các báo cáo chuyên biệt về Giảm nghèo hay về các vấn đề xã hôi cụ thể), phản ánh những vấn đề PTXH và quản lý PTXH tổng thể. Báo cáo xã hội này sẽ rà soát các lĩnh vực, các kênh, các phương pháp xây dựng, chi tiết hóa chức năng giám sát và cập nhật mô hình quản lý PTXH hiện có.

6. Bên cạnh các số liệu thống kê xã hội, cần hình thành Bộ Chỉ số Phát triển Xã hội, bao gồm những chỉ tiêu, chỉ số về xã hội trong những giai đoạn nhất định (3 năm, 5 năm, 10 năm,..) mang tính thực tiễn, tính mục tiêu, và thực sự khả thi. 

    

Tài liệu tham khảo

1.      Ban chấp hành trung ương Đảng (2012). Nghị quyết số 15/NQ-TU ngày 1/6/2012 về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, Hà Nội, 2012.  

2.       Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016. Tr. 237, 237 - 238, 136 - 137; 300      

3.      Đặng Nguyên Anh (2013) An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất mô hình, giải pháp. Tạp chí Xã hội học, Số 1/2015

4.      Đỗ Thị Hải Hà và Mai Ngọc Anh (2015). Cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Kinh tế và Phát triển. Số 218, tháng 8//2015

5.      Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010). Báo cáo Khung kế hoạch 5 năm 2011-2015 về Phát triển xã hội.

6.      Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016.       

7.      Hoàng Chí Bảo (chủ biên), 2010. Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

8.      Hội đồng Phát triển Bền vững Quốc gia (2010). Dự thảo Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện định hướng chiến lược Phát triển Bền vững  ở Việt Nam Lưu Văn An (2014). Lý thuyết và mô hình phát triển xã hội,Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014

9.      MOLISA. Viện Khoa học Lao động và xã hội (2013). Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020.GIZ.

10.  Nguyễn Trung Kiên, Lê Ngọc Hùng (2012). Quản lý xã hội dựa vào sự tham gia: một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Tạp chí Xã hội học. Số 1 (117)/2012, 103-112.

11.  Nguyễn Văn Mạnh (2010). Một số vấn đề lý luận về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. http://www.vusta.vn/vi/news/Thong-tin-Su-kien-Thanh-tuu-KH-CN/Mot-so-van-de-ly-luan-ve-phat-trien-xa-hoi-va-quan-ly-phat-trien-xa-hoi-35789.html. VUSTA 01/11/2010.

12.  Nước CHXHCN Việt Nam (2010). Báo cáo Mục tiêu Phát triển Thiên nhiên kỷ 2010. Việt Nam - 2/3 chặng đường thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, hướng tới năm 2015

13.  Trần Đức Cường (2012). Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Khoa học Xã hội. 201219.

14.  Trịnh Duy Luân. 2009. Một số vấn đề tham gia xã hội và phản biện xã hội. Tạp chí Xã hội học. Số 2 (106), 3-9.

15.  Vũ Mạnh Lợi (2012). Bàn về phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở Việt Nam. Tạp chí Xã hội học, Số 4 (120)/2012.

Viện Xã hội học (2011). Báo cáo Tổng hợp đề tài cấp Bộ: Một số vấn đề về mô hình phát triển xã hội và quản lý xã hội Việt Nam. Chủ nhiệm Đề tài: Trịnh Duy Luân.

 

Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 11 - 2018

 

 

Các tin đã đưa ngày: