Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • left_banner_HTQT (1)

Tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và đào tạo luật học ở Việt Nam hiện nay

05/07/2019 - Số lượt xem: 135

GS.TS., Võ Khánh Vinh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

 

Tóm tắt: Tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành là cách tiếp cận mới, hiện đại trong nghiên cứu khoa học và đào tạo hiện nay trên thế giới, trong đó có lĩnh vực luật học. Bài viết này bước đầu tìm hiểu về tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và đào tạo luật học; cụ thể là luận giải tính tất yếu, phân tích nội dung và làm rõ việc triển khai tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học ở nước ta hiện nay.

Abstract: Multi-, inter-, trans-disciplinary approaches are novel and innovative in scientific research and training in the world, particularly in legal field. The paper explores such approaches in legal research and training. Specifically, it clarifies the inevitability, analyzes content, and elucidates the deployment of such approaches in current legal research and training in our country.

 

1. Khái quát chung về các cách tiếp cận nghiên cứu và đào tạo luật học ở nước ta hiện nay*

Trong một thời gian dài cách tiếp cận chuyên ngành luật học thực chứng (thực định) là cách tiếp cận thống trị, chi phối trong nghiên cứu và giảng dạy luật học ở nước ta. Cách tiếp cận đó phần lớn triển khai nghiên cứu pháp luật dưới phương diện thực định, cụ thể là: Xây dựng quan niệm quy phạm, phân tích quy phạm, đánh giá quy phạm, phân tích tính hình thức, lôgic pháp lý và những vấn đề pháp lý khác về nhà nước và pháp luật. Kết quả của cách tiếp cận này thể hiện ở chỗ hình thành nên lý luận thực chứng có hệ thống về nhà nước và pháp luật. Lý luận đó đã và đang góp phần nhận thức về Nhà nước và pháp luật, tạo ra cơ sở lý luận cho các hoạt động pháp luật, trong đó có hoạt động nghiên cứu và đào tạo pháp luật.

Nghiên cứu quá trình phát triển của khoa học pháp lý thời gian gần đây cho thấy, đang hình thành nên cách tiếp cận so sánh luật học, cách tiếp cận xã hội học pháp luật và từng bước đang hình thành nên cách tiếp cận chính sách học pháp luật, triết học pháp luật, tiếp cận dựa trên quyền, tâm lý học pháp luật, kinh tế học pháp luật trong nghiên cứu và giảng dạy pháp luật ở nước ta. Một số cách tiếp cận trong số đó bước đầu đã hình thành nên hệ thống những vấn đề lý luận nhất định, chẳng hạn như: Luật học so sánh, xã hội học pháp luật, còn các cách tiếp cận khác thì mới được triển khai nghiên cứu.

 2. Tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành là tất yếu trong nghiên cứu và giảng dạy luật học ở Việt Nam hiện nay

Tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học ở nước ta hiện nay là tất yếu và xuất phát để đáp ứng các nhu cầu cơ bản sau đây:

Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng, quá trình xã hội phong phú, đa dạng, đa phương diện, đa chiều cạnh, là các hiện thực xã hội phức tạp. Do vậy, cần có các cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy về các hiện tượng đó.

Nhu cầu hiểu biết hiện nay về Nhà nước và pháp luật đã và đang diễn ra theo chiều hướng: Cần hiểu biết sâu hơn, tổng thể hơn, toàn diện hơn, hệ thống hơn, khám phá bản chất, các thuộc tính cơ bản, các quy luật vận động của Nhà nước và pháp luật, sự tương tác của Nhà nước với pháp luật, và ngược lại, sự tương tác của Nhà nước và pháp luật với các hiện tượng, quá trình khác trong xã hội... Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn phát triển hiện nay, nếu việc nghiên cứu và giảng dạy chỉ dựa vào tiếp cận chuyên ngành luật học thực định thì không thể đáp ứng được các nhu cầu nói trên.

Hiện nay, có nhiều nhiệm vụ được đặt ra đối với khoa học pháp lý Việt Nam. Các nhiệm vụ đó xuất phát từ quá trình đổi mới sâu sắc, toàn diện xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới: Giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đó là những nhiệm vụ mang tính chiến lược như: Xây dựng và phát triển toàn diện con người Việt Nam, nhận thức mới về quyền con người, xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường, phát huy dân chủ, hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống pháp luật. Để giải quyết những nhiệm vụ đó cần phải xây dựng và hoàn thiện các thể chế tương ứng, trong đó có thể chế pháp luật. Những hiểu biết đa ngành, liên ngành, xuyên ngành ở cấp độ lý luận và thực tiễn về pháp luật là những tiền đề, điều kiện cần thiết để xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật.

Ở các nước trên thế giới, tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học đã được hình thành, triển khai thực hiện và đem đến những kết quả tích cực, chất lượng[1]. Đó là: Tiếp cận thực chứng pháp luật, tiếp cận xã hội học pháp luật, tiếp cận triết học pháp luật, tiếp cận dựa trên quyền, tiếp cận chính sách học pháp luật, tiếp cận so sánh luật học, tiếp cận tâm lý học pháp luật, tiếp cận kinh tế học pháp luật... Trong các cách tiếp cận đó, tiếp cận thực chứng pháp luật, tiếp cận triết học pháp luật, tiếp cận xã hội học pháp luật có lịch sử hình thành và pháp triển lâu dài, còn các cách tiếp cận khác có lịch sử hình thành và phát triển ngắn hơn. Nói cách khác, tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học mang tính quy luật, phổ biến hiện nay trên thế giới.

3. Quan niệm về tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học

Cần phải đổi mới tư duy nghiên cứu và đào tạo luật học ở nước ta hiện nay, trước hết là đổi mới tư duy tiếp cận nghiên cứu và đào tạo luật học. Đổi mới tư duy đó cần được tiến hành theo hướng: Chuyển từ tư duy đơn ngành sang tư duy kết hợp tiếp cận đơn ngành, đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và đào tạo luật học.

Vậy, tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học là gì? Giá trị của các cách tiếp cận đó là như thế nào?

Dưới dạng khái quát nhất, đối tượng nghiên cứu của khoa học luật học là Nhà nước và pháp luật phản ánh hiện thực xã hội. Do vậy, cần có tiếp cận đa phương diện, đa chiều cạnh đến các hiện thực xã hội phức tạp đó, cần có sự kết nối, liên kết các cách tiếp cận đó trong một chỉnh thể thống nhất, hệ thống trên cơ sở lấy một cách tiếp cận làm định hướng chủ đạo, làm trục chính.

Tiếp cận đa ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học có thể được hiểu là triển khai các hướng nghiên cứu và giảng dạy khác nhau về Nhà nước và pháp luật mà mỗi hướng trong đó trở thành một lĩnh vực khoa học, một môn học tương ứng. Đến giai đoạn phát triển hiện nay, các hướng nghiên cứu và giảng dạy đó có thể là: Tiếp cận thực chứng pháp luật, tiếp cận xã hội học pháp luật, tiếp cận triết học pháp luật, tiếp cận dựa trên quyền, tiếp cận chính sách học pháp luật, tiếp cận luật học so sánh, tiếp cận tâm lý học pháp luật, tiếp cận kinh tế học pháp luật. Mỗi hướng nghiên cứu và giảng dạy đó có thể được triển khai ở các cấp độ khác nhau như: Cấp độ khái quát chung về Nhà nước và pháp luật, cấp độ ngành pháp luật, cấp độ chế định pháp luật. Chẳng hạn, đối với Luật Hình sự hiện nay đã, đang và cần phải triển khai nghiên cứu và giảng dạy: Luật Hình sự (Luật Hình sự thực chứng - có thể coi như vậy); xã hội học Luật Hình sự; Luật Hình sự so sánh; triết học Luật Hình sự.

Tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học có thể được hiểu là sự kết nối hay là tiếp cận kết nối tri thức do các cách tiếp cận khác nhau tạo nên vào một chỉnh thể thống nhất để hình thành nên một hệ thống tri thức mới về chất liên quan đến Nhà nước và pháp luật. Nhận thức liên ngành về Nhà nước và pháp luật được hình thành dựa vào hệ thống tri thức mới đó về Nhà nước và pháp luật. Đó là nhận thức ở tầng cao hơn, khái quát hơn, trong một không gian rộng hơn về Nhà nước và pháp luật.

Tiếp cận xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học có thể được hiểu là cách tiếp cận dựa trên việc sử dụng kiến thức luật học và kiến thức của các ngành khoa học khác để khám phá Nhà nước và pháp luật, hình thành nên hệ thống tri thức sâu sắc hơn về Nhà nước và pháp luật. Nói cách khác, Nhà nước và pháp luật được nhận thức xuyên qua các ngành khoa học khác nhau. Chẳng hạn, có thể dựa trên cách tiếp cận xuyên ngành để nhận thức về bản chất của pháp luật trên ba phương diện: Phương diện giai cấp, phương diện xã hội, phương diện người. Có thể nói nhận thức xuyên ngành là nhận thức sâu sắc hơn về Nhà nước và pháp luật.

4. Nội dung các cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học

Tiếp cận luật học thực chứng (thực định) là định hướng nghiên cứu độc lập có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài ở phạm vi toàn cầu và ở nước ta. Định hướng nghiên cứu này có đối tượng nghiên cứu là pháp luật tồn tại dưới hình thức thực định, có phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của mình, đã hình thành nên một hệ thống lý luận luật học thực chứng toàn diện về pháp luật, bao gồm những vấn đề: Đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu pháp luật, khái niệm, nguồn gốc, bản chất, chức năng của pháp luật, lịch sử pháp luật, điều chỉnh pháp luật và cơ chế điều chỉnh pháp luật, xây dựng pháp luật, hệ thống hoá pháp luật, quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lý, ý thức pháp luật, văn hoá pháp luật, giáo dục pháp luật, thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật, trách nhiệm pháp lý, pháp chế, trật tự pháp luật và những vấn đề khác. Hệ thống lý luận đó là hệ thống lý luận mang tính phương pháp luận để giải quyết, xây dựng và hình thành các lý luận pháp lý chuyên ngành, liên ngành.

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, cần phải đẩy mạnh hướng nghiên cứu này để phát triển sâu sắc và toàn diện hơn hệ thống lý luận đó để góp phần giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra. Chẳng hạn, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của pháp luật, các nguyên tắc của pháp luật, các nguồn (hình thức) của pháp luật, hiệu lực của pháp luật, các chức năng của pháp luật, chủ thể của pháp luật, cơ chế thực hiện pháp luật... Định hướng này cần được đẩy mạnh trên tất cả các cấp độ: Cấp độ lý luận chung về pháp luật, cấp độ lý luận pháp luật chuyên ngành, cấp độ chế định pháp luật.

Tiếp cận luật học so sánh là định hướng nghiên cứu đã được hình thành và phát triển ở các nước trên thế giới và đang được hình thành ở nước ta[2]. Bước chuyển lớn nhất của cách tiếp cận này thể hiện ở việc chuyển nhận thức so sánh pháp luật với tư cách là một phương pháp nghiên cứu của luật học sang nhận thức luật học so sánh với tư cách một định hướng nghiên cứu của luật học, một lĩnh vực khoa học. Đến nay, định hướng nghiên cứu này có đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của mình. Kết quả nghiên cứu của định hướng này đã hình thành nên một hệ thống tri thức về luật học so sánh. Đó là hệ thống tri thức về lịch sử luật học so sánh, đối tượng nghiên cứu của luật học so sánh, khoa học luật học so sánh, phương pháp luận của luật học so sánh, mục đích và việc sử dụng kết quả nghiên cứu của luật học so sánh, các chức năng của luật học so sánh, khách thể của luật học so sánh, phân loại các hệ thống pháp luật hiện nay, các đặc điểm khái quát của pháp luật trên thế giới, luật học so sánh và luật quốc tế, pháp luật châu Âu và luật học so sánh, các họ pháp luật cơ bản hiện nay và những vấn đề khác. Hệ thống lý luận luật học so sánh trở thành vừa là phương pháp luận, vừa là phương pháp để nhận thức về pháp luật. Hiện nay, cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu luật học so sánh ở các cấp độ khác nhau: Nghiên cứu ở cấp độ lý luận chung về luật học so sánh, ở cấp độ lý luận luật học so sánh chuyên ngành, ở cấp độ so sánh chế định... Cách tiếp cận luật học so sánh có thể kết hợp với cách tiếp cận xã hội học pháp luật để hình thành nên xã hội học luật học so sánh.

Tiếp cận xã hội học pháp luật là định hướng nghiên cứu được hình thành cùng hoặc muộn hơn so với tiếp cận luật học so sánh[3]. Định hướng nghiên cứu này có đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu riêng, hình thành nên hệ thống tri thức về xã hội học pháp luật ở cấp độ lý luận lẫn ở cấp độ ứng dụng. Tương tự cách tiếp cận luật học so sánh, kết quả nghiên cứu của cách tiếp cận này thể hiện khái quát ở chỗ quan niệm xã hội học pháp luật từ một phương pháp nghiên cứu sang một định hướng nghiên cứu, một lĩnh vực khoa học. Đến nay, định hướng nghiên cứu này có đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của mình. Kết quả nghiên cứu của định hướng này là đã hình thành nên một hệ thống tri thức lý luận và thực tiễn về xã hội học pháp luật. Đó là hệ thống tri thức về xã hội học pháp luật với tư cách là một ngành khoa học, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xã hội học pháp luật, lịch sử xã hội học pháp luật, vai trò và chức năng xã hội của pháp luật, cơ chế xã hội của điều chỉnh pháp luật, xã hội hoá pháp luật của cá nhân, hoạt động pháp luật, sự hình thành quyết định xây dựng pháp luật, xã hội học xây dựng pháp luật, xã hội học áp dụng pháp luật, thông tin pháp luật, xã hội học ý thức pháp luật, xã hội học tổ chức pháp lý, hiệu quả pháp luật, xung đột pháp luật và những vấn đề khác. Hệ thống lý luận xã hội học pháp luật đã trở thành phương pháp luận, cách tiếp cận để nhận thức những vấn đề pháp luật ở những cấp độ khác nhau.

Hiện nay, cần đẩy mạnh cách tiếp cận xã hội học trong nghiên cứu và giảng dạy luật học ở nước ta, xây dựng và phát triển lý luận chung về xã hội học pháp luật, lý luận xã hội học pháp luật chuyên ngành. Hướng nghiên cứu này cần tập trung nghiên cứu các nhóm vấn đề sau: Nghiên cứu chiều đi ra từ xã hội và chiều đi vào xã hội của pháp luật, kết quả tác động xã hội của pháp luật và những vấn đề khác. Điều đó có nghĩa rằng cần tập trung nghiên cứu: Xã hội học xây dựng pháp luật, tác động xã hội của pháp luật, xã hội học thực hiện pháp luật, trong đó chú trọng xã hội học áp dụng pháp luật, hiệu quả của pháp luật ở các cấp độ khác nhau: Cấp độ lý luận chung về xã hội học pháp luật, cấp độ lý luận xã hội học pháp luật chuyên ngành, cấp độ chế định pháp luật.

Tiếp cận triết học pháp luật là định hướng nghiên cứu độc lập có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài ở các nước có truyền thống pháp luật, các nước phát triển trên thế giới và từng bước đang được hình thành ở nước ta[4]. Định hướng này có đối tượng nghiên cứu là pháp luật dưới phương diện triết học, có phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của mình, đã hình thành nên một hệ thống lý luận triết học pháp luật.

Phương pháp luận của triết học pháp luật là tư duy pháp luật tự nhiên, là phương thức luận giải pháp luật dựa vào chủ nghĩa khách quan, chủ nghĩa chủ quan, cái khách quan – chủ quan. Các phương pháp triết học cụ thể của triết học pháp luật là: Phản ánh và phản ánh vượt trước; cái lịch sử và cái logíc; cái cụ thể và cái trừu tượng; hiện tượng và bản chất; nội dung và hình thức; cấu trúc và các yếu tố; cái riêng và cái chung; hiện thực và khả năng...

Hệ thống lý luận triết học pháp luật là hệ thống tri thức về lịch sử triết học pháp luật; bản thể luận pháp luật bao gồm: Bản chất bản thể luận pháp luật; hiện thực pháp luật; pháp luật tự nhiên và pháp luật thực định; các hình thức tồn tại của pháp luật (tư tưởng pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật, đời sống pháp luật); nhân học pháp luật bao gồm bản chất người của pháp luật; ý nghĩa triết học của quyền con người; cá nhân và pháp luật (bản chất nhân đạo của pháp luật); giá trị học pháp luật bao gồm các giá trị và pháp luật; các giá trị trong pháp luật; pháp luật là một giá trị tổng hợp; các giá trị pháp luật; tự do là một giá trị và pháp luật là một hình thức của tự do; công bằng là một giá trị pháp luật cơ bản và những vấn đề khác.

Phương pháp luận, các phương pháp nghiên cứu của triết học pháp luật và hệ thống lý luận triết học pháp luật đó hình thành nên một hệ thống lý luận mang tính chất phương pháp luận để nhận thức và giải quyết những vấn đề của luật học ở những cấp độ khác nhau.

Tiếp cận dựa trên quyền là hướng nghiên cứu mới được hình thành trong thời gian gần đây, có đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của mình, đã hình thành nên một hệ thống tri thức về tiếp cận dựa trên quyền[5]. Phương pháp luận, các phương pháp nghiên cứu và hệ thống tri thức đó tạo thành một cách tiếp cận mới để nhận thức và luận giải sâu sắc hơn những vấn đề của luật học.

Tiếp cận chính sách học pháp luật là hướng nghiên cứu pháp luật dưới phương diện chính sách, đã trở thành hướng nghiên cứu độc lập, có đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của mình, đang từng bước hình thành nên một hệ thống lý luận về chính sách pháp luật[6]. So với các cách tiếp cận khác, cách tiếp cận này có lịch sử hình thành và phát triển muộn hơn.

Hệ thống lý luận về chính sách pháp luật bao gồm hệ thống tri thức về lịch sử hình thành và phát triển của chính sách pháp luật; quan niệm về chính sách pháp luật; khách thể của chính sách pháp luật; các mục tiêu, các ưu tiên và các nguyên tắc của chính sách pháp luật; các phương tiện (công cụ) của chính sách pháp luật; chủ thể của chính sách pháp luật; các hình thức thực hiện chính sách pháp luật; cơ chế thực hiện chính sách pháp luật; các loại chính sách pháp luật; các cấp độ chính sách pháp luật; chính sách pháp luật so sánh. Hệ thống lý luận đó trở thành vừa là cách tiếp cận, vừa là phương pháp luận để nhận thức và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn của luật học.

Tiếp cận tâm lý học pháp luật là hướng nghiên cứu pháp luật dưới phương diện tâm lý học, có đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của mình, hình thành nên một hệ thống lý luận về tâm lý học pháp luật.

Hệ thống lý luận tâm lý học pháp luật làm sáng tỏ các quy luật biểu hiện của tâm lý trong lĩnh vực luật học, bao gồm hệ thống tri thức về lịch sử hình thành và phát triển của tâm lý học pháp luật; về phát triển ý thức và phát triển cá nhân trong lĩnh vực pháp luật; về sự chuẩn bị tâm lý đối với hoạt động pháp luật; các đặc điểm tâm lý - xã hội của cá nhân và hoạt động pháp luật; tâm lý của nhà luật học; tâm lý của người phạm tội; tâm lý của người bị hại; tâm lý của người chưa thành niên phạm tội; tâm lý trong điều tra, truy tố; tâm lý trong xét xử; tâm lý trong thi hành án và những vấn đề khác. Hệ thống tri thức đó hình thành hệ thống hiểu biết mang tính chất phương pháp luận để nhận thức pháp luật dưới phương diện tâm lý.

Tiếp cận kinh tế học pháp luật là hướng nghiên cứu mới của khoa học luật học về pháp luật[7]. Hướng nghiên cứu này được hình thành và phát triển từ giữa thế kỷ XX, đến nay, là hướng nghiên cứu độc lập, có đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của mình và một hệ thống lý luận từng bước được hoàn thiện. Hướng nghiên cứu này sử dụng, kết hợp tư duy pháp lý và tư duy kinh tế, tri thức, các phương pháp của khoa học kinh tế kết hợp với tri thức, các phương pháp của khoa học luật học để nhận thức và luận giải những vấn đề của luật học.

Hệ thống lý luận về kinh tế học pháp luật bao gồm các tri thức về kinh tế học với tư cách một lĩnh vực khoa học, một môn học; lịch sử hình thành và phát triển kinh tế học pháp luật; về mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật; pháp luật và phân bổ nguồn lực; phân tích kinh tế về pháp luật; về bản chất hành vi pháp luật; kinh tế học về quyền sở hữu và tài sản; Kinh tế học về quyền sở hữu trí tuệ; kinh tế học về hợp đồng; kinh tế học về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; kinh tế học và vấn đề bảo vệ môi trường; kinh tế học xây dựng pháp luật; kinh tế học áp dụng pháp luật; kinh tế học giáo dục và đào tạo pháp luật và những vấn đề khác. Những tri thức đó hình thành nên những hiểu biết mang tính chất phương pháp luận để nhận thức và luận giải pháp luật dưới phương diện kinh tế.

5. Triển khai tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học ở nước ta hiện nay

Tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học là tư duy nghiên cứu và giảng dạy mới về luật học, đòi hỏi phải được triển khai thực hiện một cách tổng thể, toàn diện, hệ thống, có những bước đi phù hợp để tạo ra sự tác động gia tăng tư duy này trong thực tiễn. Hiện nay, theo tác giả, cần triển khai tổng thể, đồng bộ các nội dung cơ bản sau đây.

Hình thành đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy

Đội ngũ cán bộ này cần phải có tư duy, cách tiếp cận, kiến thức chuyên ngành, đa ngành, liên ngành, xuyên ngành. Trước hết, trong tổng thể hoặc theo mỗi cách tiếp cận cụ thể cần “xã hội học hoá” các nhà luật học; “triết học hoá” các nhà luật học; “chính sách hoá” các nhà luật học; “nhân học hoá” các nhà luật học; “tâm lý học hoá” các nhà luật học; “kinh tế học hoá” các nhà luật học. Điều này có nghĩa rằng, các cán bộ nghiên cứu và giảng dạy luật học, ngoài kiến thức lý luận và thực tiễn chuyên ngành về nhà nước và pháp luật cần phải có kiến thức về lĩnh vực tương ứng mà mình quan tâm: Hoặc là kiến thức triết học, hoặc là kiến thức xã hội học, hoặc là kiến thức chính sách học, hoặc là kiến thức tâm lý học, hoặc là kiến thức kinh tế học, hoặc là các kiến thức khác, hoặc là tổng thể các khối kiến thức nói trên. Muốn vậy, cần phải đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy theo hướng kết hợp chuyên ngành với đa ngành, liên ngành, xuyên ngành khoa học xã hội, khoa học luật học. Tiếp đến, cần có những hình thức, giải pháp phù hợp để liên kết các nhà luật học với các nhà xã hội học, triết học, chính sách học, tâm lý học, kinh tế học, nhân học... trong nghiên cứu và giảng dạy luật học. Cần hiểu rằng, đây là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải đổi mới tư duy, có những nỗ lực lớn, quyết tâm nghề nghiệp cao.

Hình thành các bộ phận nghiên cứu và giảng dạy tương ứng trong các tổ chức nghiên cứu và đào tạo pháp luật

Triển khai tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và giảng dạy luật học, ngoài nhân tố nhân lực nghiên cứu và giảng dạy, đòi hỏi phải có cơ cấu tổ chức nghiên cứu và giảng dạy tương ứng. Các tổ chức nghiên cứu và đào tạo pháp luật cần thành lập các bộ phận nghiên cứu và đào tạo tương ứng để triển khai nghiên cứu và giảng dạy những kiến thức đa ngành, liên ngành, xuyên ngành. Chẳng hạn, thành lập Trung tâm nghiên cứu triết học pháp luật, Trung tâm nghiên cứu xã hội học pháp luật, Trung tâm nghiên cứu luật học so sánh, Trung tâm nghiên cứu chính sách pháp luật, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Trung tâm nghiên cứu tâm lý học pháp luật, Trung tâm nghiên cứu kinh tế học pháp luật... Các cơ cấu tổ chức đó xây dựng các chương trình nghiên cứu, tập hợp lực lượng nghiên cứu, triển khai nghiên cứu, là các diễn đàn sinh hoạt khoa học về những vấn đề đa ngành, liên ngành, xuyên ngành luật học, đồng thời thông qua đó đào tạo đội ngũ chuyên gia nghiên cứu và giảng dạy về nhưng lĩnh vực tương ứng.

Xây dựng các chương trình đào tạo có nội dung độc lập, lồng ghép, tích hợp các kiến thức chuyên ngành, đa ngành, liên ngành, xuyên ngành luật học

Nhìn một cách tổng quan, nội dung các chương trình đào tạo luật học hiện nay ở nước ta phần lớn mang đậm tính chất luật học thực chứng, đặc biệt nội dung chương trình đào tạo cử nhân. Trước hết, nội dung chương trình đào tạo tiến sỹ luật học phải được xây dựng và thực hiện dựa trên tư duy tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành luật học. Các môn học thuộc chương trình đào tạo ở cấp học này phải là các môn học mang tính đa ngành, liên ngành, xuyên ngành. Tiếp đến, nội dung các chương trình đào tạo thạc sỹ luật học cần phải bao gồm các kiến thức chuyên ngành và đa ngành, liên ngành, xuyên ngành luật học. Trong các môn học thuộc chương trình đào tạo ở cấp học này cần phải có một số môn học mang tính chất đa ngành, liên ngành, xuyên ngành luật học. Nội dung các chương trình đào tạo cử nhân luật học cần phải bao quát cả các kiến thức chuyên ngành lẫn các kiến thức đa ngành, liên ngành ở mức độ phù hợp. Kiến thức đa ngành, liên ngành luật học được lồng ghép, tích hợp tương ứng vào hoặc cùng với kiến thức chuyên ngành luật học. Tôi cho rằng, các cơ sở nghiên cứu và đào tạo cần xây dựng một số chương trình đào tạo chuyên sâu sau tiến sỹ về nghiên cứu dựa trên tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành luật học nói chung, hoặc trong các chuyên ngành luật học cụ thể nói riêng.

Xây dựng hệ thống các đề tài nghiên cứu mang tính chất đa ngành, liên ngành, xuyên ngành về Nhà nước và pháp luật

Các cơ quan, tổ chức đặt hàng nghiên cứu tăng cường đưa ra các chủ đề nghiên cứu mang tính chất đa ngành, liên ngành, xuyên ngành về Nhà nước và pháp luật để luận giải những vấn đề hoàn thiện và phát triển Nhà nước và pháp luật hiện nay ở nước ta. Tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành phải là yêu cầu bắt buộc để giải quyết các nhiệm vụ của chủ đề nghiên cứu được đặt hàng. Các chủ đề nghiên cứu đó có thể là các chương trình nghiên cứu cấp nhà nước, các đề tài nghiên cứu thuộc các chương trình nghiên cứu cấp nhà nước, các chương trình nghiên cứu cấp bộ, các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình nghiên cứu cấp bộ, các đề án nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ cấp bách của thực tiễn. Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo khi xác định hệ đề tài nghiên cứu cần phải dựa vào và quán triệt tư duy, cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành.

Xây dựng hệ thống các đề tài luận án, luận văn mang tính đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong đào tạo luật học

Các cơ sở đào tạo luật học cần chủ động xây dựng hệ chủ đề luận án tiến sỹ, hệ chủ đề luận văn thạc sỹ mang tính chất đa ngành, liên ngành, xuyên ngành để nghiên cứu sinh, học viên cao học lựa chọn làm đề tài luận án tiến sỹ, đề tài luận văn thạc sỹ. Các giảng viên nên khuyến khích, động viên các nghiên cứu sinh, học viên cao học thực hiện các đề tài luận án, luận văn mang tính chất đa ngành, liên ngành, xuyên ngành.

Tổng kết thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy dựa trên cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong lĩnh vực luật học

Các tổ chức nghiên cứu và đào tạo luật học cần thường xuyên tiến hành tổng kết thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy dựa trên cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong lĩnh vực luật học. Việc tổng kết thực tiễn nghiên cứu đa ngành, liên ngành, xuyên ngành về luật học có thể được tiến hành bằng cách tập hợp hoá, hệ thống hoá các công trình nghiên cứu mang tính chất đa ngành, liên ngành, xuyên ngành đã được công bố theo các chủ đề nhất định, đánh giá các thành tựu đã đạt được, trên cơ sở đó đưa ra các định hướng tiếp tục triển khai nghiên cứu theo cách tiếp cận đó. Việc tổng kết thực tiễn giảng dạy dựa trên cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành có thể được tiến hành bằng việc đánh giá tổng quan nội dung các chương trình đào tạo luật học thuộc các trình độ khác nhau hoặc theo các môn học mang tính chất đa ngành, liên ngành, xuyên ngành đã được giảng dạy, tổng kết các tài liệu đã được biên soạn phục vụ cho giảng dạy, từ đó hoàn thiện nội dung các chương trình đào tạo, nội dung các môn học đó.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và đào tạo luật học

Các nước trên thế giới, đặc biệt các nước phát triển đã tích luỹ được những kinh nghiệm nhất định về nghiên cứu và giảng dạy dựa trên cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành nói chung và trong lĩnh vực luật học nói riêng. Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật học nước ta cần đẩy mạnh hợp tác trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy đa ngành, liên ngành, xuyên ngành về luật học.

 

 


[1] Raymond C. Miller, Interdisciplinarity: Its Meaning and Consequences, Oxford research Encyclopedia, Print Publication Date: Mar 2010, Subject: International Relations Theory.

[2] Xem: Võ Khánh Vinh, Luật học so sánh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014.

[3] Xem: Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật: Những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015.

[4] Xem cùng tác giả Võ Khánh Vinh: Triết học pháp luật: Đối tượng nghiên cứu, vị trí và chức năng, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 4/2013, tr. 3-16; Về bản thể luận pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 1/2014, tr. 3-15; Về nhân học pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 2/2014, tr. 3-18; Về giá trị học pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 7/2014, tr. 3-16; Về phương pháp luận của triết học pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 8/2014, tr. 3-13.

[5] Xem: Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội, Nxb. Khoa học xã hội, 2009; Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, 2010; Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, Tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, 2010; Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Quyền con người (Giáo trình sau đại học), Nxb. Khoa học xã hội, 2015; Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia, 2009; Vũ Công Giao, Ngô Minh Hương (Đồng chủ biên), Tiếp cận dựa trên quyền con người: Lý luận và thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2016.

[6] Xem cùng tác giả Võ Khánh Vinh: Về môn học: Chính sách pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 9/2015, tr. 3-15; Đời sống pháp luật – khách thể của chính sách pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 10/2015, tr. 3-16; Chính sách pháp luật: Khái niệm và các dấu hiệu, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 11/2015, tr. 3-13; Các mục tiêu, các ưu tiên và các nguyên tắc của chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 12/2015; Các phương tiện của chính sách pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 3/2016, tr. 3-15; Các phương tiện của chính sách pháp luật (tiếp theo), Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 4/2016, tr. 3-15; Học thuyết pháp luật – hình thức thực hiện chính sách pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 6/2016, tr. 9-15; Chính sách xây dựng pháp luật – một loại chính sách pháp luật và một hình thức thực hiện chính sách pháp luật, Tạp chí nhân lực khoa học xã hội, số 7/2016. tr. 3-11.

[7] Xem: Dương Thị Thanh Mai, Nguyễn Văn Cương (Đồng chủ biên), Về trường phái kinh tế học pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2012.

 

Nguồn: TẠP CHÍ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT, số 5 - năm 2018

Các tin đã đưa ngày: