Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • left_banner_nghiencuu (1)
  • 3.1 top logo - tin tuc hoat dong khoa hoc

Đề tài cấp Bộ “Diễn ngôn phát triển, chuyển đổi sinh kế và biến đổi văn hoá ở người Ê Đê và Cơ Ho, Tây Nguyên” nghiệm thu đạt loại xuất sắc

12/04/2019

Chiều ngày 11/04/2019, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức nghiệm thu cấp Bộ đề tài “Diễn ngôn phát triển, chuyển đổi sinh kế và biến đổi văn hoá ở người Ê Đê và Cơ Ho, Tây Nguyên” do TS. Hoàng Cầm làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Văn hóa là cơ quan chủ trì, đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt loại xuất sắc.

  TS. Hoàng Cầm báo cáo kết quả nghiên cứu trước Hội đồng nghiệm thu

Trong các diễn ngôn phát triển, các tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện diện như những cộng đồng tộc người với lối sống "lạc hậu", và vì vậy cần được giúp đỡ để phát triển, để "tiến kịp" các cộng đồng phát triển hơn ở vùng đồng bằng. Các chính sách và chương trình phát triển vùng miền núi Việt Nam nói chung và vùng Tây Nguyên  nói riêng trong mấy thập kỉ qua được thiết kế dựa trên những giả định này. Vì vậy, các thực hành phát triển thường là sự áp đặt các mô hình được cho là “tiến bộ” hơn để phát triển hay văn minh hoá kém phát triển hơn. Mặc dù, việc xây dựng hình ảnh các tộc người “lạc hậu”, “chậm tiến” và sự áp đặt các mô hình phát triển được cho là tiến bộ, không phải là cá biệt ở Việt Nam, song khác với nhiều quốc gia khác, ở bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là trước thời kì Đổi mới, thực hành này được củng cố bởi một giả định khoa học là thuyết tiến hoá luận đơn tuyến về lịch sử phát triển mang tính phổ quát của loài người. Từ lăng kính lý thuyết này, sự khác biệt văn hoá giữa các tộc người được nhìn như là kết quả của sự tiến hoá không đều; một vài nhóm tiến hoá nhanh hơn và các nhóm này có quyền và nghĩa vụ trong việc giúp đỡ các nhóm tiến hoá chậm hơn theo kịp họ. Sử dụng lăng kính lý thuyết này, nhà nước, một mặt, tài trợ các công trình nghiên cứu để trả lời câu các tộc người thiểu số là ai và họ đang ở giai đoạn phát triển nào trên con đường tiến hoá chung của nhân loại. Mặt khác và cùng lúc với sự nghiên cứu tìm hiểu này, hàng loạt chính sách và chương trình phát triển được thiết kế và triển khai nhằm tạo điều kiện cần thiết để xoá bỏ cội rễ của khoảng cách về văn hoá và kinh tế giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu.

Ở khía cạnh văn hoá, xã hội và tư tưởng, tuy các chính sách và chương trình phát triển văn hoá, xã hội của nhà nước sau đổi mới đã có sự cởi mở hơn trong việc nhìn nhận, đánh giá về giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người, song quan điểm tiến hoá luận đơn tuyến về sự đa dạng, khác biệt văn hoá cũng như triết lý về tính hiện đại của phương Tây vẫn có sự chi phối rất lớn trong chính sách và chương trình bảo tồn và phát huy di sản cũng như các chương trình phát triển văn hoá xã hội ở Việt Nam hiện nay. Ở khía cạnh bảo tồn và phát huy, cách tiếp cận "bảo tồn có chọn lọc" như vậy đã làm cho các chương trình, dự án bảo tồn và phát huy của nhà nước không thể đạt được kết quả như mong đợi. Bởi vì, với đặc tính chỉnh thể, nguyên hợp hay mọi thành tố văn hoá của một truyền thống văn hoá đều có mối liên kết hữu cơ với nhau, việc chỉ chọn bảo tồn một số thành tố văn hoá “tích cực” và loại bỏ những thành tố văn hoá “tiêu cực” sẽ làm  cho các di sản và thực hành văn hoá tồn tại một cách méo mó và thiếu tính bền vững, v.v...

Thực hành văn hoá, xã hội và tâm linh của cộng đồng người Ê Đê và Cơ Ho cũng trải qua những biến đổi lớn. Tương tự như khía cạnh sinh kế, sự biến đổi này là kết quả của sự tác động qua lại, mang tính biện chứng, đan xen, phụ thuộc, giữa diễn ngôn và các chương trình phát triển và sự biến đổi về mặt chính trị - kinh tế - xã hội - văn hóa khác. Sự biến đổi thực hành văn hóa - xã hội này, ở khía cạnh nhất định, cũng chính là quá trình “hòa nhập” với văn hóa người Kinh "văn minh" hơn. Tuy nhiên, khác với các hoạt động mưu sinh, sự biến đổi trong thực hành văn hoá - xã hội không làm mất hoàn toàn các giá trị văn hoá cổ truyền mà là nằm ở thế “giằng co” giữa các giá trị truyền thống và các đặc trưng văn hóa tộc người với các giá trị mới, trong sự “chia sẻ” vai trò chủ thể xã hội. Sự giằng co này đã tạo ra những “mảnh vỡ” của văn hóa truyền thống được “gắn” vào văn hóa đương đại, tạo nên những hiện tượng văn hóa - xã hội mới, đơn lẻ và rời rạc, đang được chủ thể dành cho nhiều quan tâm, được đưa vào một quá trình tái cấu trúc.

Trước những vấn đề nêu trên, đề tài “Diễn ngôn phát triển, chuyển đổi sinh kế và biến đổi văn hoá ở  người Ê Đê và Cơ Ho, Tây Nguyên” được thực hiện, nhằm tìm hiểu một cách hệ thống và giải đáp phần nào các vấn đề được đặt ra và đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu của đề tài do TS. Hoàng Cầm làm Chủ nhiệm đã sử dụng lăng kính lý thuyết diễn ngôn và quyền lực quản trị của Foucault cũng như khái niệm văn hoá bá quyền của Gramsci để xem sự tác động của diễn ngôn và các thực hành phát triển đối với sự chuyển đổi sinh kế và biến đổi văn hoá của người Cơ Ho và Ê Đê ở Tây Nguyên. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu chính của đề tài được thể hiện ở bốn chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu. Diễn ngôn phát triển, dù ở quốc gia nào hay trên bình diện toàn cầu, đều chia sẻ điểm tương đồng là xác định và cung cấp “tri thức” về đối tượng cần can thiệp để cải thiện điều kiện sống cho họ. Bản thân diễn ngôn và các thực hành phát triển kèm theo chúng đã có tác động lớn đến thực hành văn hoá, xã hội và mưu sinh của người dân. Trên cơ sở tham chiếu các công trình nghiên cứu trước, đề tài lựa chọn ba khái niệm lý thuyết là diễn ngôn và quyền lực quản trị của nhà triết học Michael Foucualt và khái niệm quyền thống soát của Gramsci làm khung lý thuyết phân tích.

Chương 2: Diễn ngôn và các thực hành phát triển. Dưới sự dẫn dắt về mặt lý luận của thuyết tiến hoá luận đơn tuyến, sự đa dạng trong thực hành sinh kế, văn hoá và xã hội của các tộc người đã được sắp xếp theo trật tự cao thấp trong sơ đồ tiến hoá của nhân loại. Các tộc người thiểu số, trong các diễn ngôn này, về cơ bản được hiện lên như là các tộc người đang ở nấc thang tiến hoá khá thấp trong so sánh với người Kinh ở miền xuôi. Việc kiến tạo nên các tộc người thiểu số với lối sống còn nhiều thiếu sót như vậy không chỉ là các sản phẩm khoa học đơn thuần, mà được dùng như những cơ sở khoa học để thiết kế và triển khai các chương trình phát triển nhằm giúp các tộc người thiểu số phát triển nhanh hơn.

Chương 3: Diễn ngôn, chính sách và sự thay đổi sinh kế. Ở nội dung này, các tác giả đã trình bày và phân tích những thay đổi trong thực hành sinh kế cũng như phân tích và chỉ ra các yếu tố chi phối quá trình biến đổi sinh kế cũng như việc ra quyết định lựa chọn sinh kế của những người Ê Đê và Cơ Ho tại hai địa bàn nghiên cứu là buôn Tơng Jú xã Eakao và thị trấn Đinh Văn của tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng.

Chương 4: Diễn ngôn, chính sách và sự biến đổi văn hoá. Các tác giả xem xét các quan niệm và thực hành văn hoá - xã hội của người Ê Đê ở xã Ea Kao và người Cơ Ho ở thị trấn Đinh Văn trong mối quan hệ với diễn ngôn và các chương trình phát triển đối với các tộc người thiểu số ở Việt Nam nói chung và ở Tây Nguyên nói riêng. Qua khung tham chiếu này, những biến đổi trong thực hành văn hóa - xã hội hiện nay của người Ê Đê và người Cơ Ho ở vùng đô thị hóa của Đắk Lắk và Lâm Đồng, sẽ được xem xét ở nhiều chiều cạnh chi phối của diễn ngôn phát triển được cụ thể hóa ở các chính sách và phương thức thực hiện, diễn ra trong những mối quan hệ qua lại, đan xen và phụ thuộc của các hoạt động chính trị - kinh tế - xã hội - văn hóa.

Do được xây dựng trên cơ sở của những diễn ngôn chưa phản ánh đúng giá trị thực tế của các thực hành văn hoá, xã hội và sinh kế của các tộc người, nhiều chính sách và dự án phát triển còn mang tính áp đặt, thiếu tính nhạy cảm văn hoá, chưa thực sự phù hợp với đặc trưng vùng miền. Quan trọng hơn nhiều chính sách và dự án chưa phát huy được nội lực cộng đồng và tiềm năng vốn có của hệ thống tri thức địa phương. Chính vì thế, các chính sách và dự án không những chưa đem lại những kết quả như mong đợi mà còn tạo ra nhiều hệ lụy, có tác động lớn đến sự tồn tại bền vững của các dân tộc. Để khuyến khích các cộng đồng dân tộc tại chỗ chủ động tham gia tích cực vào việc bảo tồn di sản văn hóa và phát huy nội lực trong xóa đói giảm nghèo, việc nhìn nhận đúng đắn về chức năng và giá trị của thực hành văn hoá- xã hội và mưu sinh của các tộc người là hết sức cần thiết. Xóa bỏ định kiến về văn hoá sẽ làm cho các tộc người thiểu số tự hào về văn hóa và bản sắc của mình, đem lại cho họ sự tự tin và từ đó chủ động trong việc lựa chọn bảo tồn cũng như phát huy những giá trị văn hóa và tri thức một cách phù hợp. Trong bối cảnh sự tự định kiến đã trở thành một vấn đề xã hội phổ biến trong các tộc người thiểu số hiện nay, để xoá bỏ sự tự định kiến, khơi gợi sự tự hào về các giá trị văn hoá tộc người, gây dựng sự tự tin trong chính bản thân của cá nhân và tộc người thiểu số, thì ngoài việc tăng cường giảm thiểu định kiến tộc người ở ngoài xã hội, cần phải có các chính sách, chương trình khuyến khích và thúc đẩy người dân tự khám phá, nhìn nhận và đánh giá lại các giá trị văn hoá - xã hội và hệ thống tri thức địa phương của họ, v.v..

Quang cảnh buổi lễ bảo vệ

Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc và đánh giá cao về mặt lý luận, thực tiễn. Qua đó có thể làm tài liệu tham khảo, cung cấp thêm luận cứ khoa học cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu có thêm cơ sở lý luận cần thiết góp phần vào việc hoàn thiện các định hướng chính sách nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa vô cùng phong phú của các dân tộc. Dự kiến đề tài sẽ được in thành sách và ra mắt bạn đọc trong thời gian tới./.

 

PV.

 

Các tin đã đưa ngày: