Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • left_banner_HTQT (1)

Khái niệm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nước ta hiện nay

14/05/2019 - Số lượt xem: 139

GS.TS. Trịnh Duy Luân, Nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

1.     Lược sử khái niệm “phát triển xã hội”

Ở Việt Nam, khái niệm phát triển xã hội (PTXH) được sử dụng sớm nhất từ Báo cáo của Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTXH (Copenhagen 6 -12/ 3/1995). Báo cáo đã nêu 10 vấn đề của PTXH ở Việt Nam lúc đó là:

1.     Giải quyết việc làm

2.     Xóa đói giảm nghèo

3.     Hòa nhập xã hội (tạo cơ hội đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người về các quyền chính trị, kinh tế, các dịch vụ xã hội, học tập, chữa bệnh, hưởng thụ văn hóa, bảo đảm tuổi già, hướng vào các nhóm xã hội bị thiệt thòi, dễ bị tổn thương trong phát triển).

4.     Tăng cường vai trò của gia đình

5.     Phát triển giáo dục

6.     Dân số, kế hoạch hóa gia đình

7.     Chăm sóc sức khỏe nhân dân (cộng đồng)

8.     Bảo trợ xã hội (bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội)

9.     Môi trường

10.   Hạn chế, ngăn ngừa các hành vi phạm tội, ma túy, mại dâm, buôn lậu, tham nhũng, làm giàu bất chính,...

          Tiếp theo, khái niệm PTXH và các yếu tố cấu thành của nó đã dần dần được đề cập trong các văn kiện chính sách, các nghiên cứu khoa học và sách báo ở nước ta.

          Năm 2010, trong “Báo cáo Khung kế hoạch 5 năm 2011-2015 về phát triển xã hội” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mục “Thành tựu đạt được về phát triển xã hội giai đoạn 2006-2010“ đã đề cập đến các lĩnh vực sau: Lao động-việc làm, Tiền lương, thu nhập và bảo hiểm xã hội, Xóa đói giảm nghèo; Lĩnh vực chăm sóc người có công và trợ giúp xã hội; Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và phát triển thanh niên, bảo đảm bình đẳng giới và tự do tín ngưỡng; Phòng chống tệ nạn xã hội; Hoàn thiện hệ thống y tế, tạo cơ hội bình đẳng để mọi người dân được bảo về và chăm sóc sức khỏe,...

          Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện định hướng chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21) đã đánh giá 19 lĩnh vực hoạt động ưu tiên, trong đó có 5 lĩnh vực của phát triển xã hội, bao gồm: 1) Xóa đói giảm nghèo, tạo thêm việc làm. 2) Giảm bớt sức ép của sự gia tăng dân số, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân. 3) Định hướng quá trình Đô thị hóa và di dân nhằm phát triển bền vững các đô thị 4) Nâng cao chất lượng giáo dục và 5) Nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

          Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDGs) của Việt Nam tới năm 2015, bao gồm 8 Mục tiêu, trong đó 6 mục tiêu đầu tiên là thuộc lĩnh vực PTXH:

1.     Xúa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói

2.     Phổ cập giáo dục tiểu học

3.     Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ

4.     Giảm tử vong ở trẻ em

5.     Nõng cao sức khỏe bà mẹ

6.     Phũng chống HIV/AIDS, sốt rột và các bệnh dịch nguy hiểm

7.     Đảm bảo bền vững môi trường

8.     Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển

Như vậy, nhìn chung ở nước ta, khái niệm PTXH đã được đề cập tới khá sớm, dưới dạng liệt kê các lĩnh vực ưu tiên hay các vấn đề xã hội cấp bách trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

2. Phát triển xã hội, với từ “xã hội” theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Cụm từ PTXH bao gồm 2 từ ghép: phát triểnxã hội. Theo nguyên nghĩa (từ nguyên) của mỗi từ, có thể tìm ra nhiều nội hàm khác nhau của chúng. Riêng thuật ngữ “xã hội” thì ít nhất có 2 nghiã:

1.     Theo nghĩa rộng, “xã hội” là một quốc gia / nhà n­ước, hay một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Khi đó, các từ ghép “phát triển của xã hội” nếu sử dụng cho những quốc gia cụ thể, sẽ bao gồm đời sống và chế độ kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội cùng mối bang giao quốc tế của một quốc gia có chủ quyền toàn vẹn. Còn từ quan điểm chính trị kinh tế học Mác-xít, thì các yếu tố của một hình thái kinh tế- xã hội trong một thời kỳ lịch sử nhất định, bao gồm phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

2.     Theo nghĩa hẹp, “xã hội” nh­ư một lĩnh vực t­ương đối độc lập với các lĩnh vực khác như­ kinh tế, chính trị, môi tr­ường tự nhiên,… Khi đó cụm từ PTXH đ­ược xem là sự phát triển của lĩnh vực xã hội, trong t­ương quan độc lập tương đối với các lĩnh vực còn lại (chính trị, kinh tế,…) của một xã hội cụ thể.

Đó là các lĩnh vực chủ yếu trong đời sống xã hội của con ng­ười, từ cá nhân đến cộng đồng, bên cạnh và phân biệt với lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực môi tr­ường tự nhiên. Đ­ương nhiên là trên thực tế không có sự phân biệt rạch ròi giữa các lĩnh  vực này, đặc biệt là giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội.

     Trong nhiều nghiên cứu và ấn phẩn khoa học xã hội gần đây, khái niệm PTXH được hiểu tương ứng với nghĩa hẹp của từ “xã hội”. Các khái niệm “mô hình PTXH” hay “mô hình quản lý PTXH” cũng sẽ đư­ợc hiểu tương ứng như vậy và sẽ được chỉ ra tiếp theo dưới đây.

3. Định nghĩa khái niệm Phát triển xã hội

          Đã có khá nhiều định nghĩa hay cách hiểu về PTXH từ các nhà khoa học phương Tây. Chẳng hạn, James Midgley cho rằng, PTXH là một quá trình biến đổi hội có chủ định nhằm nâng cao phúc lợi của con người trong sự kết hợp hoàn toàn với tiến trình năng động của phát triển kinh tế (Midgley, 1995).

          Tương tự, Garry Jacobs coi PTXH là “quá trình tổ chức khả năng tiềm tàng và các hoạt động của con người và ở các cấp cao hơn để đạt được kết quả lớn hơn” (Jacobs, 1999).

          Ở Việt Nam, trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể tìm thấy một số ý tưởng của Người về PTXH. “Sự PTXH và một xã hội phát triển, theo Hồ Chí Minh, tất cả đều quy tụ ở vấn đề con người. Mục tiêu phát triển của một xã hội theo hướng nhân văn là đáp ứng mọi khát vọng chính đáng của con người, tạo điều kiện cho con người ngày càng phát triển toàn diện….” (Nguyễn Văn Huyên, 2016).  

          Một số học giả trong nước gần đây cũng đã cố gắng chỉ ra nội hàm đa dạng và phong phú của khái niệm này. Chẳng hạn, PTXH là:

-  Một quá trình tiến hóa theo thời gian, quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của đời sống xã hội, cả về lượng và chất, bao gồm chất lượng cuộc sống và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu và thể chế.

- Sự phát triển có định h­ướng, có chủ đích, đư­ợc dẫn đ­ường bởi các chủ thuyết, chiến lư­ợc, chính sách, kế hoạch do nhà n­ước phối hợp với các thiết chế và tổ chức xã hội có liên quan vạch ra nhằm giải quyết kịp thời, đúng đắn các vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống của các cá nhân và cộng đồng dân cư  (Hoàng Chí Bảo, 2010).

          Nội dung của PTXH cũng đư­ợc nhiều người hiểu cụ thể giống nh­ư nhiệm vụ “Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” trong các văn bản kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội quốc gia hay địa phương. Cụ thể hơn, đó là các lĩnh vực hay các vấn đề chính như:

·        Đảm bảo cho mọi ng­ười dân đạt và vượt qua mức sống tối thiểu của quốc gia, ổn định và thư­ờng xuyên đ­ược nâng cao.

·        Quản lý các rủi ro trong cuộc sống cá nhân và cộng đồng, không để ai, nhóm xã hội nào bị loại trừ khỏi các cơ hội phát triển. 

·        Các điều kiện thiết yếu của đời sống xã hội hoạt động bình ổn, đảm bảo các điều kiện sống của mọi ngư­ời dân, thông qua các dịch vụ xã hội cơ bản, các dịch vụ công do nhà nư­ớc cung cấp hoặc kiểm soát.

·        Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho các cá nhân và cộng đồng....

·        Thực hành dân chủ hóa đời sống xã hội, đảm bảo các điều kiện, cơ hội và môi tr­ường cho việc thực hiện các quyền công dân và sự tham gia xã hội của mỗi ng­ười dân....

          Khi nói đến PTXH chính là nói đến sự phát triển của cá nhân và của cộng đồng (phát triển con ng­ười) về mặt xã hội, tức là về mức sống và chất lượng sống, nhờ giải quyết hợp lý các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển chung của xã hội. Thực chất, đó cũng là quá trình giải quyết thỏa đáng các điều kiện, nhu cầu, lợi ích của đời sống con ngư­ời và phát triển con người. Đ­ương nhiên, sự PTXH phải tương xứng với các điều kiện vật chất, mà trư­ớc hết là trình độ phát triển kinh tế hiện có. Và vì thế, PTXH có quan hệ với phát triển kinh tế, với thể chế chính trị và với vấn đề môi tr­ường, tạo thành các trục chính của phát triển bền vững.

          Trong quá trình PTXH, chủ thể của phát triển là các cá nhân và cộng đồng, các nhóm, các giai tầng xã hội (các yếu tố cơ bản của cơ cấu xã hội).

Lực l­ượng tham gia PTXH bao gồm Nhà nư­ớc, thị tr­ường, và các tổ chức ngoài nhà nư­ớc (khu vực t­ư nhân, xã hội dân sự,...). Mục tiêu của phát triển chính là con ng­ười, các cá nhân và cộng đồng. Phát triển xã hội, một cách sâu xa và bản chất, cũng chính là phát triển con ng­ười, đúng với những điều trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa nêu trên. 

4. Quản lý sự PTXH

             Đó là hoạt động của quản lý điều hành của nhà nư­ớc với sự phối hợp của các tổ chức ngoài nhà n­ước nhằm xây dựng các chính sách, hoàn thiện thể chế, huy động và phân bổ các nguồn lực để giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của các cá nhân và cộng đồng, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của ngư­ời dân, bảo đảm chất lư­ợng cuộc sống ngày một gia tăng, tổ chức cuộc sống ngày một hoàn thiện.

          Đây là các hoạt động quản lý, điều hành nhằm đảm bảo sự hài hòa, hợp lý giữa các yếu tố bên trong của mô hình PTXH, đồng thời đảm bảo những tương quan hợp lý, cân đối giữa lĩnh vực xã hội và các lĩnh vực khác, trư­ớc hết là lĩnh vực phát triển kinh tế. Bởi vì, như­ đã biết, một sự tăng tr­ưởng kinh tế ngoạn mục, cao và nhanh, nhiều khi sẽ đi kèm với những hệ quả tiêu cực, những vấn đề xã hội nan giải, đe dọa ngay chính sự tăng trư­ởng kinh tế và sự phát triển bền vững nói chung.

          Nói đến quản lý, cũng cần chỉ ra vai trò của các chủ thể - lực lư­ợng tham gia quản lý. Như­ đã nói trên, không chỉ có nhà nư­ớc, mà còn có thể và cần phải huy động những chủ thể ngoài nhà n­ước tham gia vào quá trình quản lý sự PTXH. Có thể chỉ ra một số biểu hiện nh­ư sau:

- Vai trò của Nhà nư­ớc: quản lý, điều hành thông qua xây dựng và hỗ trợ về thể chế cho các yếu tố của mô hình nh­ư: thị trư­ờng lao động, hệ thống ASXH, phúc lợi xã hội, dịch vụ xã hội cơ bản, dịch vụ công,…

- Vai trò của thị trư­ờng, khu vực t­ư nhân: cung cấp dịch vụ xã hội, dịch vụ công, thực hiện các trách nhiệm đã đư­ợc quy định trong các lĩnh vực như­ BHXH, thất nghiệp, tham gia các hoạt động trợ giúp xã hội,...

- Vai trò của các tổ chức xã hội: hỗ trợ, kiểm tra và giám sát, nhất là ở cấp cơ sở việc thực hiện các quy định trong lĩnh vực xã hội. 

- Vai trò của ng­ười dân và xã hội dân sự: huy động sự tham gia của ngư­ời dân, thực hiện các hoạt động hỗ trợ cộng đồng trong nhiều dịch vụ xã hội cơ bản và trợ giúp xã hội,..

 

Tài liệu tham khảo

1.      Ban chấp hành trung ương Đảng (2012). Nghị quyết số 15/NQ-TU ngày 1/6/2012 về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, Hà Nội, 2012.

  1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010). Báo cáo Khung kế hoạch 5 năm 2011-2015 về Phát triển xã hội.

3.      Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016.        

4.      Hoàng Chí Bảo (chủ biên), 2010. Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

  1. Hội đồng Phát triển Bền vững Quốc gia (2010). Dự thảo Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện định hướng chiến lược Phát triển Bền vững  ở Việt Nam.

6.      Jacobs, Garry and Harlan Cleveland. (1999). Social Development Theory. The International Center for Peace and Development.

7.      Lưu Văn An (2014). Lý thuyết và mô hình phát triển xã hội. Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014.

8.      Midgley, J. (1995). Social development: The developmental perspective in social welfare. Thousand Oaks, CA: Sage

9.      Nguyễn Văn Huyên (2016). Triết lý phát triển xã hội Hồ Chí Minh - một đóng góp quan trọng cho triết lý phát triển hiện đại. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt nam, ngày 12/10/2016. http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/lich-su-dang/books-3105201510003046/index-11052015944014621.html

10.  Nguyễn Văn Mạnh (2010). Một số vấn đề lý luận về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. http://www.vusta.vn/vi/news/Thong-tin-Su-kien-Thanh-tuu-KH-CN/Mot-so-van-de-ly-luan-ve-phat-trien-xa-hoi-va-quan-ly-phat-trien-xa-hoi-35789.html   VUSTA 01/11/2010.

11.  Nước CHXHCN Việt Nam (2010). Báo cáo Mục tiêu Phát triển Thiên nhiên kỷ 2010. Việt Nam - 2/3 chặng đường thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, hướng tới năm 2015.

12.  Trần Đức Cường (2012). Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Khoa học Xã hội. 201219.

13.  Trịnh Duy Luân (2009). Một số vấn đề tham gia xã hội và phản biện xã hội. Tạp chí Xã hội học. Số 2 (106), 3-9.

14.  Vũ Mạnh Lợi (2012). Bàn về phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở Việt Nam. Tạp chí Xã hội học, Số 4 (120)/2012.

15.  Viện Xã hội học (2011). Báo cáo Tổng hợp đề tài cấp Bộ: Một số vấn đề về mô hình phát triển xã hội và quản lý xã hội Việt Nam. Chủ nhiệm Đề tài: Trịnh Duy Luân. Tháng 3/2011.

 

Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 10 - 2018

 

 

Các tin đã đưa ngày: