Phát triển nông nghiệp hữu cơ tại tỉnh Hà Giang và Yên Bái (sách chuyên khảo)
Phát triển nông nghiệp hữu cơ tại tỉnh Hà Giang và Yên Bái (sách chuyên khảo)
Hà Giang và Yên Bái là hai tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, có điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất và khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hữu cơ nói riêng.
Theo số liệu của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang và Yên Bái cho thấy, diện tích canh tác theo hướng hữu cơ của tỉnh ngày càng tăng, đặc biệt là tại Hà Giang, nơi có diện tích cây trồng có khoảng 1.920 ha chè (cây công nghiệp lâu năm); Yên Bái có 500ha quế (cây lâm nghiệp/cây dược liệu)…Tuy nhiên, các địa phương này cũng đang còn phải gặp nhiều khó khăn, thách thức khi mở rộng loại hình nông nghiệp hữu cơ do có những yếu tố cả khách quan và chủ quan tác động, nhất thiết cần có các nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng, phân tích các nguyên nhân thành công và cả những hạn chế nhằm tìm ra các giải pháp thúc đẩy loại hình nông nghiệp này ngày càng được mở rộng trong tương lai.
Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của bạn đọc về vấn đề này, tháng 10/2024, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội đã phát hành chuyên khảo “Phát triển nông nghiệp hữu cơ tại tỉnh Hà Giang và Yên Bái”, ấn phẩm do TS. Phạm Thị Trầm, Viện Địa lý Nhân văn chủ biên, đây cũng chính là kết quả của đề tài cấp Bộ cùng tên do TS. Phạm Thị Trầm làm chủ nhiệm, nghiệm thu đạt loại xuất sắc. Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, cuốn sách được kết cấu thành các chương như sau:
Chương 1: Một số khái niệm và lý thuyết về phát triển nông nghiệp hữu cơ
Chương 2:Tổng quan các nghiên cứu và thực tiễn phát triển nông nghiệp hữu cơ
Chương 3: Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ ở các tỉnh Hà Giang, Yên Bái
Chương 4: Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ ở các tỉnh Hà Giang, Yên Bái
Thông qua các nội dung được trình bày, nhóm tác giả cho biết, Hà Giang và Yên Bái thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc. Trên cơ sở thuận lợi về khí hậu, hai tỉnh này còn có lợi thế cạnh tranh về mặt tài nguyên thiên nhiên, Hà Giang và Yên Bái đã triển khai nghị định và đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ, trong đó xác định các cây chủ lực để phát triển chính là chè và quế, thu hút được các doanh nghiệp trên địa bàn phát triển nông nghiệp hữu cơ, nhờ vậy, nhận thức về nông nghiệp hữu cơ của người nông dân bản địa được tăng lên rõ rệt. Đây chính là cơ sở để Hà Giang và Yên Bái có thể mở rộng và phát triển nông nghiệp hữu cơ theo những hướng tiếp cận mới gắn với sản vật địa phương.
Qua phân tích, nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng mặc dù đạt được những lợi thế nhất định trong phát triển chè và quế theo hướng hữu cơ nhưng Hà Giang và Yên Bái vẫn có sự chồng chéo trong việc sản xuất giữa các vùng nguyên liệu do chưa có sự tham gia chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước, trình độ canh tác hữu cơ của người nông dân còn chưa đáp ứng được các yêu cầu về quy trình canh tác và sản xuất; liên kết giữa các doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân còn lỏng lẻo; năng suất cây trồng và giá sản phẩm hữu cơ còn chưa cao; chế biến và tiêu thụ sản phẩm còn nhiều bất cập; sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ phát triển nông nghiệp hữu cơ chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.
Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển cây quế và chè hữu cơ tại Hà Giang và Yên Bái, nhóm tác giả đã đề xuất được một số kiến nghị liên quan đến việc cần nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cấp chính quyền và người dân về ý nghĩa và vai trò của phát triển nông nghiệp hữu cơ đối với việc đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm an toàn cho sức khỏe con người và bảo vệ môi trường. Tiếp theo là cần có cơ chế chính sách để các cơ quan, ban ngành chức năng có liên quan tham gia và chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động, quy trình sản xuất hữu cơ, quản lý các chứng chỉ hữu cơ được cấp tại địa phương. Theo đó, cũng cần nhanh chóng thành lập các cơ quan, bộ phận chuyên trách để quản lý, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ ở các cấp chính quyền. Đồng thời, xây dựng kèm theo đó là các chức năng, nhiệm vụ cụ thể để các cơ quan, bộ phận này có thể triển khai, đảm đương trách nhiệm. Tiếp nữa là cần xây dựng quy hoạch, kế hoạch chi tiết về phát triển nông nghiệp hữu cơ tại địa phương trên cơ sở tận dụng các lợi thế cạnh tranh về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các giống bản địa và phương thức canh tác truyền thống phù hợp với yêu cầu canh tác hữu cơ tại địa phương nhằm phát triển hơn nữa các lợi thế cạnh tranh vốn có và cuối cùng là cần xây dựng cơ chế liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Trong đó có các cơ chế về xử phạt tài chính để sử dụng trong việc giải quyết các vi phạm liên kết, trong đó làm nổi bật vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương trong việc tham gia bảo vệ các mối liên kết giữa các chủ thể sản xuất...
Có thể khẳng định cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu nghiêm túc được tác giả tham khảo, phân tích và tổng hợp dựa các nguồn tư liệu uy tín. Với những nội dung được phân tích sắc sảo, hy vọng cuốn sách sẽ cung cấp nguồn thông tin tham khảo bổ ích cho độc giả, những người quan tâm tới vấn đề này.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc./.
Phạm Vĩnh Hà