Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • left_banner_nghiencuu (1)
  • 3.1 top logo - tin tuc hoat dong khoa hoc

Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu văn bản, biên dịch dân ca nghi lễ và truyện thơ Nôm dân tộc Tày (tập 20 và tập 21)” nghiệm thu đạt loại xuất sắc

16/05/2019

Chiều ngày 15/5/2019, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức nghiệm thu cấp Bộ đề tài “Nghiên cứu văn bản, biên dịch dân ca nghi lễ và truyện thơ Nôm dân tộc Tày (tập 20 và tập 21)” do PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm là cơ quan chủ trì, đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt loại xuất sắc.

Chủ tịch và các ủy viên phản biện của Hội đồng nghiệm thu đề tài <br> PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh báo cáo kết quả nghiên cứu trước Hội đồng nghiệm thu

Trong kho tàng văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và đặc biệt là các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, có nhiều văn bản ghi chép về dân ca nghi lễ (Hát đám cưới, Then và Then cấp sắc, v.v...) và các truyện thơ Nôm của dân tộc Tày, v.v...; đây là những loại hình văn học nghệ thuật có từ lâu đời trong đời sống văn hóa của các dân tộc Tày ở các vùng miền núi phía Bắc của nước ta, rất cần được nghiên cứu khai thác, giới thiệu nhằm phát huy và bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung. Hát đám cưới, Then, và truyện thơ Nôm thất ngôn trường thiên, v.v.... của dân tộc Tày là những tư liệu rất có giá trị trong nghiên cứu đời sống văn hóa nghệ thuật không chỉ riêng của người Tày, mà còn là di sản văn hóa nghệ thuật truyền thống Việt Nam nói chung.

Kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện đang lưu trữ khá nhiều văn bản chữ viết của các dân tộc thiểu số Việt Nam, nên việc triển khai đề tài rất thuận lợi. Vận dụng phương pháp văn bản học và phương pháp phiên dịch học (hay còn gọi là thông diễn học), tiếp thu thành tựu lý thuyết về nghiên cứu liên ngành; đề tài đã tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản là nghiên cứu văn bản, biên dịch dịch dân ca nghi lễ và truyện thơ Nôm dân tộc Tày, góp phần nghiên cứu giới thiệu nét văn hóa của người Tày xưa.

Đề tài chọn đối tượng là nghiên cứu văn bản, biên dịch dịch dân ca nghi lễ và truyện thơ Nôm dân tộc Tày với lý do: Trước hết, tập trung nghiên cứu văn bản, biên dịch dân ca nghi lễ viết bằng chữ Nôm của dân tộc Tày (Hát đám cưới, Then và Then cấp sắc) và ý nghĩa của nó trong đời sống văn hóa dân tộc Tày; còn truyện thơ Nôm Tày, đề tài chọn 4 truyện (có thể là 4 truyện cuối) để cho trọn bộ Tổng tập truyện thơ Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam (đã xuất bản 19 tập). Do vậy, trong hai năm (2017 - 2018), đề tài triển khai thực hiện các nội dung sau đây:

Chương 1. Nghiên cứu văn bản Hát đám cưới dân tộc Tày

Tập trung khảo cứu văn bản Hát đám cưới viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại kho sách của Nghiên cứu Hán Nôm gồm các văn bản với những kí hiệu ST.2195; VNb.160; VNb.166; VNv.609; VNv.674; VNv.683; VNv.695. Trong phần này, đã tiến hành khảo sát, so sánh và đối chiếu các văn bản Hát đám cưới, xác định thiện bản (bản ST. 2195); xác định các cung hát, bài hát trong hai giai đoạn thử thách và thủ tục trong đám cưới của người Tày; nêu một số giá trị nội dung các văn bản Hát đám cưới trong đời sống văn hóa dân tộc Tày.

Phiên âm Tày, biên dịch theo thể thất ngôn văn bản Hát đám cưới chữ Nôm Tày, 260 trang, cùng in bản photocopy văn bản Hát đám cưới kèm theo.

Chương 2. Nghiên cứu văn bản Then và Then cấp sắc dân tộc Tày

Tập trung khảo sát các văn bản Then và Then cấp sắc được viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại Nghiên cứu Hán Nôm gồm các văn bản với những ký hiệu: NVB.1; Nc.50; VNb.167; VNv.679; VNv.667; VNv.669; VNv.670; VNv. 671; VNv.677; VNv.606; VNv.681; ST.557; ST.2180; ST.2208; ST.2199; ST.8725; ST.2170; ST.2201; ST.2191; ST.2156; ST.2246; ST.2203; ST.2227. Tập trung nghiên cứu các văn bản Then cấp sắc với các ký hiệu: NVB.1; VNv.671; NC.50; ST.2227; ST.2201; ST.557. Trong phần này, đã tiến hành khảo sát các văn bản Then nói chúng và Then cấp sắc nói riêng, xác định số lượng và thiện bản Then cấp sắc (bản NVB.1), xác dịnh các cung hát, bài hát trong “đường then” cấp sắc, nêu một số giá trị nội dung các văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa dân tộc Tày.

Phiên âm Tày, biên dịch theo thể thất ngôn văn bản Then cấp sắc chữ Nôm Tày, 374 trang, cùng in bản photocopy văn bản Then cấp sắc kèm theo.

Chương 3. Nghiên cứu văn bản truyện thơ Nôm dân tộc Tày

Tập trung nghiên cứu văn bản, biên dịch và giới thiệu giá nội dung 4 truyện thơ viết bằng chữ Nôm của dân tộc Tày hiện lưu trữ tại Nghiên cứu Hán Nôm, gồm các tác phẩm Thôi Văn Thụy (ký hiệu VNv.693), Tần Chu (ký hiệu VNv.592, VNv.593, VNv. 594, VNv. 595, xác định thiện bản VNv.592), Kim Sinh (ký hiệu ST.2217) và Đính Chi (ký hiệu ST.2270); góp phần giới thiệu truyện thơ Nôm Tày nói riêng và văn học các dân tộc thiểu số nói chung. Tiến hành so sánh một số truyện thơ Nôm dân tộc Tày với truyện thơ Nôm của dân tộc Kinh.

Phiên âm Tày, biên dịch theo thể thất ngôn 4 truyện thơ Nôm Tày, 398 trang, cùng in bản photocopy 4 văn bản truyện thơ Nôm Tày kèm theo.

Chữ viết cổ truyền các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phong phú và đa dạng về nguồn gốc, về cơ sở tự dạng, về mức độ phổ biến. Đồng thời với sự đa dạng về các chữ viết là sự phong phú về các văn bản viết trên các vật liệu khác nhau. Đây là những văn bản ghi chép về lịch sử, sáng tác văn học nghệ thuật, quá trình di cư, bảo vệ và dựng xây của một dòng họ, địa phương, hay cả tộc người; về những kinh nghiệm sản xuất, chiến đấu, luật tục, phong tục, nghi lễ, tang ma, những bài cúng, các bản dân ca, hát giao duyên,...; là nguồn tài liệu giá trị để nghiên cứu lịch sử, văn hóa, xã hội của mỗi địa phương, của mỗi tộc người và của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Quang cảnh buổi lễ bảo vệ đề tài

Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc và đánh giá cao về mặt lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở các kết quả nghiên, đề tài đề xuất 5 phương hướng nhằm thúc đẩy việc bảo tồn và phát huy giá trị của các văn bản Nôm của dân tộc Tày như sau: Một là: Tiếp tục các công tác sưu tầm, phiên âm, dịch nghĩa và nghiên cứu các văn bản viết bằng chữ Nôm Tày. Hai là: Xây dựng các loại từ điển chữ Nôm Tày, vì công tác nghiên cứu và phiên dịch chữ Nôm Tày trong các văn bản Nôm Tày nói chung không thể thiếu các công cụ tra cứu. Ba là: Áp dụng công nghệ tin học vào việc quản lý khai thác các văn bản Nôm Tày, đây là cách bảo quản và lưu trữ tiên tiến, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, trao đổi trong xu hướng toàn cầu hoá. Bốn là: Công tác đào tạo đội ngũ những người đọc hiểu chữ Nôm Tày là khâu then chốt. Năm là: Tiến hành tuyên truyền, giới thiệu các văn bản Nôm Tày thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

Đề tài sẽ được in thành sách và ra mắt bạn đọc trong thời gian tới./.

P.V.

 

Các tin đã đưa ngày: