Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
  • Thư viện điện tử và kho tin
  • Đề tài nghiên cứu cấp bộ
  • Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
  • Tham khảo tạp chí
  • Sách toàn văn
  • Thư điện tử
  • Chính phủ
  • bkt - chu tich
  • 3.5 top logo - tin hoi nghi hoi thao

Hội thảo khoa học quốc tế “Khoa cử Nho học Việt Nam (1075 – 1919) – 100 năm nhìn lại”

17/08/2019

100 năm trước, khoa thi Tiến sĩ cuối cùng diễn ra, đánh dấu sự kết thúc của nền khoa cử Nho học Việt Nam kéo dài suốt 844 năm (tính từ khoa Tam trường Ất Mão tuyển Minh kinh bác học năm Thái Ninh thứ tư (1075) vua Lý Nhân Tông triều Lý đến năm Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định năm thứ tư (1919) triều Nguyễn). Nhân mốc thời gian này, ngày 15/08/2019, tại trụ sở số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc tế “Khoa cử Nho học Việt Nam (1075-1919) – 100 năm nhìn lại”. Hội thảo do Viện Hàn lâm chủ trì, Viện Sử học và Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp tổ chức, Viện Harvard-Yenching đồng tài trợ. Hội thảo có sự hiện diện của Giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm, chuyên gia hàng đầu về Việt Nam học tại Đại học Harvard với vai trò Chủ tọa. Cùng điều hành Hội thảo với Giáo sư Huệ Tâm còn có GS.TS. Phạm Văn Đức, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm; PGS.TS. Đinh Quang Hải, Viện trưởng Viện Sử học và TS. Nguyễn Tuấn Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Hội thảo quy tụ 62 nhà khoa học đến từ Mỹ, Đức, Pháp, Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, đến từ Viện Hàn lâm và các trung tâm, các cơ sở nghiên cứu và giảng dạy trên cả nước.

GS.TS. Phạm Văn Đức, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm phát biểu <br> khai mạc Hội thảo   Đoàn Chủ tọa điều hành Hội thảo <br></br>

Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS.TS. Phạm Văn Đức nhấn mạnh, đào tạo và tuyển chọn người tài để phục vụ đất nước, phục vụ xã hội luôn là trọng trách của mỗi quốc gia. Hiện nay Việt Nam đang coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Hệ thống giáo dục và thi cử ở Việt Nam trong những năm vừa qua đã liên tục được cải thiện, nâng cao cả về lượng và chất. Tuy nhiên ngành giáo dục còn vấp phải không ít vấn đề nan giải; có những giải pháp đến từ quá khứ lịch sử của dân tộc. Chính vì lẽ đó, Giáo sư Phó Chủ tịch khẳng định việc tổ chức Hội thảo lần này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Viện Hàn lâm đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa cử truyền thống theo chuyên môn hẹp và ở phạm vi rộng hơn chính là vấn đề đào tạo nhân tài, tức nguồn lực chất lượng cao cho đất nước để gánh vác trách nhiệm quốc gia, trách nhiệm xã hội ở Việt Nam từ xưa đến nay. Qua đó, Giáo sư mong muốn các nhà khoa học trong và ngoài nước tập trung làm rõ các giá trị văn hóa và lịch sử của chế độ khoa cử Nho giáo ở Việt Nam, xem xét mối quan hệ giữa khoa cử Việt Nam với khoa cử Đông Á thời xưa, cũng như giá trị và bài học kinh nghiệm của khoa cử Nho giáo Đông Á ngày xưa đối với nền giáo dục hiện đại ngày nay. Từ đó, góp phần gắn chặn nghiên cứu khoa học với công tác tư vấn cho Đảng và Nhà nước hoạch định các chính sách quản lí phù hợp trên lĩnh vực giáo dục và tuyển chọn nhân tài.

TS. Nguyễn Tuấn Cường, Viện trường Viện Nghiên cứu Hán Nôm <br>đọc Báo cáo đề dẫn Hội thảo   Giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm, Chuyên gia Việt Nam học, <br> Đại học Harvard diễn giảng chuyên đề tại Hội thảo

Trong Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo, TS. Nguyễn Tuấn Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tóm lược tiến trình phát triển của khoa cử Nho học, các giai đoạn manh nha, phát triển, đỉnh cao, thoái trào, cũng như ảnh hưởng sâu rộng của khoa cử Nho học trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Trong hơn 800 năm tồn tại, khoa cử Nho học Việt Nam đã khẳng định vị trí, vai trò trong việc đào tạo đội ngũ trí thức quan lại Nho học, có đóng góp to lớn trong suốt  tiến trình lịch sử trung đại Việt Nam. Khoa cử chính là một hình thức chủ yếu để tuyển dụng quan lại, mục đích tuyển chọn những người có đủ đức, đủ tài bổ sung cho bộ máy chính quyền nhà nước quân chủ. Việc thực thi giáo dục và khoa cử luôn tồn tại những quy định ngặt nghèo, bắt buộc các thí sinh phải vượt qua. Đã có gần 3.000 nhà khoa bảng được tuyển chọn từ các kỳ thi cấp quốc gia. Nền khoa cử cũng để lại một hệ thống văn miếu, văn bia, văn từ, văn chỉ…phong phú, đa dạng và đặc sắc từ trung ương đến các xã thôn. Giáo dục khoa cử tạo nên những “gia đình khoa bảng”, “dòng họ khoa bảng” với đặc điểm nổi bật là có nhiều người theo đuổi việc học hành và nối đời đỗ đạt, nhiều người cũng trở thành tấm gương tiêu biểu về tinh thần học tập. Nhiều học giả cũng đánh giá cao truyền thống văn hóa của người Việt có gốc nền giáo dục khoa bảng.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo

Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Cường nhấn mạnh, những thập niên đầu tiên của thế kỷ 20, sự thay đổi của lĩnh vực giáo dục đã gây ra những tác động sâu sắc nhất đến thượng tầng kiến trúc xã hội. Khoa cử Nho học với lịch sử 844 năm bắt rễ trong xã hội Việt Nam đã mất đi địa vị độc tôn của nó để thay thế bằng một hệ thống giáo dục kiểu mới, kéo theo sự lay chuyển của nền tảng tư tưởng, đạo đức, triết lý xã hội, và thực tiễn khoa học. Bản thân các nhà Nho cấp tiến của Việt Nam lúc đó đã nhận thấy sự lỗi thời của Khoa cử Nho học. Từ đó, họ chủ trương một phong trào Duy tân dựa trên những nguyên tắc giáo dục mới và ủng hộ những cải cách giáo dục sâu rộng diễn ra vào đầu thế kỷ 20 nhằm xóa bỏ lối cử nghiệp Nho học. Năm 1919 kỳ thi Hội cuối cùng diễn ra ở Trung Kỳ và Dụ ngày 14/7/1919 của vua Khải Định tuyên bố về việc áp dụng Luật giáo dục mới đã chính thức đặt dấu chấm hết cho Khoa cử Nho học truyền thống để chuyển sang hệ thống giáo dục kiểu mới, sau bước đệm là chương trình cải lương giáo dục khoa cử từ năm 1906.

Tuy nhiên, trên thực tế, ảnh hưởng của nền Khoa cử truyền thống ấy vẫn còn sâu đậm trong ý thức xã hội Việt Nam sau này. Việc trở lại với những giá trị Nho giáo từ đạo đức học đường tới tư tưởng quản trị xã hội vẫn thường xuyên được đặt ra, ngay cả khi nền giáo dục hiện đại đã tìm được chỗ đứng vững chắc của nó trong xã hội. Năm 2019 đánh dấu 100 năm khép lại khoa cử truyền thống. Mặc dù thiết chế chính thức của nền giáo dục Nho học bị bãi bỏ nhưng ảnh hưởng của nó dường như vẫn bám chặt vào mọi mặt đời sống xã hội nước ta.

Hội thảo nhận được 57 tham luận của 62 nhà khoa học trong và ngoài nước. Căn cứ vào nội dung chuyên môn của các tham luận, Ban Tổ chức đã chia thành 9 tiểu ban chuyên môn, diễn ra đồng thời tại 3 phòng Hội thảo (3D, 3A và 3E). Nhóm tiểu ban a (1a, 2a, 3a) được bố trí phiên dịch các thứ tiếng Việt, Anh, Nhật, Trung, gồm 17 tham luận, tập trung phân tích một số vấn đề chuyên sâu về khoa cử Việt Nam; đồng thời mở rộng so sánh với các nền khoa của ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan để học hỏi kinh nghiệm và tri thức của các học giả quốc tế. Nhóm tiểu ban b (1b, 2b, 3b) gồm 20 tham luận, tập trung thảo luận vấn đề khoa cử với sinh hoạt làng xã, sự kết thúc của khoa cử, tư liệu khoa cử và trường thi. Nhóm tiểu ban c (1c, 2c, 3c) gồm 20 tham luận theo chủ đề lịch sử khoa cử Việt Nam thế kỷ XV – XVI; lịch sử khoa cử Việt Nam thế kỷ XVII – XX và kết thúc bằng vấn đề văn hóa khoa cử. Cuối mỗi phiên tiểu ban là thời lượng thảo luận tổng thể trên tinh thần khách quan, đối thoại trực tiếp của các nhà khoa học.

GS.TSKH. Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học, <br> Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại Hội thảo   GS. Wynn Gadkar-Wilcox, Đại học Western Connecticut State, <br>Hoa Kỳ trình bày tham luận tại Hội thảo
GS. Wi-vun Chiung, Đại học Quốc lập Thành Công, Đài Loan trình bày tham luận tại Hội thảo

Hội thảo đã nhận được nhiều tham luận có giá trị cũng như nhiều ý kiến đóng góp có giá trị. Nhiều học giả tham dự Hội thảo đánh giá cao truyền thống văn hóa của người Việt có gốc từ nền giáo dục khoa bảng. Mặc dù nền khoa cử đã kết thúc 100 năm trước, nhưng ảnh hưởng của nền khoa cử truyền thống ấy vẫn còn đậm nét trong ý thức xã hội Việt Nam sau này. Theo thống kê trên các phương diện, trong ngôn ngữ tiếng Việt có khoảng gần 40% là từ Hán Việt. Từ đó, có ý kiến cho rằng đã đến lúc cần dạy cho giới trẻ nghĩa của từ nguyên (chữ Hán). Ngoài ra, các nghiên cứu về khoa cử Nho học Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa trên các tài liệu ghi chép lịch sử, do đó tập trung nhiều vào nghiên cứu thể chế khoa cử. Tuy nhiên, còn hai nguồn tài liệu rất phong phú khác là Sách giáo khoa cho sĩ tử và bài thi của các sĩ tử còn chưa được đầu tư khai thác. Qua đó, TS. Nguyễn Tuấn Cường gợi mở một hướng nghiên cứu mới cho lĩnh vực nghiên cứu khoa cử truyền thống, đó là Đời sống khoa cử. Tiến sỹ mong muốn trong tương lai sẽ nhận được nhiều những công trình nghiên cứu có giá trị về mảng đề tài này.

Có thể nói, Hội thảo khoa học quốc tế “Khoa cử Nho học Việt Nam (1075 – 1919) – 100 năm nhìn lại” thực sự là một diễn đàn học thuật chất lượng cao về một giai đoạn lịch sử tuyển chọn nhân tài ở Việt Nam từ góc độ khoa cử, lịch sử, Hán Nôm, văn hóa của các chuyên gia trong nước và quốc tế. Đây còn là một cơ hội tốt nhằm trao đổi chuyên sâu về các vấn đề giáo dục và thi cử từ truyền thống đến hiện đại trong khu vực Đông Á.  Từ kết quả nghiên cứu, các nhà  khoa học đề xuất các giải pháp, tư vấn cho Đảng, Nhà nước hoạch định các chính sách trên lĩnh vực giáo dục và tuyển chọn nhân tài cho đất nước.  

Hồng Nhung

 

Các tin đã đưa ngày: